Tác động của các nhân tố nội tại và vĩ mô đến tăng trưởng tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ NỘI TẠI VÀ  
VĨ MÔ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG TẠI CÁC  
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM  
Nguyễn Bá Hoàng  
Trường Đại học Văn Hiến  
Ngày nhận bài: 17/04/2019, Ngày duyệt đăng: 07/09/2019  
Tóm tắt  
Bài nghiên cứu tiến hành điều tra mối quan hệ giữa các nhân tố nội tại và vĩ mô đối  
với tăng trưởng tín dụng tại các Ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam. Nghiên cứu áp  
dụng bốn phương pháp kinh tế lượng bao gồm: mô hình Pooled OLS, mô hình ảnh hưởng  
cố định (FEM), mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM) và mô hình ước lượng bình  
phương tối thiểu tổng quát (GLS) kết hợp dữ liệu bảng cân bằng của 23 NHTM Việt Nam  
trong giai đoạn 2010-2017. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng tăng trưởng tín dụng có  
tương quan với các nhân tố nội tại và vĩ mô. Các phát hiện này hỗ trợ các nhà quản lý  
ngân hàng và các nhà hoạch định chính sách trong việc thúc đẩy tăng trưởng tín dụng của  
các NHTM Việt Nam trong tương lai.  
Từ khóa: tăng trưởng tín dụng, nhân tố nội tại, nhân tố vĩ mô, ngân hàng thương mại  
Việt Nam.  
The impacts of bank-specific factors and macroeconomic determinants on credit  
growth in Vietnamese commercial banks  
Abstract  
This study investigates the relationship between several bank-specific factors and  
macroeconomic determinants and credit growth in Vietnamese commercial banks. This  
research applies four econometric method including Pooled OLS, Fixed effects model  
(FEM), Random effects model (REM), and Generalized Least Square (GLS) model which  
are employed with balanced panel data on 23 domestic commercial banks, using annual  
data for the period of 2010 to 2017. The results of research reveal that credit growth of  
commercial banks had relationships with both bank-specific factors and macroeconomic  
determinants. These findings can support bank managers and policy makers in enhancing  
the credit growth of Vietnamese commercial banks in the future.  
Keywords: credit growth, bank-specific factors, macroeconomic determinants,  
Vietnamese commercial banks.  
24  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
1. Đặt vấn đề  
với mẫu 84 NHTM Việt Nam được thu  
thập theo 3 quý trong năm 2011. Tuy  
nhiên, với sự khác biệt về bối cảnh nghiên  
cứu bao gồm: vị trí địa lý, cấu trúc hệ  
thống tài chính của các quốc gia, đặc thù  
của các ngân hàng và giai đoạn nghiên  
cứu, có thể dẫn đến các kết quả nghiên cứu  
khác nhau. Chính vì vậy, việc nghiên cứu  
ảnh hưởng của đồng thời hai nhóm nhân tố  
nội tại và vĩ mô đến tăng trưởng tín dụng  
bằng mẫu 23 NHTM Việt Nam trong giai  
đoạn 2010 – 2017 là cần thiết. Bên cạnh  
đó, việc vận dụng đồng thời các kỹ thuật  
Njanike (2009) khẳng định rằng vai  
trò truyền thống của các NHTM là cho vay  
và các khoản cho vay đó chiếm phần lớn  
tài sản của ngân hàng. Hoạt động tín dụng  
nói chung và hoạt động cho vay nói riêng  
góp phần tạo nên nguồn thu nhập chủ yếu  
của các ngân hàng (Mark Swinburne,  
2007). Tăng trưởng tín dụng là việc các  
NHTM sử dụng các chính sách nhằm tăng  
nguồn vốn huy động, đáp ứng cho việc cấp  
tín dụng, chiết khấu, đầu tư vào những đối  
tượng là các tổ chức kinh tế, cá nhân… có  
nhu cầu vay vốn, từng bước nâng cao lợi  
nhuận, thị phần và thương hiệu trên thị  
trường (Trần Huy Hoàng, 2009). Đối với  
hệ thống NHTM Việt Nam, lãi từ tín dụng  
là nguồn thu chủ yếu của các NHTM. Vì  
vậy, hoạt động tín dụng đóng vai trò hết  
sức quan trọng đối với các ngân hàng.  
Tăng trưởng tín dụng là vấn đề mà các  
NHTM rất quan tâm bởi tăng trưởng tín  
dụng một cách hợp lý và chất lượng sẽ tạo  
ra nguồn thu nhập ổn định và an toàn cho  
mô hình  
ước lượng dữ liệu bảng bao gồm:  
OLS (Pooled OLS), mô hình hiệu ứng cố  
định (Fixed Effect Model – FEM), mô  
hình hiệu ứng ngẫu nhiên (Random Effect  
Model – REM) và mô hình bình phương  
tối thiểu tổng quát (GLS) giúp khắc phục  
các khuyết tật của mô hình và gia tăng tính  
vững cho các kết quả ước lượng là  
một  
trong những đóng góp chính của tác giả  
trong bài nghiên cứu.  
2. Khung phân tích  
Nguyễn Thùy Dương và  
các ngân hàng (  
2.1. Lược khảo các nghiên cứu trước  
về ảnh hưởng của các yếu tố nội tại và vĩ  
mô đến tăng trưởng tín dụng ngân hàng  
Imran và Nishat (2013) đã thực hiện  
nghiên cứu xem xét các yếu tố ảnh hưởng  
đến tăng trưởng tín dụng của các ngân  
hàng ở Pakistan trong giai đoạn 1971–  
2008. Nghiên cứu tập trung vào phía cung  
(các yếu tố liên quan đến việc phục vụ của  
tiền của ngân hàng) thông qua sử dụng các  
tỷ lệ tăng trưởng trong tín dụng ngân hàng  
cung cấp cho khu vực tư nhân làm biến  
phụ thuộc, trong khi các biến nghiên cứu  
độc lập bao gồm: tỷ lệ tăng trưởng của các  
khoản nợ nước ngoài, tăng trưởng tiền gửi  
trong nước, lãi suất thị trường, mức cung  
tiền, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, lạm phát và  
Trần Hải Yến, 2011)  
.
Tranh luận về các yếu tố ảnh hưởng  
đến tăng trưởng tín dụng của các NHTM  
nhận được nhiều sự quan tâm của nhà  
nghiên cứu trong và ngoài nước như:  
Imran và Nishat (2013) đã thực hiện  
nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố nội  
tại và vĩ mô đến tăng trưởng tín dụng của  
các ngân hàng ở Pakistan giai đoạn 1971 –  
2008, Sharma và Gounder (2012) nghiên  
cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng  
tín dụng của các NHTM ở 6 nền kinh tế  
thuộc khu vực Nam Thái Bình Dương giai  
đoạn 1982 – 2009, Nguyễn Thùy Dương  
và Trần Hải Yến (2011) nghiên cứu các  
yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng tín dụng  
25  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
tỷ giá hối đoái. Kết quả nghiên cứu đã chỉ  
ra rằng các khoản nợ nước ngoài, tăng  
trưởng tiền gửi trong nước, tăng trưởng  
kinh tế, tỷ giá hối đoái có tác động đáng kể  
đến tăng trưởng tín dụng ngân hàng ở  
Pakistan. Bên cạnh đó, kết quả cũng cho  
thấy tỷ lệ lạm phát và lãi suất của thị  
trường không ảnh hưởng đến tăng trưởng  
tín dụng của ngân hàng.  
các nhân tố ảnh hưởng tới tăng trưởng tín  
dụng của NHTM tại một số quốc gia có  
nền kinh tế mới nổi Châu Âu. Kết quả  
nghiên cứu đã chứng minh được có một số  
nhân tố ảnh hưởng khá rõ ràng tới tăng  
trưởng tín dụng như tốc độ tăng trưởng  
kinh tế, tính chất sở hữu của ngân hàng,  
khả năng thanh khoản và chênh lệch giữa  
lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi.  
Sharma và Gounder (2012) nghiên  
cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng  
tín dụng của các NHTM ở 6 nền kinh tế  
thuộc khu vực Nam Thái Bình Dương  
trong giai đoạn 1982 – 2009. Kết quả  
nghiên cứu cho thấy mức lãi suất cho vay  
và tỷ lệ lạm phát có tác động tiêu cực đến  
tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng,  
trong khi tăng trưởng tiền gửi và quy mô  
tài sản của ngân hàng có tác động tích cực  
đến tăng trưởng tín dụng. Bên cạnh đó, kết  
quả cũng cho thấy sự tăng trưởng kinh tế  
mạnh mẽ dẫn đến tốc độ tăng trưởng cao  
hơn trong tín dụng.  
Guo và Stepanyan (2011) thực hiện  
nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tăng  
trưởng tín dụng của các NHTM ở các nền  
kinh tế mới nổi trong giai đoạn 2001–  
2010. Nghiên cứu sử dụng tín dụng cấp  
cho khu vực tư nhân là biến phụ thuộc và  
các biến độc lập bao gồm: các khoản nợ  
nước ngoài của các ngân hàng, khối lượng  
tiền gửi trong nước, tỷ lệ lạm phát, GDP  
thực, lãi suất tiền gửi, tỷ giá hối đoái, nợ  
xấu, và cung tiền. Kết quả cũng chỉ ra rằng  
các nguồn tài chính trong và ngoài nước  
góp phần tích cực vào việc tăng trưởng tín  
dụng của ngân hàng. Nghiên cứu cũng  
phát hiện ra tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ  
dẫn đến sự gia tăng trong tỷ lệ tăng trưởng  
tín dụng của ngân hàng.  
Nguyễn Thùy Dương và Trần Hải Yến  
(2011) đã thực hiện nghiên cứu các nhân tố  
ảnh hưởng đến tăng trưởng tín dụng tại các  
NHTM Việt Nam. Với dữ liệu bao gồm báo  
cáo tài chính của 84 NHTM được thu thập  
theo 3 quý trong năm 2011, kết quả nghiên  
cứu đã chỉ ra được tốc độ tăng trưởng huy  
động vốn, khả năng thanh khoản có tác  
động tích cực đến tăng trưởng tín dụng của  
các NHTM, ngược lại chênh lệch lãi suất  
bình quân có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng  
trưởng tín dụng của các NHTM  
.
Trương Đông Lộc và Nguyễn Văn  
Thép (2015) nghiên cứu các nhân tố ảnh  
hưởng đến tăng trưởng tín dụng tại các quỹ  
tín dụng nhân dân khu vực Đồng bằng  
sông Cửu Long. Với dữ liệu thu thập từ  
155 quỹ tín dụng nhân dân trong khoảng  
thời gian 2012 – 2013, kết quả nghiên cứu  
cho thấy tốc độ tăng trưởng tín dụng của  
các quỹ tín dụng nhân dân chịu ảnh hưởng  
bởi các nhân tố như: tăng trưởng vốn huy  
động, vốn chủ sở hữu, tỷ lệ nợ xấu, quy  
mô tài sản, tốc độ tăng trưởng kinh tế và  
lạm phát.  
Qua lược khảo các nghiên cứu trong  
và ngoài nước liên quan đến chủ đề, tác giả  
nhận thấy các nhân tố ảnh hưởng đến tăng  
trưởng tín dụng của các NHTM có thể chia  
thànhhai nhóm nhân tố chính bao gồm:  
nhóm nhân tố nội tại (Tỷ lệ vốn huy động,  
Tỷ lệ nợ xấu, Tỷ lệ vốn chủ sở hữu, Tỷ lệ  
Tamirisa và Igan (2007) đã phân tích  
26  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
thanh khoản, Quy mô ngân hàng) và nhóm  
nhân tố vĩ mô (Lãi suất, Tăng trưởng  
GDP, Tỷ lệ lạm phát). Khung phân tích  
của bài nghiên cứu được tổng hợp như sau:  
Hình 1. Khung phân tích  
2.2. Khái quát các yếu tố ảnh hưởng  
đến tăng trưởng tín dụng ngân hàng  
Tăng trưởng tín dụng là việc các  
NHTM sử dụng các chính sách nhằm tăng  
nguồn vốn huy động, đáp ứng cho việc cấp  
tín dụng, chiết khấu, đầu tư vào những đối  
tượng là các tổ chức kinh tế, cá nhân… có  
nhu cầu vay vốn, từng bước nâng cao lợi  
nhuận, thị phần và thương hiệu trên thị  
trường (Trần Huy Hoàng, 2009).  
Qua lược khảo các nghiên cứu trước,  
có thể nhận thấy tăng trưởng tín dụng của  
ngân hàng chịu ảnh hưởng bởi hai nhóm  
yếu tố chính, bao gồm: các yếu tố nội tại  
của ngân hàng, và các yếu tố vĩ mô của  
nền kinh tế.  
sinh lời và mở rộng hoạt động động kinh  
doanh. Lượng vốn dồi dào sẽ giúp ngân  
hàng có khả năng cho vay nhiều hơn, từ đó  
tăng được dư nợ, giúp ngân hàng kiếm  
được lợi nhuận nhiều hơn.  
Thanh khoản của ngân hàng  
Thanh khoản là khả năng ngân hàng  
đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ tài  
chính phát sinh trong quá trình hoạt động  
kinh doanh như chi trả tiền gửi, cho vay,  
thanh toán và các giao dịch tài chính khác,  
vấn đề thanh khoản là vấn đề thường nhật,  
cho nên một trong những nhiệm vụ quan  
trọng hàng đầu đối với nhà quản lý ngân  
hàng là đảm bảo khả năng thanh khoản  
một cách thường xuyên liên tục và đầy đủ.  
Nợ xấu  
2.2.1. Các yếu tố nội tại  
Huy động vốn  
Nợ xấu là các khoản cấp tín dụng cho  
khách hàng được phân loại từ nhóm 3 trở  
lên theo thang xếp hạng gồm 5 nhóm của  
NHNN Việt Nam, nợ xấu ảnh hưởng đến  
ngân hàng trên hai phương diện là kế  
hoạch sử dụng vốn và khó khăn trong quản  
lý thanh khoản. Trong trường hợp khách  
hàng mất khả năng trả nợ gốc và/ hoặc lãi  
buộc ngân hàng phải thanh lý tài sản đảm  
bảo để thu nợ, làm tăng chi phí nợ khó đòi  
Trong các nguồn vốn thì nguồn vốn  
huy động đóng vai trò quan trọng  
nhất,không những về mặt tỷ trọng (khoảng  
70%) mà còn về mặt chất lượng nguồn vốn  
như tính ổn định về số dư, ổn định về kỳ  
hạn bình quân, lãi suất huy động thường  
thấp hơn so với đi vay. Nguồn vốn huy  
động có vai trò rất quan trọng đối với kinh  
doanh ngân hàng, quyết định khả năng  
27  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
và chi phí giám sát, đồng thời làm giảm  
nguồn vốn cho vay của ngân hàng.  
khó khăn trong việc huy động vốn để cho  
vay, tăng nguy cơ rủi ro thanh khoản và rủi  
ro tín dụng ảnh hưởng đến tình hình tăng  
trưởng tín dụng của ngân hàng.  
Quy mô ngân hàng  
Quy mô ngân hàng là nhân tố quyết  
định đặc trưng danh mục cho vay, các ngân  
hàng lớn thường thiên về cho vay bán buôn  
hơn là bán lẻ. Bán buôn là việc ngân hàng  
cho các doanh nghiệp lớn vay những khoản  
tiền lớn. Như vậy, cho vay bán buôn có đặc  
điểm là số món ít, nhưng mỗi món lại có  
giá trị cao. Bán lẻ là việc ngân hàng cho  
các cá nhân, hộ gia đình và công ty nhỏ vay  
những khoản tiền nhỏ. Như vậy, cho vay  
bán lẻ có đặc trưng là số món nhiều nhưng  
giá trị mỗi món lại thấp. Điều này cho thấy  
khi quy mô ngân hàng càng lớn khả năng  
tăng trưởng tín dụng càng cao.  
Lãi suất  
Ngân hàng là một trong số những phát  
minh có ý nghĩa rất quan trọng. Với chìa  
khóa trong tay là lãi suất, các NHTM đóng  
vai trò rất quan trọng trong việc huy động  
nguồn vốn nhàn rỗi từ các hộ gia đình, các  
doanh nghiệp, các tổ chức khác trong nền  
kinh tế để phân bổ đến nơi thiếu vốn, đang  
cần vốn để mở rộng sản xuất hoặc để phục  
vụ cho nhu cầu tiêu dùng. Để hoạt động  
hiệu quả, các NHTM cần phải đặt ra các  
mức lãi suất huy động và lãi suất cho vay  
hợp lý. Lãi suất huy động không được quá  
thấp vì như thế sẽ không khuyến khích dân  
chúng gửi tiền vào ngân hàng. Kết quả là  
NHTM gặp khó khăn trong việc huy động  
vốn để cho vay. Một mức lãi suất huy  
động hợp lý sẽ giúp các NHTM huy động  
được nguồn vốn nhàn rỗi từ dân chúng. Lãi  
suất cho vay của NHTM phải cao hơn lãi  
suất huy động và phải bù đắp được các chi  
phí cũng như rủi ro khác. Tuy nhiên, lãi  
suất cho vay không được quá cao vì như  
thế các doanh nghiệp, các hộ gia đình sẽ  
tìm các phương án thay thế khác thay vì  
phải vay tiền từ ngân hàng. Như vậy, các  
NHTM sẽ gặp khó khăn trong vấn đề cho  
vay. Một mức lãi suất cho vay hợp lý đủ  
để bù đắp các chi phí, rủi ro nhưng vẫn  
đảm bảo khả năng vay vốn cho các doanh  
nghiệp, các hộ gia đình sẽ giúp các NHTM  
thu hút được nhiều khách hàng,đóng góp  
vào quá trình phân bổ vốn hiệu quả cho  
nền kinh tế.  
2.2.2. Các yếu tố vĩ mô  
Tốc độ tăng trưởng kinh tế  
GDP là chỉ tiêu đại diện cho sự phát  
triển của nền kinh tế. Khi GDP tăng cao,  
đồng nghĩa với việc nền kinh tế phát triển  
mạnh, thì nhu cầu về tín dụng để đầu tư  
cũng tăng cao. Vì vậy mà tăng trưởng tín  
dụng của các NHTM cũng tăng cao.  
Ngược lại, khi GDP tăng trưởng thấp đồng  
nghĩa với việc nền kinh tế rơi vàosuy thoái,  
hoạt động kinh doanh khó khăn khiến  
nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng đình  
trệ hoặc phá sản khiến nợ xấu của ngân  
hàng tăng cao, ảnh hưởng xấu đến tăng  
trưởng tín dụng. Như vậy, GDP có tác  
động thuận chiều đến tăng trưởng tín dụng.  
Lạm phát  
Khi nền kinh tế trong tình trạng lạm  
phát cao, nếu không có chính sách lãi suất  
thực dương, thì người dân có xu hướng  
chạy trốn khỏi tiền mặt, thay vào đó nắm  
giữ tài sản thực, điều này khiến cho tỷ lệ  
tiết kiệm giảm, làm giảm tiền gửi của dân  
cư vào ngân hàng, kết quả ngân hàng gặp  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Mô hình nghiên cứu  
Dựa trên nền tảng khung phân tích kết  
28  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
hợp lược khảo các nghiên cứu trước, tác  
giả tiến hành xây dựng mô hình nghiên  
cứu để lượng hóa mức độ ảnh hưởng của  
hai nhóm nhân tố nội tại và vĩ mô đến tăng  
trưởng tín dụng của các NHTM Việt Nam  
trong giai đoạn 2010 -2017. Mô hình  
nghiên cứu đề xuất như sau:  
LGRit = β0 + β1DEPTAit + β2NPLit +  
β3CAPit + β4LIQit + β5SIZEit + β6INRt +  
β7GDPt + β8INFt + εit  
Bảng 2. Mô tả và đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu  
Tên biến  
Ký hiệu Cách tính  
Nguồn  
Biến phụ thuộc  
(Tổng dư nợ tín dụng Imran và Nishat (2013), Sharma và  
kỳ này – Tổng dư nợ Gounder (2012),Guo và Stepanyan  
Tăng trưởng tín dụng  
LGR  
tíndụng kỳ trước)/  
(2011), Nguyễn Thùy Dương và  
Tổng dư nợ tín dụng Trần Hải Yến (2011)  
kỳ trước  
Biến độc lập  
Nhân tố nội tại  
Imran và Nishat (2013), Trương  
Đông Lộc và Nguyễn Văn Thép  
(2015)  
Tổng vốn huy động/  
Tổng tài sản  
Tỷ lệ vốn huy động  
Tỷ lệ nợ xấu  
DEPTA  
NPL  
Nợ xấu/ Tổng dư nợ Guo và Stepanyan (2011)  
Imran và Nishat (2013), Trương  
Vốn chủ sở hữu/ Tổng  
Đông Lộc và Nguyễn Văn Thép  
tài sản  
Tỷ lệ vốn chủ sở hữu  
CAP  
(2015)  
Imran và Nishat (2013), Nguyễn  
Tài sản thanh khoản/  
Tỷ lệ thanh khoản  
LIQ  
Thùy Dương và Trần Hải Yến  
Tổng tài sản  
(2011),Tamirisa và Igan (2007)  
Sharma và Gounder (2012), Trương  
Logarith Tổng tài sản Đông Lộc và Nguyễn Văn Thép  
(2015)  
Quy mô ngân hàng  
Nhân tố vĩ mô  
Lãi suất  
SIZE  
Imran và Nishat (2013), Guo và  
Lãi suất danh nghĩa  
INR  
Stepanyan (2011), Nguyễn Thùy  
hàng năm  
Dương và Trần Hải Yến (2011)  
Imran và Nishat (2013), Sharma và  
Tăng trưởng GDP Gounder (2012), Guo và Stepanyan  
Tăng trưởng GDP  
GDP  
hàng năm  
(2011), Trương Đông Lộc và  
Nguyễn Văn Thép (2015)  
Guo và Stepanyan (2011), Sharma  
Tỷ lệ lạm phát hàng và Gounder (2012), Imran và Nishat  
Tỷ lệ lạm phát  
INF  
năm  
(2013), Trương Đông Lộc và  
Nguyễn Văn Thép (2015)  
29  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
3.2. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu  
Dữ liệu của các nhân tố nội tại được  
thu thập từ Báo cáo tài chính của 23  
NHTM Việt Nam và dữ liệu của các nhân  
tố vĩ mô được thu thập từ ADB Indicator  
và Tổng cục Thống kê trong giai đoạn  
2010 – 2017.  
(Pooled OLS), mô hình hiệu ứng cố định  
(Fixed Effect Model – FEM), mô hình hiệu  
ứng ngẫu nhiên (Random Effect Model –  
REM)và mô hình bình phương tối thiểu  
tổng quát (GLS) để xem xét ảnh hưởng của  
các nhân tố nội tại và vĩ mô đến tăng  
trưởng tín dụng của các NHTM Việt Nam  
trong giai đoạn nghiên cứu.  
Nghiên cứu vận dụng mô hình OLS  
4. Kết quả và thảo luận  
Bảng 2. Tổng hợp kết quả ước lượng  
Pooled OLS  
FEM  
REM  
GLS  
Biến  
LGR  
LGR  
LGR  
LGR  
DEPTA  
NPL  
0.159  
0.158  
0.159  
0.0127  
-2.317  
-1.839  
-2.382*  
-0.158  
-0.920***  
-1.351***  
0.245***  
0.000164***  
0.0181***  
0.0275***  
-0.00479***  
184  
CAP  
LIQ  
-0.191  
-0.304  
0.395  
0.398  
0.379  
SIZE  
INR  
-0.0447*  
0.0732***  
-0.029  
-0.147**  
0.0609***  
-0.00734  
-0.0303***  
184  
-0.0505*  
0.0717***  
-0.0286  
-0.0295***  
184  
GGDP  
INF  
-0.0297***  
184  
Số quan sát  
*, **, *** tương ứng với mức ý nghĩa 10%, 5% và 1%  
4.1. Các nhân tố nội tại  
ngân hàng, khối lượng tín dụng được cấp  
và làm suy giảm tăng trưởng tín dụng.  
Tỷ lệ nợ xấu (NPL) thể hiện mối quan  
hệ ngược chiều và có ý nghĩa thống kê ở  
mức 1% trong mối quan hệ giữa tỷ lệ nợ  
xấu và tăng trưởng tín dụng. Kết quả tìm  
được phù hợp với những mong đợi của tác  
giả và kết quả nghiên cứu của Guo và  
Stepanyan (2011). Điều này đồng nghĩa  
rằng, sự gia tăng trong tỷ lệ nợ xấu dẫn đến  
một sự suy giảm trong sứcmạnh của ngành  
Tỷ lệ vốn (CAP) có mối quan hệ  
ngược chiều giữa tỷ lệ vốn chủ sở hữu và  
tăng trưởng tín dụng của ngân hàng với  
mức ý nghĩa thống kê là 1%. Điều này  
phản ánh khi các ngân hàng có được tỷ lệ  
vốn chủ sở hữu trên tài sản cao thì họ sẽ  
quản lý tài sản một cách hiệu quả và do đó  
sẽ làm giảm các tổn thất do việc cấp tín  
30  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
dụng, đồng thời làm giảm bớt khối lượng  
tín dụng và tăng trưởng tín dụng tại ngân  
hàng. Kết quả nghiên cứu đúng như kỳ  
vọng ban đầu của tác giả và của Olokoyo  
(2011).  
dụng của ngân hàng. Như vậy tốc độ tăng  
trưởng cao phản ánh tốc độ cao trong hoạt  
động của nền kinh tế trong nước và đi kèm  
với nó là sự gia tăng trong nhu cầu về kinh  
phí vốn vay.  
Tỷ lệ thanh khoản (LIQ) có mối quan  
hệ cùng chiều với tăng trưởng tín dụng tại  
ngân hàng ở mức ý nghĩa thống kê là 1%.  
Lý giải cho vấn đề trên có thể là trong giai  
đoạn nghiên cứu, việc có được tỷ lệ thanh  
khoản cao sẽ khiến các ngân hàng đặt mục  
tiêu cao hơn trong việc gia tăng khối lượng  
tín dụng, đồng nghĩa thúc đẩy tăng trưởng  
tín dụng tại các ngân hàng.  
Quy mô ngân hàng (SIZE) thể hiện  
mối quan hệ cùng chiều với tăng trưởng tín  
dụng ở mức ý nghĩa thống kê là 1%. Kết  
quả này hoàn toàn phù hợp với những gì  
tác giả mong đợi và phù hợp với nghiên  
cứu của Chernykh và Theodossiou (2011).  
Như vậy, các ngân hàng lớn sẽ có nhiều cơ  
hội để đa dạng hơn và gia tăng khả năng  
tiếp cận với các khách hàng, từ đó dư nợ  
tín dụng và tăng trưởng tín dụng tại các  
ngân hàng sẽ cao hơn.  
Tỷ lệ lạm phát (INF) có mối quan hệ  
ngược chiều với tăng trưởng tín dụng ở  
mức ý nghĩa thống kê 1%. Kết quả này  
phù hợp với kỳ vọng của tác giả và nghiên  
cứu của Sharma và Gounder (2012) khi  
cho ra rằng tỷ lệ lạm phát có tác động tiêu  
cực đến tốc độ tăng trưởng tín dụng. Bởi vì,  
sự tăng trưởng trong khối lượng tín dụng  
có thể là do tỷ lệ lạm phát cao chứ không  
phải vì sự gia tăng giá trị thực tế của các  
khoản vay. Bên cạnh đó, tỷ lệ lạm phát cao  
thường dẫn đến sự gia tăng các mức lãi  
suất danh nghĩa đòi hỏi trên các khoản cho  
vay, từ đó gây sự suy giảm trong nhu cầu  
vay vốn.  
4.3. Hàm ý chính sách  
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả  
đưa ra một số hàm ý chính sách như sau:  
Thứ nhất, kết quả nghiên cứu cho thấy  
tỷ lệ nợ xấu cao sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến  
tăng trưởng tín dụng. Vì vậy, các NHTM  
cần có những biện pháp nhằm điều chỉnh  
tỷ lệ nợ xấu giảm trong năm tiếp theo để  
hạn chế những tác động của nợ xấu đến  
tăng trưởng tín dụng.  
Thứ hai, quy mô ngân hàng có tác  
động tích cực đến tăng trưởng tín dụng của  
các NHTM. Mối quan hệ này cho thấy các  
ngân hàng cần có lộ trình tăng quy mô  
thông qua việc tăng vốn chủ sở hữu, tăng  
tổng tài sản nhằm tạo ra hiệu ứng lợi thế  
theo quy mô. Khi quy mô của ngân hàng  
ngày càng lớn, điều đó sẽ giúp ngân hàng  
hoạt động được trên nhiều lĩnh vực hơn, có  
nhiều sản phẩm và gia tăng số lượng khách  
4.2. Các nhân tố vĩ mô  
Lãi suất danh nghĩa (INR) thể hiện  
mối quan hệ cùng chiều với tăng trưởng tín  
dụng của các ngân hàng ở mức ý nghĩa  
thống kê 1%. Kết quả nghiên cứu tìm được  
không đúng như kỳ vọng của tác giả khi  
cho rằng lãi suất cao hơn sẽ làm giảm tăng  
trưởng tín dụng của ngân hàng.  
Tăng trưởng GDP (GDP) có quan hệ  
cùng chiều với tăng trưởng tín dụng của  
ngân hàng ở mức ý nghĩa 1%. Kết quả tìm  
thấy hoàn toàn phù hợp với mong đợi ban  
đầu của tác giả và của Imran và Nishatm  
(2013), khi cho rằng sự tăng trưởng kinh tế  
có tác động tích cực đến tăng trưởng tín  
31  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
hàng. Quy mô ngân hàng lớn sẽ tạo niềm  
tin cho khách hàng, tăng trưởng tín dụng  
của ngân hàng sẽ thuận lợi và hiệu quả hơn.  
Thứ ba, tỷ lệ thanh khoản có tác động  
tích cực đến tăng trưởng tín dụng. Vì vậy,  
các NHTM cần quản lý tốt các tài sản  
thanh khoản, cần phải định kỳ đánh giá lại  
các nỗ lực thiết lập và duy trì các mối quan  
hệ với các chủ sở hữu, duy trì tính đa dạng  
của các nguồn vốn. Việc xây dựng các mối  
quan hệ vững mạnh với những nhà cung  
cấp vốn then chốt (Các đối tác, các ngân  
hàng đại lý, các khách hàng lớn) sẽ cung  
cấp một tấm đệm thanh khoản cho các  
NHTM, tạo điều kiện gia tăng khối lượng  
tín dụng của các ngân hàng.  
Thứ tư, kết quả tìm thấy mối quan hệ  
nghịch biến giữa tỷ lệ vốn chủ sở hữu với  
tăng trưởng tín dụng, do khoảng thời gian  
nghiên cứu nợ xấu của ngân hàng cao để  
đảm bảo hoạt động kinh doanh ổn định  
nguồn vốn cần được kiểm soát chặt chẽ  
hơn đã ảnh hưởng nhiều đến tăng trưởng  
tín dụng. Trong thời gian tới, để thúc đẩy  
tăng trưởng tín dụng, các ngân hàng cần xử  
lý tốt vấn đề nợ xấu nhằm khơi thông  
nguồn vốn hoạt động.  
thống kê. NHNN nên đưa ra chính sách  
tiền tệ cần thận trọng hơn, kiểm soát chặt  
chẽ cung tiền phù hợp với tốc độ tăng  
trưởng GDP danh nghĩa do tăng trưởng tín  
dụng có dấu hiệu nóng, vượt xa tốc độ tăng  
trưởng GDP danh nghĩa có thể dẫn tới  
nguy cơ bùng nổ lạm phát và bong bóng  
tài sản trong giai đoạn sau.  
5. Kết luận  
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các  
nhân tố nội tại và vĩ mô đến tăng trưởng  
tín dụng của các NHTM Việt Nam trong  
giai đoạn 2010 – 2017 cho thấy các nhân  
tố nội tại (tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ vốn, tỷ lệ  
thanh khoản, quy mô ngân hàng) và các  
nhân tố vĩ mô (lãi suất danh nghĩa, tăng  
trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát) ảnh hưởng  
đến tăng trưởng tín dụng của các NHTM  
Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu này.  
Tài liệu tham khảo  
Chernykh, L. and Theodossiou, A. K. (2011).  
Determinants of Bank Long-Term Lending  
Behavior: Evidence from Russia.  
Multunationanal Finance Journal, 15 (3/4),  
pp. 193- 216.  
Nguyễn Thùy Dương và Trần Hải Yến (2011).  
Các nhân tố tác động đến tăng trưởng tín  
dụng của các NHTM Việt Nam: Bằng  
chứng định lượng. Tạp chí Ngân hàng, Số  
24, tr. 27- 33.  
Guo, K. and Stepanyan, V. (2011). Determinants  
of Bank Credit in Emerging Market  
Economies. International Monetary Fund,  
European Department, Working Paper, No.  
51.  
Trần Huy Hoàng (2009). Quản trị ngân hàng  
thương mại. Tp. Hồ Chí Minh, Nxb Lao  
động Xã hội.  
Imran, K. and Nishat, M. (2013). Determinants  
of Bank Credit in Pakistan: A Supply Side  
Thứ năm, mối quan hệ đồng biến và  
có ý nghĩa thống kê giữa lãi suất danh  
nghĩa với tăng trưởng tín dụng. NHNN cần  
có những biện pháp điều hành lãi suất  
danh nghĩa linh hoạt, đồng thời Chính phủ  
cần có những biện pháp nhằm thúc đẩy  
kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát để tạo  
môi trường vĩ mô ổn định cho ngân hàng,  
tránh những tác động tiêu cực đến tăng  
trưởng tín dụng. Hơn nữa, tăng trưởng  
GDP cũng làm cho tăng trưởng tín dụng  
của ngân hàng tốt hơn thông qua mối quan  
hệ cùng chiều được tìm thấy có ý nghĩa  
32  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
Approach. Economic Modeling, 35 (C),  
pp. 384-390.  
22  
Njanike, K. (2009). The Impact of Effective  
Credit Risk Management on Bank  
Petrosani, Economics, 2009, 9 (2),  
pp.173-184.  
Sharma, P. and Gounder, N. (2012).  
Determinants of bank credit in small open  
economies: The case of six Pacific Island  
Countries. Discussion Paper Finance,  
Griffith Business School, Griffith  
University, No. 2012-13.  
Trương Đông Lộc và Nguyễn Văn Thép  
(2015). Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng  
trưởng tín dụng tại các Quỹ tín dụng nhân  
dân ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.  
Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, Số 105,  
tr. 53-61.  
Maechler, A. M., Mitra, S. and Worrell, D.  
(2010). Decomposing Finalcial Risks and  
Vulnerabilities in Emerging Europe. IMF  
Staff Paper, 57 (1), pp. 25-60. DOI:  
10.1057/imfsp.2009.31.  
Tamirisa, N. and Igan, D. (2006). Credit  
Growth and Bank Soundness in New  
Member States. IMF Country Report, No.  
6/414.  
33  
pdf 10 trang yennguyen 19960 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tác động của các nhân tố nội tại và vĩ mô đến tăng trưởng tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftac_dong_cua_cac_nhan_to_noi_tai_va_vi_mo_den_tang_truong_ti.pdf