Bản chất của dịch vụ ngân hàng và các hình thái phát triển của nó trong bối cảnh ứng dụng công nghệ

Tô Kim Ngọc  
Nguyễn Khương Duy  
Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam  
Công ty TNHH Deloitte Việt Nam  
Ngày nhận: 01/03/2021  
Ngày nhận bản sửa: 00/00/2021  
Ngày duyệt đăng: 23/03/2021  
Tóm tắt: Lịch sử cho thấy, công nghệ đã góp phần quan trọng trong việc định hình  
các hình thái phát triển nhưng không làm thay đổi bản chất của dịch vụ ngân hàng-  
tối đa hóa trải nghiệm khách hàng và gia tăng sức khỏe tài chính với các dịch vụ  
mang tính cá nhân hóa cao, tức thời và có cảm xúc. Trên cơ sở gợi ý của Brett King  
(2018), bài viết đã mô hình hóa các hình thái phát triển của dịch vụ ngân hàng dựa  
trên mối quan hệ với các điều kiện nền tảng như: khả năng hấp thụ công nghệ; mức  
độ cạnh tranh của thị trường; ứng dụng công nghệ trong phát triển kênh phân phối  
từ vật lý lên không gian số; hay thiết kế dịch vụ theo hướng giảm lực ma sát… và  
Substance of banking services and their forms of development under context of technology  
disruption  
Abstract: History has shown that technology has played a critical role in shaping the forms of banking  
service without changing its substance- maximizing customer experience and increasing financial  
sustainability with emotionally personalized and real-time services. Based on the idea suggested  
by Brett King (2018), this article develops a framework of change in banking service forms in line  
with underlying conditions such as technology absorption, market competitiveness, application of  
technology in developing distribution channels from physical branch to digital space or designing  
frictionless services... and especially the legal framework’s constraints. To specify, this article points  
out that the key regulation regarding e-Know-Your-Client (eKYC), information sharing mechanism,  
sandbox testing, cloud storage or blockchain-based value exchange mechanism and delegation to  
virtual assistants... should be adjusted appropriately to fit the situation of each country. Having to keep  
balance between benefits and risks relating to each degree of regulation openness, the implications of  
financial inclusion is key in establishing the policymakers’ determination toward innovation.  
Keywords: technology 4.0, openness of legal framework, open banking service ecosystem, financial  
inclusion.  
Ngoc Kim To  
Email: ngoctk.HO@vietcombank.com.vn  
Vietcombank Joint Stock Commercial Bank  
Duy Khuong Nguyen  
Email: duynguyen@deloitte.com  
Deloitte Vietnam Company Limited  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
Số 226- Tháng 3. 2021  
© Học viện Ngân hàng  
1
ISSN 1859 - 011X  
Bản chất của dịch vụ ngân hàng và các hình thái phát triển của nó trong bối cảnh  
ứng dụng công nghệ  
nhất là các ràng buộc của khung khổ pháp lý. Cụ thể, bài viết đã chỉ ra các điểm nút  
cần được tháo gỡ và điều chỉnh phù hợp với thực trạng của từng quốc gia như: định  
danh khác hàng điện tử (e-KYC); cơ chế chia sẻ thông tin; thử nghiệm sandbox; lưu  
trữ đám mây; hay cơ chế trao đổi giá trị qua blockchain và ủy quyền trợ lý ảo…  
Trong bối cảnh phải cân bằng giữa lợi ích và rủi ro tương ứng với từng độ mở của  
quy định pháp lý, hàm ý về phát triển bao trùm đối với khả năng tiếp cận tài chính  
đóng vai trò quan trọng trong việc xác lập quyết tâm của các nhà làm luật đối với  
đổi mới.  
Từ khóa: công nghệ 4.0, độ mở khung khổ pháp lý, hệ sinh thái dịch vụ ngân hàng  
mở, phát triển tài chính bao trùm.  
1. Giới thiệu  
thực tế là các ngân hàng đi sau trong tiến  
trình này khó xác định được cách tiếp cận  
đúng đắn nếu không nắm rõ được bản chất  
và các điều kiện nền tảng chi phối quá  
trình chuyển dịch đó. Để góp phần làm rõ  
chủ đề này, bài viết được bố cục như sau:  
Phần 2 đề cập tới bản chất và các hình thái  
phát triển của dịch vụ ngân hàng. Phần 3  
giới thiệu quá trình chuyển dịch các hình  
thái phát triển trong mối quan hệ với các  
điều kiện nền tảng. Tiếp đó, các ràng buộc  
pháp lý và hàm ý của phát triển tài chính  
bao trùm được phân tích ở Phần 4, trước  
khi đưa ra kết luận trong Phần 5. Bài viết  
tổng hợp các kết quả nghiên cứu trước đó,  
quan sát thực tế ở Việt Nam, kết hợp với  
xâu chuỗi các hiện tượng để phát hiện ra  
bản chất và mô hình hóa các mối quan hệ  
tương tác trong một tổng thể nhất quán.  
Cách mạng công nghệ 4.0 đã định hình  
lại thế giới với các tác động chưa từng có  
tiền lệ và không thể đảo ngược. Đó là nơi  
các ngân hàng đang đối diện với các cơ  
hội và thách thức đan xen từ khách hàng  
mới, thị trường mới và cả các quy định  
mới. “Chúng ta (khách hàng) cần dịch  
vụ ngân hàng, chứ không phải các ngân  
hàng” hay “Nếu các ngân hàng không  
thay đổi, chúng tôi (giới tài chính công  
nghệ - fintech) sẽ thay đổi ngân hàng” là  
những câu nói đầy thách thức từ thị trường  
(Citigroup, 2018). Trong khi đó, ở nhiều  
quốc gia, các nhà làm luật cũng đã và  
đang cho thấy sự ưu tiên đối với mục tiêu  
phát triển tài chính bao trùm hơn là việc  
bảo hộ các ngân hàng truyền thống trước  
áp lực cạnh tranh. Trước bối cảnh đó, các  
ngân hàng thương mại (NHTM) truyền  
thống được đặt vào tình thế buộc phải thay  
đổi để tồn tại, trong đó nổi lên xu hướng  
ứng dụng công nghệ 4.0 vào phát triển hệ  
sinh thái dịch vụ ngân hàng mở. Tuy vậy,  
với xuất phát điểm khác nhau từ bối cảnh  
vĩ mô- vi mô đến động lực phát triển, mỗi  
ngân hàng ở từng nền kinh tế lại chọn cho  
mình những hướng đi riêng, tạo nên bức  
tranh chuyển dịch hình thái dịch vụ ngân  
hàng từ truyền thống lên hiện đại đa chiều  
và nhiều màu sắc. Điều này dẫn tới một  
2. Bản chất của dịch vụ ngân hàng và  
vai trò của đột phá công nghệ trong phát  
triển các hình thái dịch vụ ngân hàng  
2.1. Bản chất bất biến của dịch vụ ngân hàng  
Tính ứng dụng, thỏa mãn tức thời, gia  
tăng sức khỏe tài chính và sự hài lòng của  
khách hàng là bản chất bất biến của dịch  
vụ ngân hàng, chứ không phải tên gọi của  
sản phẩm hay kênh phân phối. Lấy ví dụ  
về mô hình Canvas (Hình 1) để minh họa,  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 226- Tháng 3. 2021  
2
-
TÔ KIM NGỌC NGUYỄN KHƯƠNG DUY  
Hình 1. Mô hình kinh doanh Canvas  
Nguồn: Osterwalder và cộng sự (2010)  
sau khi xác định được phân khúc khách  
hàng, việc đầu tiên cần làm khi xây dựng  
mô hình kinh doanh là làm rõ định nghĩa  
về những giá trị của dịch vụ, sản phẩm có  
thể mang lại cho khách hàng.  
Tuy vậy, trong thực tế, với đặc thù quy mô  
lớn, cồng kềnh, dựa trên hệ thống ngân  
hàng lõi, tính ứng dụng của dịch vụ ngân  
hàng thường bị ẩn sâu ở tầng bên trong;  
trái lại, tên sản phẩm, mô hình tổ chức và  
kênh phân phối lại được biểu hiện ra ở  
các lớp bên ngoài khi tiếp cận với khách  
hàng. Lâu dần, cách thức vận hành trong  
mô hình kinh doanh truyền thống của các  
NHTM dần bị cuốn vào những hình thái  
bề ngoài mà có phần “quên đi” nội dung  
bên trong.  
người dùng đúng lúc, đúng cách, trúng bối  
cảnh và thỏa mãn nhu cầu tức thời hơn.  
2.2. Công nghệ góp phần định hình các  
hình thái phát triển nhưng không làm  
thay đổi bản chất của dịch vụ ngân hàng  
Các đột phá trong công nghệ gắn với sự  
định hình lại các hình thái dịch vụ ngân  
hàng theo thời gian được tổng hợp trong  
Hình 2 dưới đây. Cụ thể:  
Trước tiên, sự xuất hiện của máy chủ đầu  
tiên (EMRA) trong lĩnh vực ngân hàng  
kéo theo sự ra đời của sổ tài khoản ngân  
hàng là cơ sở cho việc vận hành thanh  
toán bằng séc. Tại thời điểm đó, chi nhánh  
(kênh vật lý) là nơi duy nhất khách hàng  
có thể thực hiện các nhu cầu giao dịch  
ngân hàng. Đây là đặc trưng của dịch vụ  
ngân hàng 1.0 ở mức cơ bản và có lực ma  
sát (giới hạn về thời gian, không gian và  
Thực trạng này được duy trì ổn định cho  
tới khi có sự đột phát về mặt công nghệ,  
để các giá trị của dịch vụ ngân hàng có  
thể “khoác tấm áo mới” và đến được với  
Số 226- Tháng 3. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
3
Bản chất của dịch vụ ngân hàng và các hình thái phát triển của nó trong bối cảnh  
ứng dụng công nghệ  
trải nghiệm) rất lớn trong quá trình cung  
ứng dịch vụ.  
Kể từ khi iPhone của Apple được giới  
thiệu với công chúng năm 2007, điện thoại  
thông minh đã mở ra chương mới cho  
không gian số di động của dịch vụ ngân  
hàng mọi lúc, mọi nơi (ngân hàng thế hệ  
3.0) và dần trở thành kênh tiếp cận phổ  
biến nhất hiện nay ở các nước phát triển.  
Ngân hàng 3.0 còn được tăng cường bởi  
sự xuất hiện của các hình thức thanh toán  
di động (khi Apple ra mắt hình thức Apple  
Pay năm 2014), thanh toán ngang hàng  
(Peer-to-Peer hay P2P) và sự cạnh tranh  
mạnh mẽ từ các công ty tài chính công  
nghệ (fintech) (Brett King, 2018).  
Trong những năm gần đây (kể từ năm  
2017 trở đi), sự phát triển của các công  
nghệ 4.0 nền tảng như trí tuệ nhân tạo  
(AI), dữ liệu lớn (Bigdata), điện toán  
đám mây (Cloud) hay công nghệ chuỗi  
khối (Blockchain)… đã tạo tiền đề cho  
sự ra đời của hình thái dịch vụ ngân hàng  
4.0. Nếu như trong các cuộc cách mạng  
công nghiệp trước đây, sức máy, dầu mỏ  
và điện năng là những nguồn nguyên  
Tiếp theo đó, công nghệ máy rút tiền tự  
động ATM ra đời là một trong những nỗ  
lực đầu tiên nhằm đưa việc cung ứng các  
dịch vụ ngân hàng cơ bản ra ngoài không  
gian vật lý của chi nhánh. Các sổ tài khoản  
ngân hàng (bằng giấy) đã được chuyển  
đổi hình thức sang các thẻ nhựa. Bằng thẻ  
ghi nợ trả trước, khách hàng có thể tự xử  
lý các giao dịch thanh toán của mình mà  
không cần phải tới chi nhánh.  
Kế đến, sự ra đời của mạng internet đã tạo  
nên cuộc cách mạng mang tính đột phá  
với mạng lưới trao đổi thông tin toàn cầu  
và là nền tảng cho tương tác trực tuyến.  
Các dịch vụ ngân hàng cung ứng qua kênh  
internet (như ngân hàng điện tử, thanh toán  
trực tuyến…) bùng nổ và dần trở thành  
kênh cung ứng quan trọng, cùng với mạng  
lưới chi nhánh và ATM dần định hình cách  
tiếp cận đa kênh (kênh số song song với  
kênh vật lý). Theo đó, thế hệ dịch vụ ngân  
hàng 2.0 được định hình và hoàn thiện.  
Hình 2. Lịch sử phát triển công nghệ gắn với sự định hình lại các hình thái  
dịch vụ ngân hàng  
Nguồn: Theo Brett King (2018) và bổ sung của nhóm tác giả  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 226- Tháng 3. 2021  
4
-
TÔ KIM NGỌC NGUYỄN KHƯƠNG DUY  
Kênh  
số  
Ngân hàng 4.0  
2017 trở đi  
[Trí tuệ nhân tạo, IoT,  
Bigdata, Điện toán đám  
mây, Tiền ảo và  
Blockchain]  
Ngân hàng 3.0  
2007-2017  
[Thiết bị di động  
thông minh]  
Phân  
phối  
Ngân hàng 2.0  
1980-2007  
[ATM và internet]  
Kênh Ngân hàng 1.0  
vật  
1472-1980  
lý  
[Chi nhánh]  
Lớn  
Nhỏ  
Lực ma sát  
Hình 3. Quá trình phát triển các hình thái dịch vụ ngân hàng từ 1.0 - 4.0  
Nguồn: Brett King (2018)  
liệu quan trọng cho động lực phát triển  
kinh tế thì ở thời đại 4.0, dữ liệu được  
cho là sẽ trở thành nguồn nhiên liệu mới  
(Economist, 2017). Trên nền tảng ứng  
dụng các công nghệ 4.0, hoạt động ngân  
hàng sẽ diễn ra ở mọi nơi; theo thời gian  
thực và dựa trên bối cảnh; được lồng ghép  
vào cuộc sống hàng ngày thông qua các  
tầng công nghệ, đã loại bỏ các ma sát  
trong quá trình gắn kết với khách hàng;  
trên không gian số rộng mở với hệ sinh  
thái đa dạng. Đây cũng là giai đoạn khi mà  
các ứng dụng công nghệ 4.0 trưởng thành  
và tổng hòa trong hệ sinh thái bao trùm,  
thay vì các ứng dụng riêng rẽ.  
vụ trên không gian số (với xuất phát điểm  
từ kênh vật lý thuần túy) và mức độ giảm  
ma sát trong việc sử dụng dịch vụ ngân  
hàng (Brett King, 2018) (Hình 3).  
Mặc dù vậy, các đột phá công nghệ không  
làm thay đổi bản chất của dịch vụ ngân  
hàng (giá trị mà các dịch vụ ngân hàng  
mang lại - đó là tối đa hóa trải nghiệm  
mang tính cá nhân hóa cao, đồng thời góp  
phần nâng cao sức khỏe tài chính của khách  
hàng). Nguyên lý này đúng với cả các đột  
phá công nghệ hậu 4.0 trong tương lai.  
3. Quá trình chuyển dịch các hình thái  
phát triển của dịch vụ ngân hàng trong  
mối quan hệ với các điều kiện nền tảng  
Có thể thấy, công nghệ đóng vai trò quan  
trọng trong việc định hình các hình thái  
phát triển (cách thức vận hành và phương  
thức cung cấp giá trị) của dịch vụ ngân  
hàng theo thời gian với hai trục tham  
chiếu quan trọng là khả năng tiếp cận dịch  
Mô hình phát triển các hình thái dịch vụ  
ngân hàng từ 1.0 lên 4.0 (Hình 3) theo mô  
phỏng của Brett King (2018) là một xuất  
phát điểm quan trọng để tiếp tục nghiên  
Số 226- Tháng 3. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
5
Bản chất của dịch vụ ngân hàng và các hình thái phát triển của nó trong bối cảnh  
ứng dụng công nghệ  
cứu sâu hơn. Tuy vậy, mô hình trên mới  
chỉ đề cập đến các điều kiện là nhân tố  
nội tại của các ngân hàng như kênh phân  
phối và lực ma sát trong quá trình cung  
ứng dịch vụ. Lưu ý rằng, hai nhân tố này  
cũng gián tiếp phản ánh các điều kiện  
nội tại khác như mô hình quản lý, trình  
độ nhân lực và cơ sở hạ tầng công nghệ.  
Trong khi đó, quá trình chuyển dịch các  
hình thái phát triển dịch vụ ngân hàng  
còn phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố bên  
ngoài như thị trường (khách hàng, đối thủ  
cạnh tranh) và ràng buộc của khung khổ  
pháp lý. Do đó, nhóm tác giả đề xuất mô  
hình chuyển dịch mở rộng (Hình 4) để  
bao hàm thêm các điều kiện nền tảng này.  
Trên cơ sở đó, có thể hình dung rõ hơn về  
cách thức mà điều kiện tiên quyết tương  
tác với nhau (tương hỗ trong ràng buộc)  
sẽ quyết định tới hình thái phát triển của  
dịch vụ ngân hàng như thế nào. Đồng thời,  
mô hình này còn hàm ý rằng sẽ không thể  
chuyển dịch lên hình thái phát triển cao  
hơn của dịch vụ ngân hàng nếu như thiếu  
đi sự điều chỉnh đồng bộ và nhất quán của  
các điều kiện nền tảng (nhất là từ góc độ  
khung khổ pháp lý).  
Ít  
Độ mở của khung khổ pháp lý và rủi ro  
Nhiều  
Cơ chế chia sẻ thông tin;  
Thử nghiệm Sandbox;  
Cơ sở dữ liệu trên đám mây  
Ngân hàng 4.0  
Quản lý tiền ảo;  
Ủy quyền trợ lý ảo  
Chữ ký tươi  
KYC truyền thống  
e-KYC  
Không  
gian  
số  
Cao  
Trợ lý ảo tài chính tích  
hợp qua IoT; Ứng xử  
với mạng lưới trao đổi  
giá trị dựa trên công  
nghệ blockchain  
Ngân  
hàng  
nhúng  
Thế hệ Z sinh  
ra trong công  
nghệ; Vị thế  
của ngân hàng  
và cộng đồng  
fintech, bigtech  
dần được định  
hình  
[Trí tuệ nhân tạo - tự động  
hóa; Bigdata - phân tích dữ  
liệu chuyên sâu, phát hiện xu  
hướng, cá nhân hóa dịch vụ;  
Tương tác với hệ sinh thái  
qua API trên đám mây]  
Ngân  
hàng  
mở  
Nhu  
cầu,  
khả  
năng  
hấp thụ  
công  
nghệ  
của  
Khách  
hàng và  
mức độ  
cạnh  
tranh  
từ  
Thay đổi hành  
vi và yêu cầu  
trải nghiệm;  
Fintech,  
bigtech tấn  
công vào chuỗi  
giá trị dịch vụ  
ngân hàng  
Ngân hàng 3.0  
[Thiết bị di động thông  
minh] - trải nghiệm  
nhất quán không phân  
biệt kênh - core  
Kênh  
cung  
ứng  
Hợp  
kênh  
banking và cơ sở dữ  
liệu hiện đại  
Liên  
kênh  
Ngân hàng 2.0  
[ATM và Mạng  
internet] - ngân  
hàng lõi truyền  
thống  
fintech,  
bigtech  
Đa  
kênh  
Ít  
ảnh hưởng  
Kênh  
vật  
lý  
Ngân hàng  
1.0  
[Chi nhánh]  
Đơn  
kênh  
Thấp  
Cá nhân hóa trải  
nghiệm và gia tăng tài  
sản cho khách hàng  
Tập trung vào Tập trung vào sản Lấy trải nghiệm khách Cá nhân hóa trải nghiệm với  
kênh phân phối phẩm và bán chéo hàng làm trung tâm hệ sinh thái dịch vụ mở rộng  
Ngân hàng có cảm xúc  
vượt ra ngoài bối cảnh  
và theo thời gian thực  
Tự động hóa với tốc độ Hướng tới thời gian thực và  
xử lý cao dựa theo bối cảnh  
Thủ công và độ trễ cao  
Cung ứng dịch vụ có sẵn khi khách Chăm sóc khách hàng Tối đa hóa trải nghiệm, đề  
Trợ lý tư vấn tài chính  
hàng có nhu cầu  
để khai thác tiềm năng  
xuất dịch vụ  
Lực ma sát trong quá trình sử dụng dịch vụ ngân hàng  
(quy trình, thủ tục, xác thực, thời gian…)  
Lớn  
Nhỏ  
Hình 4. Chuyển dịch các hình thái phát triển của dịch vụ ngân hàng qua mô hình mở rộng  
Nguồn: Tham khảo Brett King (2018) và phát triển thêm của nhóm tác giả  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 226- Tháng 3. 2021  
6
-
TÔ KIM NGỌC NGUYỄN KHƯƠNG DUY  
3.1. Ngân hàng 1.0  
Để khắc phục tình trạng này, mô hình liên  
kênh là bước phát triển tiếp theo dựa trên  
những cải tiến trong ngân hàng lõi (core  
banking), cho phép khách hàng có thể truy  
cập toàn bộ giao dịch của mình với ngân  
hàng thông qua một điểm tiếp cận duy  
nhất.  
Hình thái này tồn tại trong bối cảnh thị  
trường hầu như không có sự cạnh tranh  
từ các tổ chức phi ngân hàng, khách hàng  
không có lựa chọn thay thế. Đồng thời,  
quy mô nền kinh tế và khối lượng giao  
dịch chưa cao. Khi mà công nghệ gắn với  
trải nghiệm khách hàng chưa xuất hiện,  
khái niệm về trải nghiệm dịch vụ cũng  
chưa được định hình. Bản thân sự ra đời  
của ngân hàng với vai trò trung tâm trong  
việc thực hiện chức năng trung gian tài  
chính đã là phát kiến lớn, giúp thỏa mãn  
những nhu cầu căn bản của nền kinh tế mà  
trước đó chưa được phục vụ như cất giữ  
tài sản, chuyển tiền, tiết kiệm hay cấp tín  
dụng… khi khách hàng có nhu cầu. Đặc  
trưng của hình thái sơ khai này là tập trung  
vào kênh phân phối duy nhất là các chi  
nhánh vật lý (đơn kênh). Số lượng và độ  
phủ về mặt địa lý của mạng lưới chi nhánh  
trở thành thước đo quan trọng đánh giá sức  
mạnh và vị thế cạnh tranh của ngân hàng.  
Các giao dịch được xử lý thủ công có độ trễ  
cao với dấu hiệu định danh khách hàng duy  
nhất là chữ ký tươi trực tiếp.  
Bên cạnh đó, tư duy về liên kênh cũng gắn  
với hoạt động bán chéo sản phẩm, một  
phần nhằm để tối đa hóa doanh thu trên  
từng khách hàng, song cũng đã phản ánh  
xu hướng dần chuyển sang lấy khách hàng  
làm trung tâm. Mặc dù vậy, mô hình tổ  
chức bộ máy theo trục dọc (các phòng ban  
phụ trách các mảng sản phẩm khác nhau)  
và thiết kế ngân hàng lõi với các phân hệ  
cho từng sản phẩm cho thấy tuy tư duy đã  
dần lấy khách hàng làm trọng tâm, song  
phương thức vận hành vẫn duy trì theo  
hướng thiên về sản phẩm. Chính sự mâu  
thuẫn này đã khiến cho trải nghiệm của  
khách hàng chưa thực sự được nhất quán.  
Thêm vào đó, với cách tiếp cận thủ công và  
khối lượng khổng lồ các văn bản pháp lý  
cần tuân thủ, các thủ tục KYC truyền thống  
(thông qua các mẫu biểu và chữ ký tươi) tỏ  
ra rất tốn kém mà không hiệu quả. Bất chấp  
những tốn kém kể trên, rủi ro không tuân  
thủ với các ngân hàng vẫn ở mức cao khi  
có tổ chức tài chính đã bị phạt tới hơn 1 tỷ  
đô - la Mỹ (Brett King, 2018). Tới lượt nó,  
như một phản xạ tự nhiên, các ngân hàng  
đã báo cáo quá mức về các giao dịch đáng  
ngờ, làm giảm đáng kể khả năng phát hiện  
ra những gian lận nghiêm trọng do cơ quan  
quản lý phải “bơi” trong biển dữ liệu ít giá  
trị với nguồn lực bị phân tán (Brett King,  
2018).  
3.2. Ngân hàng 2.0  
Hình thái ngân hàng 2.0 gắn liền với đột  
phá công nghệ tự phục vụ (ATM) và ngân  
hàng điện tử, xuất hiện trong bối cảnh  
thương mại điện tử qua internet bùng nổ  
khi mà khách hàng đòi hỏi khả năng tiếp  
cận các dịch vụ ngân hàng qua nhiều kênh  
hơn nhằm đáp ứng nhu cầu chuyển khoản  
và thanh toán trực tuyến tăng mạnh. Mô  
hình đa kênh ra đời bao gồm chi nhánh,  
ATM, ngân hàng điện tử và điện thoại cố  
định đã gia tăng khả năng tiếp cận dịch  
vụ ngân hàng cho khách hàng, mở rộng  
cả về không gian và thời gian. Tuy vậy,  
đó vẫn là những kênh đơn lẻ và riêng biệt.  
Không những thế, các quy định tuân thủ  
theo phương pháp truyền thống còn ngăn  
đường tiếp cận tài chính của các bộ phận  
nhất định trong nền kinh tế chỉ vì ngân  
hàng không đủ nguồn lực để đảm bảo khả  
năng tuân thủ. Thay vì sàng lọc rủi ro, các  
Số 226- Tháng 3. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
7
Bản chất của dịch vụ ngân hàng và các hình thái phát triển của nó trong bối cảnh  
ứng dụng công nghệ  
ngân hàng lựa chọn giải pháp an toàn là  
gạt bỏ (Brett King, 2018).  
khứ, đã “tấn công” mạnh mẽ vào chuỗi  
giá trị của dịch vụ ngân hàng truyền thống  
(cạnh tranh nguồn tiền gửi khách hàng,  
cung cấp các dịch vụ thanh toán và cho  
vay ngang hàng, giới thiệu các sản phẩm  
đầu tư thông minh…). Khách hàng với  
năng lực hấp thụ công nghệ ngày càng  
tốt hơn cũng dần nhận ra rằng “Chúng ta  
cần dịch vụ ngân hàng chứ không phải  
các ngân hàng”. Thực tế này đưa ra yêu  
cầu cấp thiết về việc các ngân hàng truyền  
thống cần thay đổi để thích ứng với bối  
cảnh mới như tuyên bố “Nếu ngân hàng  
không thay đổi, chúng tôi sẽ thay đổi ngân  
hàng” (Citigroup, 2018).  
Hiểu được tính cấp thiết này, các NHTM  
truyền thống mới thực sự chuyển hướng  
rõ ràng từ cung cấp sản phẩm sẵn có và  
tập trung vào kênh phân phối sang lấy trải  
nghiệm của khách hàng làm trung tâm với  
sự hài lòng là yếu tố tiên quyết. Các trải  
nghiệm dịch vụ xuyên suốt và nhất quán  
bất kể kênh nào. Các kênh vật lý, điện tử  
hay di động được tổng hòa trên một nền  
tảng hợp kênh thống nhất (Hình 5).  
3.3. Ngân hàng 3.0  
Sự xuất của điện thoại thông minh đã  
không chỉ đơn thuần làm thay đổi kênh  
cung ứng dịch vụ trên không gian số di  
động mà còn tác động sâu sắc tới cục  
diện thị trường dịch vụ ngân hàng. Cụ  
thể, các trải nghiệm khi tương tác trên  
các ứng dụng công nghệ như mạng xã  
hội (Facebook, WeChat…) hay các  
trang thương mại điện tử lớn (Amazon,  
Alibaba…) đã dần làm thay đổi thị hiếu  
và thói quen tiêu dùng của khách hàng.  
Trên góc độ đối thủ cạnh tranh, các công  
ty Fintech và tập đoàn công nghệ lớn  
(bigtech) với nhiều ý tưởng đổi mới sáng  
tạo, khả năng tập trung tối đa vào công  
nghệ mới với nguồn lực tài chính dồi dào  
được tài trợ thông qua các hình thức đầu  
tư mạo hiểm mà không bị ràng buộc bởi  
những cản trở lớn mang tính quy ước, hay  
hệ thống pháp lý mang tính di sản của quá  
Hình 5. Sự chuyển từ tập trung vào kênh phân phối tới trải nghiệm khách hàng  
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 226- Tháng 3. 2021  
8
-
TÔ KIM NGỌC NGUYỄN KHƯƠNG DUY  
Để làm được điều này, đòi hỏi các ngân  
hàng phải xử lý được điểm nghẽn mấu  
chốt là dữ liệu và thông tin, thông qua  
việc nâng cấp (chuyển đổi) hệ thống ngân  
hàng lõi, xây dựng cơ sở dữ liệu hiện đại  
và đồng bộ hóa thông tin (hướng tới hợp  
kênh), vừa phục vụ việc ra quyết định kinh  
doanh, vừa đảm bảo yêu cầu tuân thủ và  
quản trị rủi ro. Bên cạnh đó, ngân hàng  
còn tổ chức lại các phòng ban theo hướng  
tinh gọn hơn (giảm bớt các vị trí trung  
gian) nhưng tập hợp đầy đủ năng lực, kỹ  
năng và thẩm quyền ra quyết định cần  
thiết để có thể cung cấp trọn gói các dịch  
vụ cho khách hàng. Nếu như hình thái  
dịch vụ ngân hàng 1.0 và 2.0 cung cấp các  
sản phẩm có sẵn khi khách hàng có nhu  
cầu thì đến hình thái 3.0, tư duy đã chuyển  
đổi sang chăm sóc khách hàng để khai  
thác tiềm năng. Ở đó, khái niệm về dịch  
vụ ngân hàng trở nên rõ ràng hơn so với tư  
duy về sản phẩm trước đây (Hình 4).  
Một trong những đặc tính quan trọng gắn  
với trải nghiệm là tốc độ xử lý. Thực tế  
rằng tần suất khách hàng tới chi nhánh  
ngày càng giảm trong khi khối lượng giao  
dịch tăng cao cho thấy sẽ không thể tạo  
lên trải nghiệm xuyên suốt và kịp thời  
nếu như vẫn duy trì các yêu cầu về KYC  
truyền thống. Trong khi đó, các công nghệ  
về nhận diện gương mặt, giọng nói hay  
vân tay… đã trưởng thành và cho thấy độ  
an toàn cần thiết để khách hàng kỳ vọng  
sự tích hợp vào dịch vụ ngân hàng. Rõ  
ràng, chuyển đổi từ KYC truyền thống  
sang e-KYC sẽ gỡ bỏ được nút thắt quan  
trọng cho việc chuyển đổi hình thái dịch  
vụ ngân hàng từ 2.0 lên 3.0.  
Mặc dù vậy, hình thái dịch vụ ngân hàng  
3.0 chưa đạt thể đạt tới tốc độ theo thời  
gian thực do độ trễ trong thanh toán xuyên  
biên giới với cơ sở hạ tầng hiện tại dựa  
trên điện SWIFT truyền thống và việc  
khách hàng vẫn phải tự ra quyết định kể cả  
đơn giản nhất khi chưa có cơ chế ủy quyền  
cho trợ lý ảo. Ngoài ra, dịch vụ ngân hàng  
3.0 chưa đạt tới mức trải nghiệm cao nhất,  
do ở giai đoạn này, các ngân hàng thường  
ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo tập  
trung vào tự động hóa quy trình vận hành  
Hình 6. Mô phỏng ngân hàng mở trong tương lai  
Nguồn: Tổng hợp và minh họa của nhóm tác giả  
Số 226- Tháng 3. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
9
Bản chất của dịch vụ ngân hàng và các hình thái phát triển của nó trong bối cảnh  
ứng dụng công nghệ  
và tuân thủ của ngân hàng hơn là phân tích  
chuyên sâu nhằm đề xuất các dịch vụ ngân  
hàng mang tính cá nhân hóa cao. Đồng  
thời, việc chưa có cơ chế chia sẻ thông  
tin đã hạn chế đáng kể khả năng hợp tác  
giữa ngân hàng với đối tác trong việc hoàn  
thiện hệ sinh thái dịch vụ ngân hàng.  
(API) trên nền tảng đám mây sẽ mở rộng sự  
đa dạng của hệ sinh thái dịch vụ bao gồm  
cả dịch vụ tài chính lẫn phi tài chính.  
Để hướng tới được hình thái này, trước  
tiên đòi hỏi cơ chế chia sẻ thông tin người  
dùng giữa ngân hàng và các đối tác, vừa  
bảo mật thông tin vừa phát triển dịch vụ  
mới. Mối quan hệ cộng sinh này phản ánh  
nội hàm của lợi thế kinh tế theo quy mô và  
lợi thế so sánh. Fintech chuyên môn hóa  
thế mạnh của mình trong việc phát triển  
các ý tưởng sáng tạo nhằm đổi mới dịch  
vụ ngân hàng; trong khi đó, ngân hàng  
đóng vai trò tạo nền tảng kết nối để cung  
cấp hệ sinh thái dịch vụ đa dạng cho khách  
hàng. Nếu như không có cơ chế này, các  
ngân hàng chỉ có thể đóng vai trò là trung  
gian môi giới cho các dịch vụ phi tài chính  
để hưởng phí mà không thể đi tới trình độ  
phát triển cao hơn. Rõ ràng, một lần nữa,  
khung khổ pháp lý lại cho thấy mức độ  
ràng buộc đáng kể cần có sự điều chỉnh  
thích hợp. Thực tế, các nhà làm luật ở  
khu vực liên minh châu Âu (EU) và Anh  
đã khởi xướng xu hướng chia sẻ thông  
tin này với Chỉ thị Dịch vụ Thanh toán 2  
(Payment Servie Directive 2 - PSD2) và  
Ngân hàng mở (Open banking). Trong đó,  
điển hình là các quy định về ngân hàng  
mở còn yêu cầu thiết kế tiêu chuẩn của các  
giao diện lập trình ứng dụng (API), nhằm  
tạo điều kiện thuận lợi cho khả năng liên  
kết giữa các ngân hàng và hệ sinh thái.  
Ngoài ra, còn cần có hành lang pháp lý  
cho việc triển khai cơ chế sandbox thử  
nghiệm dịch vụ mới trong khi vẫn bảo vệ  
được người dùng với ý tưởng “thất bại  
nhanh có kiểm soát” nhằm thúc đẩy tiến  
trình phát triển và đưa ra thị trường các  
dịch vụ mới. Thêm vào đó, vấn đề sử dụng  
công nghệ đám mây (cơ sở hạ tầng, nền  
tảng và ứng dụng như là dịch vụ) cũng  
đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối  
các chủ thể trong hệ sinh thái ngân hàng  
3.4. Ngân hàng 4.0  
Ngân hàng 4.0 ra đời trong bối cảnh bức  
tranh thị trường dịch vụ tài chính ngân  
hàng với tương quan giữa các bên (ngân  
hàng truyền thống, fintech và bigtech) dần  
được định hình, cùng với tiếng nói ngày  
càng lớn của thế hệ Z (từ 18 - 23 tuổi)  
đối với hoạt động kinh tế. Nếu như thế hệ  
thiên niên kỷ (từ 24 - 39 tuổi) của ngân  
hàng 3.0 sống và làm việc với công nghệ  
thì thế hệ Z được sinh ra và lớn lên trong  
công nghệ. Nhân tố nhâu khẩu học này sẽ  
thúc đẩy dịch vụ tài chính ngân hàng phát  
triển mạnh mẽ hơn nữa (Hình 4).  
Đến giai đoạn 4.0, hệ sinh thái ngân hàng  
mở được tích hợp và nhúng vào cuộc sống  
hàng ngày thông qua các trợ lý ảo (Hình  
6) sẽ là bước đột phá tiếp theo của hình  
thái dịch vụ ngân hàng. Trong đó:  
Giai đoạn đầu của hình thái 4.0 được đặc  
trưng bởi các dịch vụ ngân hàng mang  
tính cá nhân hóa cao, theo bối cảnh trực  
tiếp và hướng tới thời gian thực trên hệ  
sinh thái ngân hàng mở (Hình 4).  
Cụ thể, thông qua ứng dụng công nghệ dữ  
liệu lớn, phân tích chuyên sâu của trí tuệ  
nhân tạo (học máy không giám sát) để phát  
hiện xu hướng trong thói quen, sở thích tiêu  
dùng của khách hàng, để từ đó đưa ra các  
gợi ý đề xuất dịch vụ mang tính cá nhân  
hóa cao, theo bối cảnh trực tiếp và gần như  
tức thời (bởi lúc này mức độ ứng dụng của  
công nghệ block-chain và trợ lý ảo còn hạn  
chế). Bên cạnh đó, việc tương tác với các  
đối tác qua giao diện lập trình ứng dụng  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 226- Tháng 3. 2021  
10  
-
TÔ KIM NGỌC NGUYỄN KHƯƠNG DUY  
mở. Mặt khác, để đáp ứng được bài toán  
quản lý, cần phát triển các công nghệ reg-  
tech (quản lý bằng công nghệ) ứng dụng  
trong quản lý không chỉ nội bộ ngân hàng  
mà còn từ góc độ ngân hàng trung ương.  
Ở tầm phát triển cao hơn, hệ sinh thái  
ngân hàng mở với các dịch vụ mang tính  
cá nhân hóa cao, tức thời, có cảm xúc  
(thấu hiểu người dùng) vượt ra ngoài bối  
cảnh trực tiếp sẽ được nhúng vào cuộc  
sống hàng ngày thông qua các trợ lý tài  
chính ảo có khả năng giao tiếp với nhau  
theo cơ chế ủy quyền (Hình 4).  
hỗ trợ để thị trường hoạt động thông suốt,  
minh bạch, hiệu quả; vừa có tính chất ràng  
buộc để tạo môi trường ổn định và có trật  
tự. Brett King (2018) đã chỉ ra rằng, tồn  
tại một nghịch lý của sự phát triển là một  
hệ thống pháp lý đã phát huy rất tốt vai trò  
trong quá khứ nhằm đảm bảo an toàn tài  
chính của hệ thống lại được thiết kế với các  
đặc điểm khiến chúng trở nên không phù  
hợp để đương đầu với các thách thức trong  
tương lai. Từ những phân tích ở trên, các  
nút thắt nền tảng mà khung khổ pháp lý cần  
hướng đến giải quyết bao gồm:  
Bằng công nghệ học sâu, nhân diện giọng  
nói hay mạng lưới nơ-ron, các trợ lý giọng  
nói tích hợp trên điện thoại thông minh  
hay thiết bị thực tế tăng cường như kính  
mắt, đồng hồ thông minh (sử dụng công  
nghệ internet vạn vật - IoT) sẽ trở thành  
các nhà tư vấn tài chính đáng tin cậy,  
đồng hành cùng khách hàng. Thông qua  
đó, dịch vụ ngân hàng sẽ được nhúng vào  
cuộc sống hàng ngày của con người. Ở đó,  
có thể đưa ra các gợi ý vượt trên bối cảnh  
trực tiếp trên cơ sở tích hợp toàn bộ thông  
tin của người dùng, không chỉ tối đa hóa  
trải nghiệm mà còn gia tăng tích lũy tài  
sản, thực sự trở thành ngân hàng có cảm  
xúc và tức thời theo thời gian thực. Để  
hướng tới hình thái trưởng thành của giai  
đoạn 4.0, rõ ràng, sẽ cần lời giải cho bài  
toán về khung khổ pháp lý đối với cơ chế  
quản lý tiền kỹ thuật số trên nền tảng công  
nghệ blockchain và cơ chế ủy quyền cho  
các trợ lý tài chính ảo.  
Thứ nhất, cơ chế e-KYC: Nền tảng công  
nghệ trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và sinh  
trắc học đã được kiểm chứng là mang lại  
kết quả xác thực chính xác hơn nhiều so  
với phương pháp thủ công truyền thống.  
Do đó, việc cho phép sử dụng e-KYC  
không những giảm bớt chi phí và rủi ro  
tuân thủ của các ngân hàng mà còn mở  
rộng khả năng cung ứng dịch vụ ngân  
hàng tới những khu vực mà mạng lưới chi  
nhánh vật lý không thể tiếp cận.  
Thứ hai, cơ chế chia sẻ thông tin người  
dùng, thử nghiệm sandbox: Để xây dựng  
được hệ sinh thái ngân hàng mở thực sự  
rất cần có khung khổ pháp lý về cơ chế  
chia sẻ thông tin giữa ngân hàng và các  
đối tác phát triển dịch vụ. Nếu không,  
các ngân hàng chỉ có thể đóng vai trò là  
các nhà môi giới, bán chéo các sản phẩm  
dịch vụ có sẵn của đối tác mà không có  
khả năng đồng sáng tạo. Đồng thời, cần  
có cơ chế bảo vệ quyền lợi khách hàng,  
tiến hành thử nghiệm trong sandbox với  
ý tưởng thất bại nhanh có kiểm soát; trên  
cơ sở đó, liên tục rút kinh nghiệm để hoàn  
thiện dịch vụ ngân hàng mới và đẩy nhanh  
tiến trình thương mại hóa.  
4. Độ mở của khung khổ pháp lý và hàm ý  
của mục tiêu phát triển tài chính bao trùm  
4.1. Độ mở của khung khổ pháp lý  
Thứ ba, quản lý cơ sở dữ liệu trên đám  
mây: Công nghệ đám mây mang tới nhiều  
lợi thế, đặc biệt là tính linh hoạt với quy  
mô, tốc độ ứng dụng công nghệ mới và  
Khung khổ pháp lý đóng vai trò rất quan  
trọng trong việc điều tiết và định hướng thị  
trường. Đặc trưng của nó là vừa mang tính  
Số 226- Tháng 3. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
11  
Bản chất của dịch vụ ngân hàng và các hình thái phát triển của nó trong bối cảnh  
ứng dụng công nghệ  
khả năng tương tác nhanh chóng với các  
đối tác thông qua các API tiêu chuẩn. Việc  
vận hành trên đám mây đối với ngân hàng  
mở thực sự sẽ tạo nên “thế giới phẳng”  
cho dịch vụ tài chính ngân hàng trên phạm  
vi toàn cầu. Tuy vậy, các rủi ro về dữ liệu  
người dùng, vấn đề an ninh mạng sẽ cần  
được cân nhắc hết sức kỹ lưỡng trước khi  
ban hành khung khổ pháp lý liên quan. Ở  
bối cảnh hiện tại, nhiều quốc gia vẫn yêu  
cầu các ngân hàng phải đặt máy chủ và cơ  
sở dữ liệu trên lãnh thổ của mình cho mục  
đích quản lý.  
Thứ tư, ứng xử với cơ chế trao đổi giá trị  
của công nghệ blockchain và cơ chế ủy  
quyền trợ lý ảo: Trên thực tế, không thể  
phủ nhận rằng chính khiếm khuyết trong  
thiết kế khiến cho Bitcoin chưa thể trở  
thành đồng tiền số toàn cầu, khi mà nhu  
cầu tích lũy và đầu cơ khiến giá cả của  
nó không ổn định, đồng thời người nắm  
giữ không chịu sử dụng cho mục đích tiêu  
dùng. Nhưng thay vì coi đó là sự kết thúc  
của tiền số, ít nhất, Bitcoin là một sân tập  
thử nghiệm cho một đồng tiền số nào đó  
trong tương lai (Brett King, 2018). Rõ  
ràng trong lúc cơ chế trao đổi giá trị của  
các đồng tiền kỹ thuật số chưa được định  
hình rõ, đồng thời chứng kiến sự trồi sụt  
mạnh trong biến động giá của Bitcoin,  
sẽ là không khó hiểu khi nhiều quốc gia  
chính thức tuyên bố không công nhận  
đồng tiền này, đồng thời tiếp tục nghiên  
cứu hàm ý của nó đối với sự phát triển  
đồng tiền số quốc gia trong tương lai.  
Ngoài ra, tới trình độ phát triển cao của  
các trợ lý ảo, nhu cầu về cơ chế ủy quyền,  
tương tác và xác lập giao dịch giữa các trợ  
lý ảo sẽ được đặt ra.  
Việc linh hoạt, cởi mở về khung khổ pháp  
lý chịu nhiều ràng buộc cố hữu tùy vào  
bối cảnh của từng quốc gia. Trong hoàn  
cảnh đó, tư duy về mức độ ưu tiên đối với  
sự phát triển bao trùm liên quan tới khả  
năng tiếp cận dịch vụ tài chính (financial  
inclusion) sẽ là động lực quan trọng cho  
quá trình chuyển đổi, xét trên các phương  
diện sau:  
Thứ nhất, mục tiêu phát triển bao trùm  
giúp các nhà điều tiết cân bằng được các  
đối trọng cạnh tranh trên thị trường. Ví  
dụ tại Kenya, với sự ra đời của M-pesa,  
từ 70% người trưởng thành không có tài  
khoản ngân hàng năm 2005, tới 2018,  
100% người trưởng thành đã có tài khoản  
tiền di động. Khoảng 22 triệu trong tổng  
số 26 triệu người dùng tiền di động và  
40% GDP của Kenya luân chuyển qua hệ  
thống của M-pesa. Chủ yếu dưới áp lực  
của các ngân hàng truyền thống, cuộc điều  
tra về hoạt động của M-pesa do Bộ Tài  
chính Kenya khởi xướng không giúp đảo  
ngược được thực trạng rằng số lượng tài  
khoản tiền di động đã vượt qua số lượng  
tài khoản ngân hàng. Và quan trọng hơn,  
dưới góc nhìn của các nhà lập pháp, phổ  
cập dịch vụ tài chính ngân hàng nhận được  
sự ưu tiên lớn hơn so với việc bảo hộ các  
ngân hàng truyền thống trước áp lực cạnh  
tranh (Brett King, 2018).  
Thứ hai, khả năng triển khai dịch vụ ngân  
hàng trong không gian số tăng khả năng  
tiếp cận cho các hộ gia đình thu nhập thấp  
và phụ nữ. Ấn Độ là ví dụ điển hình. Ban  
đầu, ngân hàng trung ương Ấn Độ yêu  
cầu các ngân hàng phải có 25% chi nhánh  
mở ở khu vực nông thôn, nhưng không  
hiệu quả khi mà phân khúc khách hàng  
này thường không đáp ứng các yêu cầu  
KYC truyền thống. Sau đó, sáng kiến thẻ  
Aadhaar ra đời với cải cách liên quan tới  
eKYC đã mang tới hiệu quả đáng ngạc  
nhiên. Cụ thể, nếu như năm 2014, chỉ có  
4.2. Hàm ý của mục tiêu phát triển bao  
trùm liên quan tới khả năng tiếp cận dịch  
vụ tài chính ngân hàng  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 226- Tháng 3. 2021  
12  
-
TÔ KIM NGỌC NGUYỄN KHƯƠNG DUY  
281 triệu (48%) phụ nữ tại Ấn Độ có tài  
khoản ngân hàng, tới năm 2018 đã tăng  
lên 61% (Brett King, 2018).  
tiền kỹ thuật số, song song với quá trình  
nghiên cứu đồng tiền số quốc gia. Tương  
thích với thực tế này, hình thái phát triển  
của dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam theo  
đánh giá chủ quan của nhóm tác giả đang  
ở giữa giai đoạn 2.0 và 3.0, dựa theo các  
quan sát sau: (i) xuất hiện sự cạnh tranh  
của fintech trong lĩnh vực ngân hàng, nhân  
khẩu học thay đổi theo hướng ưu thích  
công nghệ mới; (ii) nỗ lực hợp kênh (đồng  
nhất ngân hàng điện tử và ngân hàng số)  
của nhiều NHTM; (iii) xu hướng chuyển  
đổi hệ thống ngân hàng lõi và cơ sở dữ  
liệu thế hệ mới và dần ứng dụng trí tuệ  
nhân tạo trong tự động hóa như chatbox,  
phát hiện gian lận… đồng thời tăng cường  
liên kết với các đối tác nhằm đa dạng hóa  
dịch vụ trên nền tảng ứng dụng (song chủ  
yếu là dịch vụ phi ngân hàng do chưa có  
cơ chế chia sẻ thông tin); iv) cho phép sử  
dụng eKYC. Rất cần các nghiên cứu tiếp  
theo để làm rõ hơn nhận định này.  
Mỗi khi công nghệ thay đổi, sẽ tạo thời  
cơ tốt để các quốc gia đang phát triển có  
thể bắt kịp với các nước tiên tiến thông  
qua ứng dụng công nghệ. Do đó, mức độ,  
phạm vi và tốc độ điều chỉnh tương thích  
với trình độ phát triển của thị trường sẽ  
quyết định tới năng lực cạnh tranh quốc  
gia trong tương lai. Đồng thời, rộng hơn  
cả đổi mới khung khổ pháp lý cho lĩnh  
vực dịch vụ ngân hàng, phát triển dịch vụ  
ngân hàng trong bối cảnh 4.0 cần đặt trong  
tổng thế chiến lược phát triển nền kinh tế  
số của quốc gia nói chung ■  
Thứ ba, phát triển bao trùm liên quan tới  
phổ cập tài chính còn là tiền đề cho sứ  
mệnh và tầm nhìn để thúc đẩy sự hình  
thành các tập đoàn tài chính lớn trên thế  
giới. Việc cung cấp các dịch vụ tài chính  
ngân hàng kịp thời đến những người trung  
thực và chăm chỉ đang gặp khó khăn về tài  
chính không chỉ mở rộng tập khách hàng  
cho ngân hàng mà còn cải thiện đáng kể  
phúc lợi xã hội, thúc đẩy các giá trị nhân  
văn vượt ra ngoài khung khổ lợi ích kinh  
tế, hướng tới sự phát triển bền vững và  
bao trùm (không ai bị bỏ lại phía sau).  
5. Kết luận  
Công nghệ góp phần quan trọng trong việc  
định hình các hình thái phát triển dịch vụ  
ngân hàng nhưng không làm thay đổi bản  
chất của nó. Xét trong bối cảnh của Việt  
Nam, các vấn đề mà khung khổ pháp lý  
cần quan tâm như eKYC được cho là sẽ  
đi trước, theo sau bởi cơ chế chia sẻ thông  
tin (thử nghiệm sandbox với cơ chế bảo  
vệ người tiêu dùng). Trong khi đó, dịch  
vụ đám mây có thể ứng dụng trên phạm vi  
Việt Nam trước khi hướng tới các dịch vụ  
đám mây công cộng. Ngoài ra, đối với các  
ứng dụng trao đổi giá trị qua công nghệ  
block chain, Việt Nam nên lựa chọn chiến  
lược “chờ và quan sát thêm” cho tới khi  
kiểm chứng và định danh được vai trò của  
Tài liệu tham khảo  
1. Brett King (2018), Bank 4.0: Banking Everywhere, Never at a Bank, Singapore: Marshall Cavendish Business,  
e-ISBN: 9789814828383.  
commercialbank/insights/assets/docs/2018/The-Bank-of-the-Future/  
3. Economist (2017), The world’s most valuable resource is no longer oil, but data, Truy cập ngày 28 tháng 02 năm  
4. Osterwalder, Alexander; Pigneur, Yves; Clark, Tim (2010), Business Model Generation: A Handbook For  
Visionaries, Game Changers, and Challengers, Strategyzer series, Hoboken, NJ: John Wiley & Sons. ISBN  
9780470876411.  
Số 226- Tháng 3. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
13  
pdf 13 trang yennguyen 17460 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bản chất của dịch vụ ngân hàng và các hình thái phát triển của nó trong bối cảnh ứng dụng công nghệ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfban_chat_cua_dich_vu_ngan_hang_va_cac_hinh_thai_phat_trien_c.pdf