"Truyện Kiều" và hát đối đáp trong dân ca Việt Nam

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT Tập 11, Số 2, 2021 170-189  
TRUYỆN KIỀU VÀ HÁT ĐỐI ĐÁP TRONG DÂN CA VIỆT NAM  
La Mai Thi Giaa*  
aKhoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh,  
TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam  
*Tác giả liên hệ: Email: [email protected]  
Lịch sử bài báo  
Nhận ngày 10 tháng 12 năm 2020 | Chấp nhận đăng ngày 28 tháng 12 năm 2020  
Xuất bản trực tuyến ngày 16 tháng 4 năm 2021  
Tóm tắt  
Qua nội dung của các câu ca dao sưu tập được, chúng tôi nhận thấy “Truyện Kiều” đóng  
nhiều vai trò quan trọng trong các cuộc hát đối đáp giao duyên. Thứ nhất nội dung cốt  
truyện được sử dụng như là một chất liệu chính trong các cuộc hát. Thứ hai, hệ thống nhân  
vật trong “Truyện Kiều” thường được nam nữ trong các cuộc hát chọn để đóng vai, nhằm  
bày tỏ hoàn cảnh, tính cách, tâm trạng, tình cảm… của mình một cách ngắn gọn, không  
cần chi tiết mà đều khiến cho đối phương và toàn bộ người nghe hiểu ngay, ở đây các nhân  
vật “Truyện Kiều” được sử dụng như là những điển tích, điển cố trong cuộc hát. Và thứ ba,  
cũng là khía cạnh thú vị nhất của mục đích sử dụng “Truyện Kiều” trong hát đối đáp: các  
tình tiết, nội dung, nhân vật trong “Truyện Kiều” được dùng để hai bên thử tài nhau qua  
việc đặt câu hỏi xem đối phương có nhớ, có thuộc lòng “Truyện Kiều” hay không, có biết  
sử dụng Kiều một cách uyển chuyển trong việc ứng đối hay không?  
Từ khóa: Dân ca; Hát đối đáp; Thử tài; Truyện Kiều; Ứng đối.  
Loại bài báo: Bài báo nghiên cứu gốc có bình duyệt  
Bản quyền © 2021 (Các) Tác giả.  
Cấp phép: Bài báo này được cấp phép theo CC BY-NC 4.0  
170  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
THE TALE OF KIEU AND LOVE SONGS  
IN VIETNAMESE FOLK SONGS  
La Mai Thi Giaa*  
aThe Faculty of Literature, University of Social Sciences and Humanities,  
Vietnam National University Ho Chi Minh City, Ho Chi Minh City, Vietnam  
*Corresponding author: Email: [email protected]  
Article history  
Received: December 10th, 2020 | Accepted: December 28th, 2020  
Available online: April 16th, 2021  
Abstract  
From collected folk songs, we learn that “The Tale of Kieu” plays many important roles in  
“challenge and response” singing and love match songs. First, the plot is used as the main  
material in the songs. Second, the characters in “The Tale of Kieu” are often chosen by  
men and women in singing to briefly express their circumstances, personalities, moods,  
emotions, etc., in a way that is easy for all listeners to immediately understand. In this case,  
the characters of “The Tale of Kieu” are used as classical references in the songs. And  
third, which is also the most interesting aspect of the purpose of using “The Tale of Kieu”  
in response singing, the details, content, and characters in “The Tale of Kieu” are used for  
the two sides to test each other to see if the other person remembers, has memorized “The  
Tale of Kieu” or not, or knows how to use “The Tale of Kieu” in a flexible way.  
Keywords: Challenge and response singing; Challenging; Folk songs; The Tale of Kieu;  
Reciprocal.  
Article type: (peer-reviewed) Full-length research article  
Copyright © 2021 The author(s).  
Licensing: This article is licensed under a CC BY-NC 4.0  
171  
La Mai Thi Gia  
1.  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Chất dân gian trong Truyện Kiều, yếu tố dân gian trong Truyện Kiều, âm hưởng  
dân gian trong Truyện Kiều, ảnh hưởng của ca dao trong Truyện Kiều… là những khía  
cạnh rất được các nhà nghiên cứu quan tâm khi đặt vấn đề: Nguyễn Du đã học được gì ở  
dân gian khi nhà thơ chọn sử dụng thể thơ lục bát truyền thống và hệ thống biểu tượng  
nghệ thuật phong phú của ca dao Việt Nam trong sáng tác Truyện Kiều? Ngược lại, sức  
sống lâu bền luôn luôn sinh động, luôn luôn là một mảnh đất nhiều tiềm năng để khám  
phá của Truyện Kiều cũng nhờ một phần lớn do sự bồi đắp của dân gian “hậu Truyện  
Kiều”. Dân gian đi vào Truyện Kiều và Truyện Kiều bước vào dân gian ngay sau đó và  
mãi mãi sau đó đã tạo nên sức sống mãnh liệt của tập đại thành này trong lòng quần  
chúng nhân dân.  
Vấn đề Truyện Kiều đi vào dân gian như thế nào cũng đã được giới thiệu ở nhiều  
hình thức khác nhau như trong các sinh hoạt bình Kiều, vịnh Kiều, đố Kiều, tập Kiều,  
lẩy Kiều… Chưa kể sự biểu hiện sinh động và thú vị của toàn bộ 3254 câu Kiều, của  
các nhân vật trong Truyện Kiều đã trở thành chất liệu chính cho những cuộc sinh hoạt ca  
hát đối đáp trong các hội hè đình đám của nhân dân lao động như hát trống quân, hát  
giặm, hát ví… Đặc biệt trong những cuộc hát giao duyên nam nữ, nội dung Truyện Kiều  
luôn được dùng để hỏi-đáp, nhằm thử tài, thử trí thông minh, thử kiến thức của đối  
phương. Điều này đã cho thấy rằng, Truyện Kiều được neo giữ trong trí nhớ dân gian  
không chỉ thể hiện ở việc vì thuộc Kiều, nhớ Kiều mà dân gian bình Kiều, vịnh Kiều,  
tập Kiều. Mà quan trọng hơn là dân gian đã biến Kiều trở thành một chất liệu không thể  
thiếu được trong khi tiếp tục sáng tạo nên dòng văn học truyền thống của mình, dân  
gian sử dụng Kiều một cách nhuần nhuyễn và đầy sáng tạo, ứng dụng Kiều vào trong  
những đề tài khác nhau trong cuộc hát.  
Để thực hiện bài viết này, chúng tôi tập hợp được khoảng gần 100 câu ca dao có  
chủ đề tình yêu nam nữ và nội dung của những câu ca dao này đều nhắc đến tên các  
nhân vật hay các tình tiết trong Truyện Kiều. Trong gần 100 câu này có những câu ca  
dao chỉ có một vế nhằm biểu đạt tâm trạng riêng của chủ thể trữ tình, và đa số là những  
cặp ca dao có nội dung đối đáp gồm hai vế của người nam và người nữ thể hiện ở nhiều  
dạng thức khác nhau như đố-đáp, hỏi-đáp, đối-đáp… Qua nội dung của các câu ca dao  
sưu tập được, chúng tôi nhận thấy Truyện Kiều đóng nhiều vai trò quan trọng trong các  
cuộc hát đối đáp giao duyên. Thứ nhất nội dung cốt truyện được sử dụng như là một  
chất liệu chính trong các cuộc hát. Thứ hai, hệ thống nhân vật trong Truyện Kiều thường  
được nam nữ trong các cuộc hát chọn để đóng vai, nhằm bày tỏ hoàn cảnh, tính cách,  
tâm trạng, tình cảm… của mình một cách ngắn gọn, không cần chi tiết mà đều khiến  
cho đối phương và toàn bộ người nghe hiểu ngay, ở đây các nhân vật Truyện Kiều được  
sử dụng như là những điển tích, điển cố trong cuộc hát. Và thứ ba, cũng là khía cạnh thú  
vị nhất của mục đích sử dụng Truyện Kiều trong hát đối đáp: các tình tiết, nội dung,  
nhân vật trong Truyện Kiều được dùng để hai bên thử tài nhau qua việc đặt câu hỏi xem  
đối phương có nhớ, có thuộc lòng Truyện Kiều hay không, có biết sử dụng Kiều một  
cách uyển chuyển trong việc ứng đối hay không?  
172  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
VAI TRÒ CỦA TRUYỆN KIỀU TRONG HÁT ĐỐI ĐÁP  
2.  
2.1.  
Truyện Kiều như là một chất liệu chính trong các cuộc hát đối đáp  
Khắp tất cả các vùng miền của đất nước, hát đối đáp có nhiều tên gọi khác nhau  
như đối ca nam nữ, hát đối, hò đối, hát giao duyên, hát ví, hát giặm, hát huê tình, hát  
nhân ngãi, hò đối đáp, hò giã gạo, hò xay lúa... Hát đối đáp là hình thức hát có hỏi có  
đáp, có đố có trả lời, có buông và bắt, có gài và gỡ, có… làm khó đối phương, dồn bạn  
hát vào thế bí để thử tài ứng đối. Hát đối đáp nam nữ là hình thức hát bắt buộc phải có  
bên nam bên nữ và nội dung xoay quanh chủ đề huê tình nhằm để giao duyên, trao đổi  
tình cảm.  
Căn cứ vào tiến trình cuộc hát, nhìn chung dân ca đối đáp bao gồm các dạng  
thức sau: 1) Dạng thức hát mở đầu có các chặng hát dạo, hát chào mừng, hát hỏi thăm,  
hát giao hẹn, hát mời; 2) Dạng thức hát thử tài có các chặng hát đố, hát đối, hát họa, hát  
đâm bắt; 3) Dạng thức hát xe kết có hát thương nhớ, hát thư, hát thề, hát ước, hát than  
trách, hát cưới; 4) Dạng thức hát kết thúc có hát về kỷ vật, hát giã biệt.  
Trong những cuộc hát kéo dài, khi khả năng ứng tác và nguồn chất liệu tự sáng  
tạo bị cạn kiệt, các đôi nam nữ thường sử dụng các chất liệu có sẵn trong văn học truyền  
thống và đa số là nội dung các truyện thơ Nôm cả dân gian lẫn bác học. Đó là những  
truyện thơ Nôm có chủ đề giai nhân tài tử, bao trùm là tình yêu giữa hai nhân vật chính  
với các trường đoạn gây cấn: gặp gỡ, tai biến, chia ly, đoàn viên rất phù hợp với diễn  
biến của cuộc hát huê tình. Theo dõi nội dung của các cuộc hát đối đáp được ghi lại  
trong các bộ sưu tập ca dao dân ca Việt Nam, có thể thấy nổi bật là người hát đối sử  
dụng các tình tiết và nhân vật trong truyện thơ Nôm bác học do các trí thức Nho học  
sáng tác. Có lẽ do nội dung của chúng thường phản ánh chủ đề giải phóng tình cảm, đấu  
tranh cho tự do yêu đương, khẳng định tài năng và phẩm hạnh của cặp đôi nhân vật  
chính như Truyện Kiều, Hoa Tiên, Phan Trần, Sơ kính tân trang, Lục Vân Tiên… Và kể  
cả truyện thơ Nôm tài tử giai nhân vay mượn của Trung Quốc (như: Song Tinh Bất Dạ,  
Hoa tiên, Kim Vân Kiều, Ngọc Kiều Lê, Nhị độ mai, Hảo cầu tân truyện...) cũng được  
trai gái trong cuộc hát giao duyên lựa chọn sử dụng rất nhiều. Những trường đoạn chính  
trong các truyện thơ Nôm như gặp gỡ, hẹn ước, ly biệt, đoàn viên cũng thường được  
chọn làm kết cấu xuyên suốt của cuộc hát. Nếu như trong truyện các cặp đôi tài tử giai  
nhân vô tình gặp gỡ và rung động, cảm mến tài sắc của nhau rồi buông lời hẹn ước thì  
chặng đầu cuả cuộc hát đối cũng diễn ra như vậy. Đến chặng giữa, khi đôi bên đã khẳng  
định tình ý dành cho nhau và hứa hẹn một tình yêu nên thơ dẫn đến hôn nhân thì nam  
nữ bắt đầu hát đến những khó khăn trở ngại khách quan và chủ quan như vì môn đăng  
hộ đối, vì lễ giáo phong kiến, vì xa xôi cách trở, vì hoàn cảnh nghèo hèn... Lúc này các  
cặp đôi cũng tiếp tục mượn nội dung của truyện thơ Nôm để giải bày hoàn cảnh của  
mình. Kết thúc cuộc hát bao giờ cũg là lòng tin tưởng ở mai sau, hứa hẹn sẽ cùng nhau  
gặp lại hoặc để tiếp tục hát ca, hoặc để nên duyên chồng vợ, vui hưởng hạnh phúc lứa  
đôi…  
Cũng như các truyện thơ Nôm bác học khác, Truyện Kiều được sử dụng như là  
một chất liệu không thể thiếu trong đa số các cuộc hát đối đáp. Cho nên trong phần hát  
173  
La Mai Thi Gia  
mời (nam nữ mời nhau bắt đầu cuộc hát), bên cạnh những câu hát hỏi thăm, chào mời,  
thường có những câu quy định về thể lệ hát, quy định về tình thái, nội dung câu hát và  
cả hình thức hát. Và trong lời giao hẹn đó, cùng với các truyện thơ Nôm khác như Nhị  
độ Mai, Phan Trần, ta thấy Truyện Kiều cũng hay được nhắc đến và quy định sử dụng  
Kiều như thế nào là do tính chất của mỗi cuộc hát mà người chơi đưa ra thể lệ:  
Thoạt đầu em cấm hát chua.  
Cấm đố, cấm hỏi, được thua mới tài  
Cấm từ truyện Nhị độ mai  
Phan Trần, Kiều lẩy không ai hỏi gì.  
(T. Nguyễn, 2015)  
Hát thì một đối với hai  
Còn như bắc bậc khoe tài để sau  
Lý Công cấm hát một câu  
Phan Trần, Kiều lẩy cấm kể từ đầu đến đuôi  
(T. Nguyễn, 2015)  
Truyện Kiều cấm kể một câu  
Phan Trần cấm kể từ đầu chí đuôi  
Cấm trống thì cấm cả dùi,  
Cấm cả người bảo người xui bên ngoài.  
Cấm không được lấy Nhị Độ Mai,  
Phan Trần, Kiều nẩy một vài ba câu  
(T. Nguyễn, 2015)  
Cũng trong câu hát mở đầu có nội dung chào mừng quan khách tham dự và bạn  
hát, không ít chàng trai cô gái là thủ lĩnh cuộc hát thường tự nhận mình là Kim Trọng,  
hay Thúy Kiều để xưng hô với tất cả mọi người, cách xưng hô bắt đầu bằng cách nhập  
vai như thế này phần nào đã cho người nghe hình dung được nội dung cuộc hát tiếp theo  
sẽ dựa theo truyện thơ Nôm này là chất liệu chính rồi:  
Ở nhà bôn bả ra đi  
Áo chưa kịp bận nút khuya chưa gài  
Tới đây chẳng biết là ai  
Lớn hơn cũng bộn, ngang vai cũng nhiều  
Mở lời chào ông Lý, ông Nhiêu  
Chào ai Kim Trọng, Thúy Kiều em chào luôn  
174  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
(T. Nguyễn, 2015)  
Nếu lời chào từ phía bên nam thì sẽ là:  
Gặp đây xin hỏi Thuý Kiều  
Có thương Kim Trọng ít nhiều chi không?  
(Phạm, 2007)  
Bây giờ tôi mới gặp mình  
Khác gì Kim Trọng, thanh minh gặp Kiều  
(Nguyễn, 2001a)  
Mối lương duyên hội ngộ của các nhân vật trong Truyện Kiều hay các truyện thơ  
Nôm khác cũng thường được sử dụng để dẫn dắt cuộc hát đối, thay cho lời chào mời  
của hai bên nam nữ dành cho nhau và dành cho quan khách:  
Mấy khi chàng Từ Thức gặp tiên  
Mười lăm năm Kim Trọng kết nguyền Thúy Vân  
Cúc Hoa gặp được Tống Trân  
Phan Sinh kỳ ngộ Kiều Lân chốn này  
(Phạm, 2007)  
Hay  
Kể từ ngày xa cách người thương  
Về nhà đài sen nối sáp, đọc mấy chương phong tình  
Đọc tới đoạn Thúy Kiều xa gã Kim sinh  
Thôi Oanh Oanh xa Trương Quân Thụy nghĩ tội cho tình biết  
chừng mô  
(Nguyễn, 2001a)  
Bằng cách sử dụng các điển tích điển cố là những nhân vật, tình tiết trong truyện  
thơ Nôm bác học, nam nữ tham gia hát đối phần nào đã chứng tỏ được tầm hiểu biết, tri  
thức của mình, đặc biệt đối với tập đại thành Truyện Kiều của Nguyễn Du. Muốn chứng  
tỏ mình là người sang trọng, có ăn học, có đọc sách thì trai gái không thể nào không  
thuộc làu làu các tình tiết và diễn biến của câu chuyện trong Kiều, đặc biệt là những sự  
kiện quan trọng gắn liền với cuộc gặp gỡ giữa Kiều với những người đàn ông trong đời  
nàng là Kim Trọng, Thúc Sinh và Từ Hải. Về vấn đề nhất định phải thuộc Kiều, hiểu  
Kiều và biết tập Kiều, lẩy Kiều để chứng tỏ trình độ thì trong ca dao cũng có không ít  
câu nhắc đến điều này. Lúc này việc ngâm nga vài câu Kiều trong lúc “khi xem hoa nở,  
khi chờ trăng lên” được xếp ngang với những thú chơi phong lưu của tầng lớp quý tộc,  
175  
La Mai Thi Gia  
là tầng lớp vừa có học vị cao vừa có đời sống tinh thần phong phú. Như phải biết uống  
hoàng hoa tửu là một loại rượu chưng cất từ hoa cúc, một loại rượu rất quý chỉ dành cho  
các bậc phong lưu có tiền của và biết hưởng thụ, hay phải biết uống trà ướp hoa lan  
thơm ngát mát lành và đắt giá:  
Rượu cúc sánh với trà lan  
Khi xem hoa nở, khi than Thúy Kiều  
(Nguyễn, 2001b)  
Nếu rượu cúc trà lan chỉ dành cho thành phần quý tộc phong lưu thì thú vui  
ngâm Kiều lại phù hợp với tất cả tầng lớp nhân dân, cả giới bình dân dù thậm chí không  
biết chữ thì cũng không có ai mà không thuộc vài câu Kiều được nghe qua truyền  
miệng. Thể thơ lục bát cùng những hình ảnh biểu tượng gần gũi với ca dao trong Truyện  
Kiều đã khiến cho Kiều không phải trở thành là một cái gì đó cao xa khó với đối với  
giới lao động bình dân. Thế nên trong những thú vui dân dã của những con người dân  
dã như đánh tổ tôm, uống chè mạn, nhất định cũng phải có thú vui nằm trên võng đong  
đưa ngâm ngợi những câu Kiều trong những đêm trăng sáng:  
Làm trai biết đánh tổ tôm  
Uống chè mạn hảo, ngâm nôm Thúy Kiều  
(Nguyễn, 2001b)  
Và bởi thế nên trong ca dao Việt Nam còn có câu ca dao khẳng định giá trị quan  
trọng, gần gũi và không thể thiếu được đối với mỗi người trong cuộc sống, đó là:  
Người ta có một cái mồm,  
Trời sinh ra để ngâm Nôm Thúy Kiều  
(La, 2020)  
2.2.  
Hóa thân thành các nhân vật trong Truyện Kiều để biểu đạt tâm tình  
Một cách sử dụng chất liệu truyện thơ Nôm trong hát đối đáp là “vào vai”, nam  
nữ trong cuộc hát thường tự ví mình như là các cặp đôi tài tử giai nhân trong các truyện  
thơ Nôm ngôn tình của Việt Nam và cả trong văn chương bác học của Trung Quốc. Nữ  
thì ví mình như Thúy Kiều, Thúy Vân, Kiều Nguyệt Nga, Thoại Khanh, Cúc Hoa hay  
Điêu Thuyền, Phàn Lê Huê, Thôi Oanh Oanh, Văn Quân… Nam thì ví mình như Kim  
Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải, Lục Vân Tiên, Châu Tuấn, Phạm Công hay Lữ Bố, Tiết  
Đinh San, Trương Quân Thụy, Tương Như… Điểm chung của các cặp đôi nhân vật  
được chọn để vào vai thường là những cặp đôi trai tài gái sắc, xứng lứa vừa đôi, môn  
đăng hộ đối và yêu nhau tha thiết, sẵn sàng hy sinh thân xác vì nhau. Tuy nhiên giữa họ  
luôn là một mối tình trắc trở, trái ngang mà buộc phải chia xa hoặc là vì quốc biến, hoặc  
là vì gia biến, hoặc là vì kẻ xấu có quyền lực cao tranh giành người đẹp…  
176  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
Trong hình thức đối đáp “vào vai” này, chúng tôi sưu tập được 30 câu ca dao sử  
dụng hình ảnh các nhân vật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, đa số là tương quan  
Thúy Kiều-Kim Trọng, có một câu Thúy Vân-Kim Trọng, một câu Thúy Kiều-Từ Hải  
và một câu Thúy Kiều-Thúc Sinh.  
Khi vào vai Thúy Kiều và Kim Trọng, nội dung các câu hát thường nhắc đến các  
đoạn Kim Kiều gặp gỡ lần đầu trong tiết thanh minh, Kim-Kiều trong đêm trăng uống  
rượu ở vườn Thúy, Kim-Kiều biệt ly khi gia biến. Trong tiết mục hát chào mừng, thăm  
hỏi của đôi bên đối đáp, thường hay có kiểu ví von:  
Bây giờ tôi mới gặp mình  
Khác gì Kim Trọng, thanh minh gặp Kiều  
Tiện đây tôi hỏi một điều  
Đài gương soi đến dấu bèo cho nhau  
(Nguyễn, 2001a)  
Hay khi chàng trai mở lời chào hỏi:  
Hò ớ … Cuộc đời nầy khi đen khi đỏ  
Hai đứa ta còn nhỏ thương nhiều  
Vừa gặp em là anh muốn như  
Hò ớ ... Anh muốn như anh Kim Trọng thương chị Thúy Kiều  
thuở xưa  
(N. Nguyễn, 2015)  
Thì bên cô gái cũng sẵn có ngay lời đáp:  
Hò ớ… Nghe giọng chàng Kim, em cũng muốn như chị Thúy Kiều  
Nhưng hò ớ ... Thuyền đà có bến, biết sao chìu dạ anh  
(N. Nguyễn, 2015)  
Đôi khi tích “Tần Tấn” “Hán Hồ”, “Châu Trần” trong văn học, lịch sử Trung  
Quốc cũng được sử dụng chung với đôi nhân vật Thúy Kiều-Kim Trọng trong khúc hát  
chào mời mở đầu cuộc đối đáp:  
Con rồng nằm biển thạch  
Con cá trừng Đông Ngô  
Đã bấy lâu nay Hớn mới gặp Hồ  
Tỷ như Kim Trọng gặp cô Thúy Kiều  
Dù xanh cho tới võng điều  
177  
La Mai Thi Gia  
Tình anh với bậu mỹ miều ái ân  
(Ca dao mẹ, n.d.)  
Sau khi kết thúc phần chào hỏi, giới thiệu lý lịch bản thân, hai bên trai gái cùng  
nhau thống nhất thể lệ và điều kiện của cuộc hát. Khi đã nắm được luật lệ, họ bắt đầu  
vào những chặng tiếp theo, từ làm quen, sơ giao đến vào vai những cặp tình nhân đã yêu  
nhau tha thiết, trao gởi tâm tình và hẹn ước hay buồn bã khi phải chia xa. Lúc này các  
diễn biến trong những câu thơ có Kiều và Kim Trọng liên tục được nhắc đến.  
Có không ít lời thổ lộ tâm tình rất chủ động, bắt đầu từ phía nữ trong các nhóm hát:  
Sông Tiền con cá lội xoè vi,  
Chị Thuý Kiều sầu anh Kim Trọng tỉ như em sầu chàng  
(La, 2019)  
Sông Tiền cá lội giao đuôi,  
Kiều thương Kim Trọng giả như tui thương mình  
(Nguyễn, 1928)  
Hay vì nỗi e ngại sợ nhìn lầm tiểu nhân ra quân tử nên thẳng thắn bày tỏ nỗi  
niềm nghi ngại trong lòng mình:  
Thân em mỏng mảnh, quê cảnh lạ lùng,  
Thuyền quyên mong sánh anh hùng,  
Bớ anh ôi, lại e như nàng Kiều nọ, bạn cùng Thúc Sanh  
(Đặng, 1928)  
Để trấn an đối phương và để thể hiện mình cũng rành rỏi Truyện Kiều, nắm rõ đặc  
trưng tính cách của từng nhân vật trong Kiều, đáp lại nỗi lo của bên gái sợ mình rơi vào  
cảnh bé mọn như Kiều với Thúc Sinh, chàng trai đã tự nhận mình là người tình chung  
Kim Trọng và cũng nhắc luôn đến Sở Khanh. Cách trả lời này cho thấy bên trai vừa thể  
hiện được sự am hiểu của mình với Truyện Kiều, vừa đáp lại đúng nội dung câu đối của  
bên gái:  
Cái lòng của qua chắc thật, không phải bậc phong lưu,  
Dốc cho tròn chữ hảo cừu1,  
Bớ nàng ơi, tỷ như chàng Kim Trọng, không phải đồ Sở Khanh.  
(Đặng, 1928)  
1 Bạn tốt  
178  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
Sau lời ướm hỏi, chào mừng, cuộc hát đã chuyển sang chặng giao duyên, xe kết,  
lúc này nam nữ coi như đã đồng lòng vào vai đôi tình nhân mới, nội dung cuộc hát  
chuyển sang lời yêu thương, nhung nhớ, hẹn hò kết nối của cặp đôi, giọng điệu câu hát  
mang sắc thái vui tươi, hạnh phúc:  
Bây giờ gặp gỡ nhau đây,  
Mà lòng đã chắc những ngày một hai  
Khăng khăng cửa đóng then gài  
Nhị đào chờ đợi con người tình chung  
(Wikiquote, n.d.)  
Hai ta quyết chí hai ta,  
Đá vàng cũng quyết phong ba cũng liều  
Tóc tơ căn vặn hết điều,  
Ngày sau hẹn gặp, Kim - Kiều kết giao  
(Wikiquote, n.d.)  
Sau cuộc gặp gỡ và trao duyên, cuộc hát chuyển sang chặng hẹn ước, trao tặng  
kỷ vật và chia xa, lúc này điển Kim Trọng về quê chịu tang chú và Thúy Kiều gặp gia  
biến phải bán mình được khéo léo lồng ghép vào trong các câu hát đối đáp.  
Ban đầu là lời thổn thức của phía nữ khi phải chia xa người tình chung đang lúc  
vừa vào cuộc yêu ước hẹn mặn nồng, lúc này kỷ vật của Kim Trọng trao cho Thúy Kiều  
lúc chia tay về Liêu Dương cũng được bên đối nhắc lại:  
Chiếc xuyến vàng đưa người bạn ngọc  
Khăn vuông hồng xếp lại trao tay  
Phận Kiều sống đọa thác đày  
Chốn Liêu Dương hỡi chàng Kim Trọng  
có thấu nỗi này cho không?  
(T. Nguyễn, 2015)  
Trọng gặp Kiều còn trao Kim Xuyến  
Anh gặp em rồi trao miếng khăn vuông  
Chờ khi thương nhớ nước mắt tuôn lấy ra đặng chùi  
(N. Nguyễn, 2015)  
Trong câu hát của bên nữ dù không nhắc đến lý do của sự xa cách, dẫn đến tình  
cảnh “sống đọa thác đày” của Thúy Kiều nhưng có nhắc đến địa danh Liêu Dương là  
179  
La Mai Thi Gia  
quê nhà của Kim Trọng thì bên nam cũng phải nương theo tình tiết đó để đáp lại cho phù  
hợp với vế đối của bên nữ và cũng để tỏ rõ mình thuộc lòng các chi tiết của Truyện Kiều:  
Đất Liêu Dương anh về tang chú  
Mối tình chung lận đận lao đao  
Kiều ơi dù sóng gió ba đào  
Cũng giữ lời thề non hẹn biển chớ lúc nào lãng quên  
(T. Nguyễn, 2015)  
Đáp lại lời phân trần vì gia cảnh tang chay mà phải đành chịu chia xa của Kim  
Trọng, bên nữ tiếp tục mượn tâm trạng của nàng Kiều ở chốn khuê phòng khi xa cách  
tình lang để bày tỏ nỗi niềm thương nhớ của mình:  
Huệ tàn vì bởi mất sương,  
Em xanh xao vì bởi nhớ thương nghĩa chàng  
Hai đứa mình dứt điệu đá vàng  
Cũng như Kim Trọng xa nàng Kiều thôi  
(La, 2020)  
Phía nam cũng thay lời Kim Trọng bày tỏ nỗi niềm đau khổ vì chia xa và mong  
ngóng ngày tương phùng với hồng nhan tri kỷ:  
Nhơn phản nhơn hà lí cội đồng2  
Cang thường ly biệt, đạo vợ chồng còn thương  
Trọng xa Kiều quay lại cố hương,  
Từ tui xa người nghĩa vọng bốn phương loan phòng  
Đêm khuya nước mắt ròng ròng,  
Khăng khăng hai chữ tương phùng còn xa  
(Đặng, 1928)  
Đôi khi trong câu hát vừa sử dụng chất liệu trong văn học vừa kết nối với hiện  
tại bằng những địa danh có thực:  
Đường Sài Gòn trơn như mỡ.  
Cát núi Sập lạnh như gương  
Dang tay đưa bạn lên đường  
2 Người phản người thì không có lý nào lại đúng.  
180  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
Gá duyên để đó,  
Khác chi Kim Trọng về để lại khúc đoạn trường cho Kiều nhi  
Ta với mình giờ kẻ ở người đi  
Cũng như Kim Trọng biệt ly Thúy Kiều  
(Ca dao mẹ, n.d.)  
Cũng như “Hán-Hồ” hay “Tần-Tấn”, “Tề-Sở”, thì trong câu hát trên, hai địa  
danh Sài Gòn và Núi Sập (một ngọn núi lớn ở Châu Đốc thuộc tỉnh An Giang) cũng  
được dùng để chỉ sự cách xa về địa lý của lứa đôi.  
Và bên nam nói lời chia xa bằng cách dùng các biểu tượng quen thuộc của ca  
dao như cặp biểu tượng có nguồn gốc từ thiên nhiên như bướm hoa và các cặp biểu tượng  
có trong văn chương Việt Nam và Trung Quốc như Thúy Kiều-Kim Trọng, Bá Nha-Tử  
Kỳ:  
Anh xa em như bướm xa hoa,  
Như Thúy Kiều xa Kim Trọng, Bá Nha xa Tử Kì  
Lòng dặn lòng ai đổ đừng xiêu  
Ví như Kim Trọng Thúy Kiều thuở xưa  
(La, 2020)  
Câu 3 và 4 trong lời hát đối phía trên nhắc ta nhớ đến chi tiết Kim Trọng và Thúy  
Kiều chia tay trước ngày chàng về Liêu Dương, chàng Kim đã gởi lời nhắn nhủ lại nàng  
Kiều rằng: “Gìn vàng giữ ngọc cho hay/ Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời” (Truyện  
Kiều).  
Và đáp lại lời chia tay của bên trai là nỗi niềm thổn thức của bên gái:  
Sen xa hồ sen khô tàn tạ  
Lựu xa bồn, lựu ngã cành nghiêng  
Anh xa em như bến xa thuyền  
Như Thúy Kiều xa Kim Trọng mười lăm niên đoạn trường  
(Nguyễn, 2001b)  
Cứ thế hai bên nối tiếp nhau những câu hát trao đổi tình cảm càng lúc càng mượt  
mà và nồng nàn sâu đậm khi càng về cuối chặng hát giao duyên. Cặp đôi nhân vật tài tử  
giai nhân Kim-Kiều luôn luôn xuất hiện trong những lời giao duyên trao tình vừa chia  
xa vừa hẹn ước vừa nhớ mong vừa tuyệt vọng của họ.  
Lúc thì nữ hát:  
181  
La Mai Thi Gia  
Sông Vàm Cỏ3 lưới bỏ trôi xuôi,  
Thúy Kiều xa Kim Trọng như tôi xa mình.  
(Wikiquote, n.d.)  
Lúc thì nam hát:  
Hai đứa mình dứt điệu can thường  
Giả như Kim Trọng dứt tình thương Thúy Kiều.  
(Nguyễn, 1928)  
Hai ta như Kim Trọng-Thúy Kiều  
Đã lắm lúc đắng, còn nhiều lúc cay  
(Nguyễn, 2001a)  
Nội dung cuộc hát có khi đẩy đến là lời oán trách của chàng Kim sau khi từ Liêu  
Dương quay về mới nhận ra Kiều đã phụ tình mình, không còn chờ đợi mình nơi vườn  
Thúy như lời hẹn ước nữa mà đã theo chồng về Lâm Tri:  
Chiều chiều ra đứng ngõ sau  
Thấy cây lan huệ ruột đau từng hồi  
Bởi vì chút nghĩa ai ơi  
Ôm cây lan huệ mà ngồi sầu tư  
Bạn hẹn cùng ta ngôn tận lý từ  
Hồi tiền duyên không gặp nay chừ gặp chi!  
Buông lời ta hỏi Kiều nhi,  
Bạc tình Kim Trọng làm chi hỡi nàng?  
(Đặng, 1928)  
Lời trách móc hờn oán bên gái phụ tình đôi khi được bên trai đẩy lên đến đỉnh điểm:  
Anh với em như nút với khuy,  
Như Kiều với Trọng một ly không rời  
Anh than với bạn hết lời,  
Sao ham nơi giàu có mà rã rời đôi ta  
(Nguyễn, 1928)  
3 Sông Vàm Cỏ là một dòng sông ở Nam Bộ, thuộc hệ thống sông Đồng Nai.  
182  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
Làm chi lăng líu hỡi Ba!  
Bậu tham đồng bạc trắng, bậu bán hoa cho Chà  
(Đặng, 1928)  
Trong câu hát này người đọc dễ dàng nhận thấy tính địa phương Nam Bộ đậm  
đặc trong cách sử dụng từ ngữ của các bên tham gia hát đối, “Ba” (tức cô Ba, em Ba) là  
cách gọi tên người rất quen thuộc của nhân dân miền Nam, tức là gọi tên theo thứ tự  
sinh ra trong mỗi gia đình. “Bậu” trong em bậu, qua với bậu là cách xưng hô quen thuộc  
của người Nam Bộ trong đời sống thường ngày. Bậu thường dùng để chỉ cô gái và qua  
là cách xưng hô của chàng trai trong tương quan với cô gái hay trong tương quan của  
người đàn ông lớn tuổi xưng hô với người kém tuổi hơn mình (bất kể gái hay trai). “Đồng  
bạc trắng” được nhắc đến ở đây là đồng bạc hoa xòe được dùng phổ biến ở miền Nam  
giai đoạn Pháp đang đô hộ miền Nam nước ta. “Chà” theo giải thích của nhiều nhà nghiên  
cứu thì đó là cách gọi chệch đi của người Nam Bộ khi gọi người Ấn Độ (từ chữ Java).  
Trong câu hát phía trên của bên nam, chúng ta chưa thấy có nhắc đến tình tiết  
nội dung gì của Truyện Kiều nhưng đến câu hát đáp của bên nữ, để giải thích cho sự phụ  
bạc của mình, để đáp lại lời oán trách của chàng trai, cô gái đã nhắc đến một tình tiết  
quan trọng trong Truyện Kiều để làm chất liệu cho nội dung câu hát của mình:  
Em liều hoa nọ nhúng bùn,  
Bớ anh ôi, kiếm tiền em bồi đắp, cho cụm thung4 vững bền.  
(Đặng, 1928)  
Đó chính là chi tiết “hoa nọ nhúng bùn” nhắc đến tích Kiều phải bán mình để  
“kiếm tiền em bồi đắp” chuộc cha (cụm thung). Biểu tượng hoa trong câu ca dao trên  
được dùng với nghĩa biểu trưng chung như cách Nguyễn Du dùng biểu tượng hoa lặp đi  
lặp lại gần 50 lần trong toàn bộ Truyện Kiều để chỉ các nhân vật nữ của ông. Chữ bùn  
trong câu ca dao trên gợi nhắc đến những đọa đầy, tủi nhục mà Thúy Kiều đã trải qua  
trong những tháng ngày vào ra lầu xanh của nàng, như trong một câu Kiều:  
Tiếc thay nước đã đánh phèn,  
Mà cho bùn lại vẩy lên mấy lần.  
(Nguyễn, 1999)  
2.3.  
Dùng các tình tiết trong Kiều để đặt câu hỏi, thử kiến thức và thử tài ứng  
đối của nhau  
Đây là phần hấp dẫn nhất, thú vị nhất và được dân gian sử dụng nhiều nhất trong  
các cuộc hát đối có thi thố tài năng văn chương và thường là có giải thưởng ở cuối mỗi  
cuộc hát giành cho nhóm hát hay nhất, trả lời được nhiều câu hỏi do đối phương đặt ra  
4 Cha mẹ.  
183  
La Mai Thi Gia  
nhất. Trong chuyên luận Các dạng thức đối thoại trong hát đối đáp nam nữ Việt Nam,  
Nguyễn Thị Ngọc Điệp đã xếp hình thức hát này vào dạng thức hát thử tài bao gồm có  
hát đố, hát đối và hát họa (T. Nguyễn, 2015). Phần này cũng là phần chúng tôi sưu tập  
được nhiều nhất (tầm 50 câu) trong số những câu hát đối đáp có sử dụng Truyện Kiều  
làm chất liệu. Tuy nhiên trong khuôn khổ một bài viết ngắn, chúng tôi chỉ chọn giới  
thiệu những cặp câu hỏi đáp ngắn gọn, không giới thiệu ở đây những bài lục bát có độ  
dài từ 10 đến 30 câu gần như kể lại đầu đuôi những chi tiết chính trong Kiều.  
Ở những lễ hội truyền thống của dân gian, cuộc hát đối đáp chính là phần hội  
được mong chờ nhất, không chỉ là riêng đối với nam nữ đang tuổi cặp kê muốn thông  
qua cuộc hát này mà làm quen và tìm kiếm người đối ngẫu phù hợp mà còn được toàn  
thể nhân dân mong chờ và nhập cuộc trong vai trò khán giả. Dân gian vừa là đối tượng  
chính của cuộc thi hát, vừa là người đứng xem, nghe, thỉnh thoảng họ còn vào vai người  
nhắc tuồng khi thấy bên trai hoặc bên gái bị bắt bí mà loay hoay mãi chưa tìm ra câu trả  
lời. Đồng thời trong cuộc hát, phần hỏi đáp thi tài này cũng là phần hấp dẫn nhất, sinh  
động nhất và cũng gay cấn nhất, quyết liệt nhất. Trong công trình Hát đối ca của nam  
nữ thanh niên Việt Nam, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyên đã nhấn mạnh vai trò qua  
trọng của phần thi tài này, theo ông đây là lúc để các bên đánh giá tài năng của nhau và  
cũng là lúc trai gái “ghi điểm” với nhau thông qua cách mình đặt câu hỏi và trả lời câu  
hỏi của đối phương:  
Thêm vào sức quyến rũ của giọng còn phải có sức mạnh của ứng tác chứng tỏ ở  
anh ta một trình độ tri thức và một cảm hứng thơ cao hơn đối phương. Anh ta  
luôn vấp phải những câu hỏi, câu đố, câu đối mà ngừơi cùng hát đặt ra. Phải trả  
lời tất cả các câu đó bằng thơ, từng câu một. Công chúng đang ở đấy theo dõi và  
không bỏ sót chi tiết nào. Cần phải to rõ chẳng những tài văn chương của mình  
mà còn phải cho thấy rằng mình có thị hiếu. Người con trai phải biết đánh giá  
nhan sắc một phụ nữ. Cô gái phải ca ngợi phẩm chất người đàn ông bằng những  
từ thích hợp (Nguyễn, 1995).  
Chất liệu Truyện Kiều được sử dụng trong phần hát thi tài này, thường là ở dạng  
thức hỏi-trả lời những tình tiết về nội dung hay kể tên nhân vật trong truyện:  
Khi nữ hỏi:  
Truyện Kiều anh đọc đã nhiều,  
Đố anh kể được câu Kiều năm “cho”  
(Phạm, 2007)  
Nam trả lời bằng chính những câu lục bát trong Truyện Kiều, giữ nguyên văn  
không được thay đổi, thêm bớt:  
Làm cho cho mệt cho mê,  
Làm cho đau đớn ê chề cho coi  
184  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
(Nguyễn, 1999)  
Hay có khi là  
Đã cho lấy chữ hồng nhan,  
Làm cho cho hại cho tàn cho cân  
(Nguyễn, 1999)  
Bên nữ tiếp tục hỏi trong phần kiểm tra kiến thức:  
Truyện Kiều anh đã thuộc làu,  
Đố anh kể được một câu 5 “còn”?  
(Phạm, 2007)  
Bên nam ngay lập tức trả lời:  
Còn non còn nước còn dài,  
Còn về còn nhớ đến người hôm nay  
(Nguyễn, 1999)  
Cứ liên tiếp như vậy giữa người hỏi và người trả lời trong phần kiểm tra kiến thức:  
Truyện Kiều anh đã thuộc làu,  
Đố anh kể được một câu năm “này”5  
(Wikiquote, n.d.)  
Này chồng này mẹ này cha,  
Này là em ruột này là em dâu  
Truyện Kiều anh đã thuộc lòng,  
Đố anh kể được một dòng chữ Nho  
(Nguyễn, 1999)  
Hồ công quyết kế thừa cơ,  
Lễ tiên binh hậu khắc cờ tập công  
5 Người hỏi cũng có thể dùng 2 câu hỏi khác cho phần trả lời này là (1) “Nghe đồn anh thuộc Kiều làu/ Xin anh kể được một câu  
năm người?”; (2) “Truyện Kiều anh đã thuộc lòng/ Đố anh kể được một dòng chữ Nôm?”  
185  
La Mai Thi Gia  
(Wikiquote, n.d.)  
Truyện Kiều em đã kể làu  
Đố em kể được một câu ba càng  
Kể sao cho được rõ ràng  
Mảnh hương với lại phím đàn trao tay  
(Nguyễn, 1999)  
Lạ gì đôi lứa chúng ta  
Anh đố em giảng mới là mưu sâu  
“Rút trâm sẵn giắt mái đầu  
Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần  
Lại càng mê mẩn tâm thần  
Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra  
Lại càng ủ dột nét hoa  
Sầu tuôn đứt nối châu sa ngắn dài”  
(Ca dao mẹ, n.d.)  
Sau dạng thức đặt câu hỏi và trả lời nhằm thử mức độ thuộc lòng Truyện Kiều  
của đôi bên, nam nữ hát thi tài chuyển sang phần hỏi-đáp, giải thích, giải nghĩa những  
tình tiết trong nội dung Truyện Kiều, lúc này người đáp không cần phải dẫn nguyên văn  
các câu thơ trong Truyện Kiều mà có thể biến hóa, cắt ghép thành một câu đáp phù hợp  
với lời đối của bên kia:  
Nữ đối:  
Truyện Kiều anh giảng đã tài  
Đố anh giảng được câu này anh ơi  
“Biết thân đến chốn lạc loài  
Nhị đào thà bẻ cho người tình chung”  
(Ca dao mẹ, n.d.)  
Nam đáp:  
Tình chung nào phải ai xa  
Chính chàng Kim Trọng vào ra sớm chiều  
(Ca dao mẹ, n.d.)  
Nữ:  
186  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
Truyện Kiều anh học đã lâu  
Đố anh kể được một câu hết Kiều?  
(Wikiquote, n.d.)  
Bên nam đáp lại một cách khôn khéo là ghép câu đầu vào câu cuối của Truyện  
Kiều thành một cặp lục bát vừa hợp vần vừa hợp ý:  
Trăm năm trong cõi người ta  
Mua vui cũng được một vài trống canh  
(Wikiquote, n.d.)  
Câu đáp “trăm năm” ở trên cũng từng được dùng để trả lời cho một câu hỏi khác:  
Nữ hò:  
Ơ hò... Đồn rằng anh đọc Truyện Kiều  
Câu nào nói đến những điều trăm năm?  
(T. Nguyễn, 2015)  
Nam hò đáp lại  
Ơ hò... Trăm năm trong cõi người ta  
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau  
Người đâu gặp gỡ làm chi  
Trăm năm biết có duyên gì hay không...  
(T. Nguyễn, 2015)  
Đố:  
Ai mà quyết chí tung hoành  
Ai mà bán mình chuộc tội cho cha  
Ai mà bán nguyệt buôn hoa  
Buôn đi bán lại đã ba bốn lần?  
(Wikiquote, n.d.)  
Đáp:  
Từ Hải quyết chí tung hoành  
Thúy Kiều bán mình chuộc tội cho cha  
Tú bà bán nguyệt buôn hoa  
187  
La Mai Thi Gia  
Buôn đi bán lại đã ba bốn lần?  
(Wikiquote, n.d.)  
Cứ như thế, nam nữ có thể cùng nhau hỏi-đáp, đố-đáp đến hết tất cả các tình tiết  
trong Truyện Kiều tùy vào khả năng dẫn dắt và kết nối của đôi bên và tùy vào thời gian  
kéo dài cho phép của cuộc hát. Trong dạng thức đối đáp này, có những câu hỏi và đáp  
rất dài, có khi lên đến 30 câu ca dao, chứng tỏ khả năng đặt lời ứng tác vừa nhanh nhạy  
vừa tài tình của nhân dân, vừa chứng tỏ niềm yêu thích say mê của cả người hát lẫn  
người nghe đối với Truyện Kiều của Nguyễn Du.  
3.  
KẾT LUẬN  
Nhìn chung, đã có nhiều bài nghiên cứu khẳng định sức sống mãnh liệt của  
Truyện Kiều trong lòng dân gian, bài viết của chúng tôi chỉ góp thêm vào việc chỉ ra  
mối liên hệ khắn khít giữa Truyện Kiều và hát đối đáp trong ca dao Việt Nam. Trên đây  
chúng tôi chỉ giới thiệu hai dạng thức đối đáp tiêu biểu là hỏi và trả lời nguyên văn câu  
Kiều cùng dạng thức hỏi kiểm tra kiến thức tổng quát để một bên trả lời bằng cách cắt  
ghép, thêm thắt vào những câu Kiều cho sẵn. Bên cạnh đó chúng tôi cũng khẳng định  
thêm một lần nữa về vai trò của Truyện Kiều như là một nguồn chất liệu không thể thiếu  
trong quá trình tạo nên diễn biến cuộc hát. Nam nữ hát đối có thể đóng vai các nhân vật  
trong Truyện Kiều hay sử dụng các tình tiết chủ đạo trong Truyện Kiều để giải bày tình  
cảm với nhau. Qua đó, có thể thấy tâm thức dân gian dành cho Truyện Kiều một mặt là  
lo lắng thái quá, một mặt là yêu thích thái quá. Xưa cha ông dạy con cháu đã từng căn  
dặn trai gái trong nhà nên tránh xa các truyện phong tình và không nên học theo gương  
xấu quá coi trọng ái tình như các nhân vật chính trong đó, kiểu như:  
Đàn ông chớ kể Phan Trần  
Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều  
(Nguyễn, 2001a)  
Và ngược lại cũng là chính dân gian khẳng định niềm yêu thích và sức sống bền  
vững của Truyện Kiều ngang với sức sống của nhân dân và đất nước:  
Hàng trăm năm nữa về sau  
Còn người dân Việt, còn câu Truyện Kiều  
(La, 2020)  
LỜI CẢM ƠN  
Nghiên cứu được tài trợ bởi Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-  
HCM) trong khuôn khổ đề tài mã số C2019-18b-10  
188  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Đặng, L. N. (1928). Câu hát huê tình. NXB Phạm Văn Thình.  
La, M. T. G. (Chủ biên). (2019). Văn học dân gian Tiền Giang (Tập 2). NXB Tổng Hợp  
Thành phố Hồ Chí Minh.  
La, M. T. G. (Chủ biên). (2020). Văn học dân gian Đồng Tháp. NXB Tổng Hợp Thành  
phố Hồ Chí Minh.  
Nguyễn, C. C. (1928). Câu hò xay lúa. Nhà in Xưa Nay.  
Nguyễn, D. (1999). Truyện Kiều (K. Nguyễn & T. K. Trần, hiệu khảo). NXB Văn học.  
Nguyễn, N. Q. (Chủ biên). (2015). Văn học dân gian Bến Tre (Tập 2). NXB Khoa học  
Xã hội.  
Nguyễn, T. N. Đ. (2015). Các dạng thức đối thoại trong hát đối đáp nam nữ Việt Nam.  
NXB Văn học.  
Nguyễn, V. H. (1995). Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam (Tập 1). NXB Khoa học  
Xã hội.  
Nguyễn, X. K. (Chủ biên). (2001a). Kho tàng ca dao người Việt (Tập 1). NXB Văn hóa  
Thông tin.  
Nguyễn, X. K. (Chủ biên). (2001b). Kho tàng ca dao người Việt (Tập 1). NXB Văn hóa  
Thông tin.  
Phạm, Đ. Q. (2007). Đố kiều, nét đẹp văn hóa. NXB Văn hóa Sài Gòn.  
189  
pdf 20 trang yennguyen 19261 Free
Bạn đang xem tài liệu ""Truyện Kiều" và hát đối đáp trong dân ca Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftruyen_kieu_va_hat_doi_dap_trong_dan_ca_viet_nam.pdf