Một vài suy nghĩ về chương trình và sách giáo khoa phần Ngữ dụng học ở trường trung học

TẠP CHÍ KHOA HỌC  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH  
HO CHI MINH CITY UNIVERSITY OF EDUCATION  
JOURNAL OF SCIENCE  
Tập 18, Số 5 (2021): 866-876  
Vol. 18, No. 5 (2021): 866-876  
ISSN:  
2734-9918  
Bài báo nghiên cứu*  
MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ CHƯƠNG TRÌNH VÀ SÁCH GIÁO KHOA  
PHẦN NGỮ DỤNG HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC  
Phan Thanh Bảo Trân1*, Phan Thạch Sơn Trúc2, Huỳnh Thanh Danh3  
1Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  
2Trường THCS Phú Thứ, Cần Thơ, Việt Nam  
3Trường Đại học Tây Đô, Việt Nam  
*Tác giả liên hệ: Phan Thanh Bảo Trân – Email: [email protected]  
Ngày nhận bài: 22-3-2021; ngày nhận bài sửa; 06-4-2021; ngày duyệt đăng: 17-5-2021  
TÓM TẮT  
Bài viết phân tích nội dung, cấu trúc, tính đáp ứng của chương trình, sách giáo khoa (SGK)  
hiện hành ở phần Ngữ dụng học với mục tiêu phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ của học sinh.  
Sau khi mô tả tóm tắt thực trạng của chương trình và SGK phần Ngữ dụng học ở trường trung học  
hiện nay, bài viết đi sâu phân tích các nhược điểm của nó: Chương trình chưa cân đối giữa bậc trung  
học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT); bài tập nặng về tính phân tích, giải thích; ngữ  
liệu mang tính sách vở; SGK chưa tạo được sự đột phá về phương pháp dạy học; từ đó đề xuất một  
số điểm điều chỉnh, bổ sung, cải tiến. Những nhận xét, đánh giá trong bài viết còn nhằm gợi ý cho  
giáo viên lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp khi SGK được cải cách, phần Tiếng Việt tích  
hợp triệt để với phần Văn học, không tổ chức thành bài học riêng như hiện nay.  
Từ khóa: chương trình; Ngữ dụng học; Ngữ dụng học trong trường trung học; sách giáo khoa  
1.  
Giới thiệu  
Theo Katie Wales (2011), Ngữ dụng học (Pragmatics), “trong nghĩa đơn giản nhất, vì  
vậy cũng là nghĩa rộng nhất của nó, có thể được định nghĩa như là sự nghiên cứu về cách sử  
dụng ngôn ngữ” (Wales, 2011, p.335). Ngữ dụng học “là khoa học về ngôn ngữ xét theo  
quan hệ với người dùng. Nó không phải là ngành nghiên cứu ngôn ngữ do nó và vì nó, không  
phải là ngành khoa học đóng vai trò “bà giáo về ngôn ngữ” mà là khoa học về ngôn ngữ  
được sử dụng bởi những người có thực, sống động, nhằm phục vụ cho mục đích của mình  
trong phạm vi của những giới hạn và những năng lực của mình” (Mey, 1993; dẫn theo Do,  
2005, p.289).  
Thuật ngữ “pragmatics” xuất hiện lần đầu trong tác phẩm của nhà kí hiệu học và hành  
vi luận người Mĩ - Charles Morris (1938) – với sự phân biệt ba bộ phận của kí hiệu học: kết  
học (syntactics), nghĩa học (semantics) và dụng học (pragmatics). Tuy được quan tâm từ khá  
Cite this article as: Phan Thanh Bao Tran, Phan Thach Son Truc, & Huynh Thanh Danh (2021). Discussions  
about the pragmatics curriculum and textbook in high schools. Ho Chi Minh City University of Education  
Journal of Science, 18(5), 866-876.  
866  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Phan Thanh Bảo Trân và tgk  
sớm nhưng Ngữ dụng học chỉ thực sự phát triển mạnh từ thập kỉ 70 của thế kỉ XX. Ngữ dụng  
học, hiểu theo nghĩa hẹp, bàn về việc sử dụng ngôn ngữ trong ngữ cảnh (uses of language in  
context). “Ngữ dụng học nghiên cứu sự giao tiếp bằng ngôn ngữ, nghiên cứu cách dùng ngôn  
ngữ thực sự trong những ngữ cảnh chuyên biệt” (Nofsinger, 1990; dẫn theo Do, 2005, p.289).  
Quan hệ giữa ngôn ngữ và ngữ cảnh không phải chỉ là những quan hệ nhất thời, mang tính  
tình huống, mà chúng còn được ngữ pháp hóa hoặc đã được mã hóa trong cấu trúc ngôn ngữ,  
vì bất cứ nguyên tắc có tính hệ thống nào của việc sử dụng ngôn ngữ đều có tác động đến  
cấu trúc ngôn ngữ. Tuy nhiên, nếu cho rằng Ngữ dụng học chỉ quan tâm đến những yếu tố  
này thì chúng ta đã thu hẹp phạm vi của Ngữ dụng học, đã loại bỏ ra ngoài Ngữ dụng học  
những hiện tượng không được mã hóa như những hiện tượng do suy ý mà có, nhất là các  
quy tắc ngữ dụng có mặt khắp nơi, chi phối mọi hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (Do,  
2005, p.285). Vì vậy, cần hiểu Ngữ dụng học với một nghĩa rộng hơn, tức là có thể hiểu Ngữ  
dụng học là “Ngôn ngữ học của giao tiếp”.  
Ngữ dụng học đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển và được chia thành các phân nhánh  
như sau: Ngữ dụng học xã hội (Societal pragmatics); Ngữ dụng học tri nhận (Cognitive  
pragmatics); Ngữ dụng học mô-đun (Modular pragmatics); Ngữ dụng học ngôn ngữ  
(Language pragmatics). Ngữ dụng học ngôn ngữ lại được chia thành Ngữ dụng học vi mô  
(Micro pragmatics), Ngữ dụng học vĩ mô (Macro pragmatics) và Siêu ngữ dụng học  
(Metapragmatics). Ngữ dụng học vi mô nghiên cứu cách dùng ngôn ngữ trong ngữ cảnh hẹp,  
lấy câu làm trung tâm và nghiên cứu những vấn đề như hành động ngôn từ, chiếu vật và chỉ  
xuất. Ngữ dụng học vĩ mô nhấn mạnh vào những hiện thực có trong sử dụng ngôn ngữ, đặc  
biệt chú trọng vào sự tương tác giữa những người giao tiếp trong ngữ cảnh rộng. Siêu Ngữ  
dụng học thảo luận về những tiền đề lí thuyết về phương pháp nghiên cứu những quy tắc,  
những cơ chế cho Ngữ dụng học về những ngôn ngữ cụ thể (dẫn theo Do, 2005, p.291).  
Ngoài các phân nhánh vừa nói, Katie Wales (2011) còn nói đến hai phân nhánh Ngữ dụng  
học khác là Ngữ dụng học văn chương (Literary pragmatics), Ngữ dụng học lịch sử  
(Historical pragmatics) (Do, 2005, p.335-336).  
Ngữ dụng học ngày nay là một phân ngành quan trọng của Ngôn ngữ học và có vai trò  
thiết yếu đối với giáo dục ngôn ngữ trong nhà trường. Bên cạnh các nội dung về cấu trúc  
ngôn ngữ (Âm vị học, Từ vựng học, Cú pháp học), Ngữ dụng học là một phần nội dung  
không thể thiếu của giáo dục ngôn ngữ trong nhà trường, có mục tiêu chung là phát triển các  
kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp cho học sinh.  
Trong xu thế chung của việc giáo dục ngôn ngữ trên thế giới, ngành giáo dục Việt Nam  
đã đưa phần Ngữ dụng học vào dạy học ở trường trung học từ những năm 90 thế kỉ XX, vào  
THCS từ năm đầu của thế kỉ XXI. Đây là sự đổi mới tất yếu và cần thiết. Ngữ dụng học  
được đưa vào dạy học trong trường phổ thông theo hai hướng:  
(1) Tu sửa, chỉnh lí các nội dung của Ngôn ngữ học tiền dụng học theo cách nhìn mới  
của Ngữ dụng học.  
867  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 5 (2021): 866-876  
(2) Tổ chức dạy học các nội dung trọng tâm của Ngữ dụng học (như nguyên tắc cộng  
tác, hội thoại, nghĩa tường minh và hàm ẩn, ngữ cảnh...) thành các bài học.  
Cho dù theo hướng nào thì Ngữ dụng học ở trường phổ thông vẫn chỉ là Ngữ dụng học  
ngôn ngữ (Ngữ dụng học vi mô + Ngữ dụng vĩ mô). Còn Siêu ngữ dụng học và các phân  
nhánh Ngữ dụng học khác là lĩnh vực chỉ dành cho các học giả hoặc người học ở bậc học  
cao hơn.  
Trong bài viết này, chúng tôi chỉ bàn đến các nội dung Ngữ dụng học được đưa vào  
chương trình Ngữ văn ở trường trung học của Việt Nam theo hướng thứ hai.  
2.  
Nội dung nghiên cứu  
2.1. Thực trạng của chương trình và SGK phần Ngữ dụng học ở trường trung học  
hiện nay  
2.1.1. Chương trình  
a) Nội dung chương trình  
Hiện nay, phần Ngữ dụng học được đưa vào chương trình và SGK Ngữ văn trung học.  
Các tác giả sách Ngữ văn THCS (Nguyễn Khắc Phi tổng chủ biên) định nghĩa như sau về  
Ngữ dụng học: “Bộ môn Ngôn ngữ học nghiên cứu phần nội dung của ngôn từ trong mối  
quan hệ với ngữ cảnh, với tình huống giao tiếp” (Literature 9, Vol.1 (Teacher Textbook),  
p.6). Đây là cách hiểu Ngữ dụng học theo nghĩa sát nhất với các nội dung nghiên cứu trên  
thực tế của Ngữ dụng học. Dựa theo định nghĩa này, phần Ngữ dụng học trong chương trình  
trung học bắt đầu được dạy từ học kì II lớp 8 cho đến học kì II của lớp 12 với 9 chủ điểm  
trên tổng số 16 tiết. Trọng tâm của chương trình Ngữ dụng học trung học tập trung ở lớp 9.  
Nội dung bài học trong chương trình phần Ngữ dụng học ở trường trung học được phân bố  
như sau:  
Bảng 1. Chương trình phần Ngữ dụng học bậc THCS  
Học kì/  
Lớp  
I
II  
8
Hành động nói  
Hành động nói (tiếp theo)  
Hội thoại  
Hội thoại (tiếp theo)  
9
Các phương châm hội thoại  
Nghĩa tường minh và hàm ý  
Các phương châm hội thoại (tiếp theo)  
Các phương châm hội thoại (tiếp theo)  
Xưng hô trong hội thoại  
Nghĩa tường minh và hàm ý (tiếp theo)  
868  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Phan Thanh Bảo Trân và tgk  
Bảng 2. Chương trình phần Ngữ dụng học bậc THPT  
Học kì/  
Lớp  
I
II  
10  
Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ  
Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (tiếp theo)  
11  
12  
Ngữ cảnh  
Nhân vật giao tiếp  
Thực hành về hàm ý  
Thực hành về hàm ý (tiếp theo)  
So sánh nội dung Ngữ dụng học trong chương trình ở trường trung học với các nội  
dung cốt lõi của Ngữ dụng học cho thấy có hai nội dung không được đề cập: chiếu vật và  
chỉ xuất, lí thuyết lập luận. Ngoài ra, ba nội dung trong Ngữ dụng học vốn không được tách  
thành đề mục riêng, nhưng chúng lại được tổ chức thành các bài học riêng ở chương trình  
trung học: (1) xưng hô trong hội thoại, (2) ngữ cảnh, (3) nhân vật giao tiếp.  
b) Cấu trúc của chương trình  
Chương trình Ngữ dụng học THCS được cấu trúc theo kiểu đường thẳng, bố trí các  
nội dung dạy học từ đơn giản đến phức tạp. Cụ thể, các nội dung học tập được sắp xếp như  
sau: Hành động nói -> Hội thoại -> Nghĩa tường minh và hàm ý. Cách sắp xếp các nội dung  
học tập như vậy là đi từ Ngữ dụng học vi mô đến Ngữ dụng học vĩ mô.  
Chương trình Ngữ dụng học THPT cấu trúc theo kiểu diễn dịch, đi từ chung đến riêng,  
từ khái quát đến cụ thể. Cụ thể các nội dung học tập được bố trí như sau: Khái quát về hoạt  
động giao tiếp -> Ngữ cảnh -> Nhân vật giao tiếp.  
Cấu trúc chung của chương trình Ngữ dụng học ở trường trung học là đi từ các yếu tố  
ngôn ngữ như Hành động nói, Hội thoại, Nghĩa tường minh và hàm ý đến các yếu tố bên  
ngoài ngôn ngữ như Ngữ cảnh, Nhân vật giao tiếp.  
Riêng bài Thực hành về hàm ý (lớp 12, học kì II) là bài học đồng tâm với chương trình  
Ngữ dụng học THCS.  
2.1.2. Sách giáo khoa  
a) Cấu trúc của bài học  
Cấu trúc chung của bài học phần Ngữ dụng học trong SGK Ngữ văn THCS gồm có ba  
phần: (1) Phân tích ngữ liệu, (2) Ghi nhớ, (3) Luyện tập. Cách cấu trúc bài học này là cách  
cấu trúc đi từ thực tiễn tới lí thuyết và từ lí thuyết trở lại vận dụng vào thực tiễn. Hay nói  
cách khác, cấu trúc bài học này được xây dựng dựa trên hai nguyên lí: (1) Lí thuyết rút ra từ  
thực tiễn, và (2) Lí thuyết hướng dẫn thực hành, tức là đi theo quy trình quy nạp - thực hành.  
Nếu nội dung bài học có nhiều ý thì bài học sẽ phân các ý thành các tiểu mục, và phần Ghi  
nhớ sẽ xuất hiện một lần cho tất cả các tiểu mục hay xuất hiện riêng lẻ theo từng tiểu mục.  
869  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 5 (2021): 866-876  
Cấu trúc của bài học phần Ngữ dụng học trong SGK Ngữ văn THPT gồm 4 phần: (1)  
Kết quả cần đạt, (2) Phân tích ngữ liệu, (3) Ghi nhớ, (4) Luyện tập. So với SGK Ngữ văn  
THCS, thì SGK Ngữ văn THPT chỉ thêm phần đầu, có tính chất định hướng dạy-học: phần  
Kết quả cần đạt.  
b) Lí thuyết  
Lí thuyết phần Ngữ dụng học trong SGK Ngữ văn Trung học chủ yếu được trình bày  
ngắn gọn, súc tích trong phần Ghi nhớ.  
c) Hệ thống bài tập  
Tương ứng với lí thuyết là hệ thống bài tập. SGK Ngữ văn Trung học phần Ngữ dụng  
học sử dụng 6 loại bài tập sau (chỉ tính bài tập xuất hiện trong luyện tập): bài tập nhận diện  
(ND), bài tập trắc nghiệm (TN), bài tập phân tích (PT), bài tập điền khuyết (ĐK), bài tập tạo  
lập (TL), bài tập hỗn hợp (HH).  
Sự phân bố, tần số xuất hiện và tỉ lệ của các loại bài tập đó trong 9 nội dung của phần  
Ngữ dụng học ở trường trung học được thể hiện ở Bảng 3 sau đây:  
Bảng 3. Các loại bài tập được sử dụng trong SGK Ngữ văn trung học (phần Ngữ dụng học)  
Loại bài tập  
STT  
Bài học  
SL  
ND  
2
PT  
4
TN  
2
ĐK  
0
TL  
0
HH  
0
1
2
3
Hành động nói  
Hội thoại  
8
7
1
5
0
0
0
1
Các phương châm  
hội thoại  
0
7
0
2
0
3
12  
4
5
6
7
Xưng hô trong hội  
thoại  
0
0
0
1
6
7
4
4
0
0
0
0
0
1
0
0
0
0
1
0
0
1
0
0
6
9
5
5
Nghĩa tường minh và  
hàm ý  
Hoạt động giao tiếp  
bằng ngôn ngữ  
Ngữ cảnh  
8
9
Nhân vật giao tiếp  
Thực hành về hàm ý  
Tổng  
0
1
5
3
5
0
0
2
0
0
3
0
0
1
0
3
8
3
9
45  
64  
Tỉ lệ (%)  
7,81% 70,31% 3,13% 4,69% 1,56% 12,50% 100,00%  
870  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Phan Thanh Bảo Trân và tgk  
d) Ngữ liệu  
SGK Ngữ văn trung học (phần Ngữ dụng học) sử dụng ngữ liệu để quy nạp lí thuyết,  
hoặc dùng để thiết kế bài tập thực hành. Ngữ liệu đó gồm 4 loại như sau:  
- Ngữ liệu trích dẫn từ tác phẩm văn chương (truyện, tiểu thuyết, thơ);  
- Ngữ liệu lấy từ tác phẩm chính luận;  
- Ngữ liệu lấy từ ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày (khẩu ngữ);  
- Ngữ liệu loại khác (thư, văn bản khoa học, thành ngữ, tục ngữ).  
Sự phân bố, tần số xuất hiện và tỉ lệ của các loại ngữ liệu đó trong 9 nội dung học tập  
của phần Ngữ dụng học được thể hiện ở Bảng 4 sau đây:  
Bảng 4. Các loại ngữ liệu được sử dụng trong SGK Ngữ văn trung học (phần Ngữ dụng học)  
Loại ngữ liệu  
Số  
Bài học  
STT  
Văn  
Chính  
Khẩu  
Loại  
lượng  
chương  
luận  
ngữ  
khác  
1
Hành động nói  
7
4
2
0
13  
2
3
4
5
Hội thoại  
6
7
0
0
0
0
0
2
0
1
0
9
1
0
6
18  
7
Các phương châm hội thoại  
Xưng hô trong hội thoại  
Nghĩa tường minh và hàm ý  
6
11  
12  
6
Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ  
4
0
0
2
6
7
8
9
Ngữ cảnh  
6
5
6
0
0
0
2
0
1
0
0
0
8
5
7
Nhân vật giao tiếp  
Thực hành về hàm ý  
Tổng  
58  
4
8
12  
82  
Tỉ lệ (%)  
70,73%  
4,88%  
9,76%  
14,63% 100,00%  
2.2. Ưu và nhược điểm của chương trình và SGK phần Ngữ dụng học trong trường  
trung học hiện nay  
2.2.1. Ưu điểm  
a) Chương trình có nội dung và cấu trúc khá hợp lí  
Như đã trình bày ở mục 2.1.1, nội dung của chương trình phần Ngữ dụng học ở trường  
trung học hiện nay gồm 9 chủ điểm: (1) Hành động nói, (2) Hội thoại, (3) Các phương châm  
871  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 5 (2021): 866-876  
hội thoại, (4) Xưng hô trong hội thoại, (5) Nghĩa tường minh và hàm ý, (6) Hoạt động giao  
tiếp bằng ngôn ngữ, (7) Ngữ cảnh, (8) Nhân vật giao tiếp, (9) Thực hành về hàm ý. Đây đều  
là những nội dung cơ bản, phổ thông, thiết thực với hoạt động giao tiếp của học sinh, được  
các tác giả biên soạn chương trình chọn ra từ những kết quả nghiên cứu về Ngữ dụng học  
hiện nay ở Việt Nam và trên thế giới. Những nội dung này đã tạo nên sự đổi mới trong việc  
dạy tiếng ở nhà trường, có tác dụng phát triển các “năng lực sử dụng ngôn ngữ trong những  
tình huống xã hội cụ thể” (Wales, 2011, p.335) cho học sinh. Những thay đổi mới mẻ và cần  
thiết về nội dung dạy học này cần được thừa nhận và duy trì trong chương trình sắp tới.  
Ngoài ra, xuất phát từ thực tiễn tiếng Việt, SGK hiện hành có thêm bài “Xưng hô trong hội  
thoại” với lí do được trình bày như sau: “Sự phong phú, tinh tế, giàu sắc thái biểu cảm của  
hệ thống các phương tiện xưng hô là một đặc điểm nổi bật của tiếng Việt... Vì vậy, kiến thức  
về xưng hô và kĩ năng sử dụng những phương tiện xưng hô hợp thành một phần quan trọng  
trong nội dung giáo dục ngôn ngữ của nhà trường ở Việt Nam và một số quốc gia khác”  
(Literature 9, Vol.1 (Teacher Textbook), p.39). Quan điểm xây dựng chương trình và thiết  
kế bài học như vừa nêu của các tác giả SGK là một quan điểm đúng đắn.  
Về cấu trúc chương trình, như đã phân tích trong mục 2.1.2, cấu trúc chương trình  
phần Ngữ dụng học THCS là cấu trúc từ thấp đến cao; cấu trúc của chương trình phần Ngữ  
dụng học THPT là cấu trúc từ khái quát đến cụ thể; còn cấu trúc chung chương trình phần  
Ngữ dụng học trung học là đi từ trong ra ngoài, tức là đi từ các yếu tố cấu trúc bên trong của  
hoạt động giao tiếp đến các yếu tố bên ngoài. Nhìn chung, theo chúng tôi, các kiểu cấu trúc  
này phù hợp với từng cấp học và cho cả bậc trung học. Chương trình Ngữ dụng học ở trường  
trung học hiện nay không thể được cấu trúc theo đường thẳng, đi từ thấp đến cao cho toàn  
bậc học. Nếu chương trình được cấu trúc theo đường thẳng thì không đảm bảo rèn luyện kĩ  
năng giao tiếp (mang tính tổng thể) cho học sinh. Mặt khác, chương trình Ngữ dụng học ở  
trường trung học cũng không thể cấu trúc theo kiểu đồng tâm giữa THPT với THCS, vì như  
vậy sẽ làm cho chương trình nặng nề. Do đó, việc xây dựng cấu trúc chương trình Ngữ dụng  
học như hiện nay là một cách làm có tính khả thi hơn cả.  
b) Kiến thức vừa sức, bảo đảm tính hệ thống, tính thực tiễn  
Với nội dung chương trình như trên, các nội dung Ngữ dụng học trong SGK ở trường  
trung học được biên soạn thành những bài học có nội dung kiến thức vừa sức với học sinh,  
bảo đảm tính hệ thống, tính thực tiễn. SGK Ngữ văn trung học hiện hành không sa đà vào lí  
thuyết, không giải thích, diễn giải dài dòng về các khái niệm và chọn giải pháp đơn giản khi  
thể hiện những nội dung phức tạp, có nhiều quan điểm khác nhau. Bài học mới trong phần  
Ngữ dụng học ở trường trung học đều có sự liên hệ với chương trình lớp dưới hoặc bài học  
trước hoặc đặt trong sự gắn bó với nhận thức đời thường của người học, đặc biệt thông qua  
nhận thức, tư duy logic của học sinh trong thực tiễn giao tiếp. Nội dung của các bài học Ngữ  
dụng học ở SGK Ngữ văn hiện hành đều được xây dựng dựa trên mục tiêu giúp cho học sinh  
biết vận dụng những kiến thức để sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp. Chẳng hạn, sách Ngữ  
872  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Phan Thanh Bảo Trân và tgk  
văn lớp 9, tập 1 có nội dung về Ngữ dụng học là Các phương châm hội thoại, nội dung này  
được phân bổ thành ba bài học, ở bài học đầu tiên (Các phương châm hội thoại, trang 6-11)  
các nhà biên soạn đã xác định rõ mục tiêu cần đạt của bài học là “Giúp HS biết vận dụng  
những phương châm này trong giao tiếp” (trang 6) và mục tiêu này được thể hiện rõ ở phần  
Luyện tập của bài học này (trang 8-11). Cụ thể, phần Luyện tập của bài này có câu 1 (trang  
10) là dạng bài tập vận dụng sự hiểu biết về phương châm về lượng để phân tích lỗi câu như  
lặp từ ngữ, thừa từ ngữ. Mặc dù các câu được đưa ra không có ngữ cảnh giao tiếp của một  
cuộc hội thoại nhưng đều là các câu có lỗi và bài tập nhằm rèn luyện kĩ năng diễn đạt cho  
học sinh. Tương tự, bài học Các phương châm hội thoại (tiếp theo) (trang 22-24) có bài tập  
vận dụng phương châm lịch sự để giải thích các trường hợp người nói sử dụng các cách mở  
đầu câu nói như “nhân tiện đây xin hỏi”, “cực chẳng đã tôi phải nói”, “tôi nói điều này có gì  
không phải anh bỏ qua cho”… (câu 4, Luyện tập). Tiếp theo, SGK Ngữ văn 12, tập 2 có nội  
dung về Ngữ dụng học gồm các bài như: Nhân vật giao tiếp, Thực hành về hàm ý và Hoạt  
động giao tiếp bằng ngôn ngữ, trong đó, bài Thực hành về hàm ý cũng được các nhà biên  
soạn xác định rõ kết quả cần đạt của bài học là giúp học sinh “có kĩ năng lĩnh hội được hàm  
ý, kĩ năng nói, viết câu có hàm ý trong ngữ cảnh cần thiết” (trang 79). Bài học này có bài tập  
phân tích câu nói của nhân vật (trong đoạn trích cho sẵn) trên cơ sở ngữ cảnh, nghĩa tường  
minh của câu để suy ra hàm ý của câu nói (SGK Ngữ văn 12, tập 2, trang 79, Thực hành về  
hàm ý). Từ đó, bài tập giúp học sinh biết cách thức để tạo câu có hàm ý, cũng như giúp học  
sinh nhận biết và hiểu các câu có hàm ý. Như vậy, chúng ta thấy kiến thức Ngữ dụng học  
trong SGK Ngữ văn trung học luôn gắn lí thuyết với hoạt động thực tiễn.  
2.2.2. Nhược điểm  
Vì chương trình và SGK phổ thông sắp thay mới, hơn nữa vì dung lượng bài viết có  
hạn, nên trong phần này chúng tôi bỏ qua những nhược điểm có tính chất tiểu tiết như các  
lỗi về dùng từ, ngữ pháp, diễn đạt... chỉ đi vào những nhược điểm mang tính tổng thể, có  
tính chất toàn cục.  
a) Chương trình chưa cân đối giữa bậc THCS và THPT  
Tuy cấu trúc chương trình phần Ngữ dụng học ở trường trung học hiện nay khá hợp lí,  
nhưng trọng tâm của nó tập trung ở bậc THCS (lớp 8 và lớp 9, gồm 5 chủ điểm/9 chủ điểm  
dạy học, 10 tiết /16 tiết học của chương trình). Phần Ngữ dụng học ở THPT thực sự chỉ  
chiếm 3 chủ điểm/9 chủ điểm dạy học (vì bài Thực hành hàm ý là đồng tâm với nội dung đã  
học ở lớp 9), và có 6 tiết/16 tiết học. Theo chúng tôi, sự phân bố chương trình như vậy là  
chưa cân đối. Nguyên nhân có thể do một số nội dung Ngữ dụng học chưa được khai thác  
để đưa vào chương trình như Chiếu vật và chỉ xuất, Lí thuyết lập luận và một số nội dung  
giúp phát triển nhận thức và năng lực giao tiếp của học sinh như Chiến lược giao tiếp, Sự  
khác biệt về văn hóa giao tiếp giữa các dân tộc... cũng chưa được khai thác.  
873  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 5 (2021): 866-876  
b) Bài tập nặng về tính phân tích, giải thích  
Bảng 3 cho thấy, việc phân bố các loại bài tập trong SGK Ngữ văn trung học (phần  
Ngữ dụng học) chưa hợp lí. Loại bài tập phân tích (giải thích) chiếm tỉ lệ 70,3%, còn loại  
bài tập tạo lập (bài tập yêu cầu học sinh nói, viết câu, đoạn văn, văn bản ngắn) chỉ chiếm tỉ  
lệ 1,5%. Hệ thống bài tập như vậy nặng về lí thuyết. Nhìn chung, hệ thống bài tập Ngữ dụng  
học trong SGK Ngữ văn ở trường trung học hiện nay còn nặng tư duy của người dạy văn,  
cảm thụ văn, chưa tập trung vào việc phát triển các kĩ năng nói viết cho học sinh (tức là kĩ  
năng tạo ra sản phẩm ngôn ngữ, không phải kĩ năng phân tích, lí giải sản phẩm ngôn ngữ).  
Chẳng hạn bài tập số 2, SGK Ngữ văn 8, tập 2, trang 103-106 yêu cầu học sinh phân tích  
một ngữ liệu văn chương trích từ tiểu thuyết “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố dài 4 trang SGK.  
Theo chúng tôi, dạy tiếng Việt như vậy còn thiên về dạy Văn. Thay vì tập trung vào phân  
tích văn chương, bài tập thực hành Ngữ dụng học nên đa dạng hóa các loại bài tập, đưa thêm  
vào các bài tập nói và viết theo ngữ cảnh.  
c) Ngữ liệu mang tính sách vở  
Vấn đề thứ hai là SGK hiện hành sử dụng quá nhiều ngữ liệu văn chương để dạy học  
phần Ngữ dụng học. Số liệu thống kê trong Bảng 4 cho thấy SGK Ngữ văn trung học hiện  
hành sử dụng tới 70,7% là ngữ liệu văn chương (phần lớn ngữ liệu này phản ánh thực tiễn  
giao tiếp của người Việt những năm đầu thế kỉ XX), trong khi đó ngữ liệu ngôn ngữ sinh  
hoạt hằng ngày là 9,7%. Một ví dụ khá điển hình cho việc tổ chức các tình huống thực hành  
dựa trên định hướng ngữ liệu văn chương (không phải dựa vào tình huống thực tiễn) là bài  
tập số 1, SGK Ngữ văn 10, tập 1, trang 20. Bài tập này lấy câu ca dao: “Đêm trăng thanh  
anh mới hỏi nàng:/- Tre non đủ lá đan sàng hay chưa?” rồi yêu cầu học sinh xác định nhân  
vật giao tiếp (lứa tuổi, giới tính), bối cảnh giao tiếp, nội dung, mục đích giao tiếp, cách thức  
giao tiếp. Tình huống giao tiếp trong bài tập này là tình huống giao tiếp hư cấu, trong cuộc  
sống thực tế hiện nay không có chàng trai nào tỏ tình bằng cách nói như vậy. Thiết nghĩ,  
những bài tập mang tính sách vở, ít giá trị thực tiễn như thế cần phải lược bỏ.  
Theo chúng tôi, ngữ liệu dùng cho dạy học Ngữ dụng học nói riêng và dạy học phần  
Tiếng Việt nói chung trong SGK Ngữ văn trung học cần phải có tính chất độc lập tương đối  
với phần Văn vì một số mục tiêu đặc trưng của nó mà ngữ liệu văn chương không thể đáp  
ứng được.  
d) SGK chưa tạo được sự đột phá về phương pháp dạy học  
So với sách cũ, phần nội dung Ngữ dụng học trong SGK Ngữ văn trung học hiện nay  
là mới, nhưng cách tổ chức dạy học vẫn là cũ. Đường hướng chính của cách tổ chức dạy học  
này (tức cấu trúc bài học) là quy trình quy nạp - thực hành, lấy xuất phát điểm là ngữ liệu.  
Đây là kiểu dạy học truyền thống đã được áp dụng trong những lần thay sách trước đây.  
SGK hiện hành có cấu trúc bài học chưa thực sự phong phú, đa dạng, đặc biệt là chưa nổi  
bật được xuất phát điểm là tình huống giao tiếp thực tiễn. Vì vậy, từ góc độ nào đó, có thể  
nói, SGK hiện hành dù đã thay đổi nhưng chưa có đột phá về phương pháp dạy học.  
874  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Phan Thanh Bảo Trân và tgk  
2.3. Đề xuất  
Chương trình SGK Ngữ văn hiện hành cần bổ sung một số nội dung dạy học Ngữ dụng  
học mang tính thiết thực, có nhiều ứng dụng thực tiễn như Chiến lược giao tiếp, Sự khác biệt  
về văn hóa giao tiếp giữa các dân tộc… giúp phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh. Việc  
làm này cũng là hướng tới cách tiếp cận Ngữ dụng học hiểu theo nghĩa rộng.  
Song song đó, thay vì phân tích các ngữ liệu có sẵn, SGK cần bổ sung các bài tập yêu  
cầu học sinh nói và viết theo tình huống giao tiếp. Chẳng hạn, SGK có thể xây dựng các bài  
tập thực hành biên tập, biên kịch và thực hành diễn kịch, tập giao tiếp các đoạn hội thoại  
ngắn trên lớp, hoặc xây dựng bài tập thực hành dẫn chương trình cho các hoạt động như sinh  
hoạt tập thể của lớp, trò chơi tập thể… nhằm phát triển các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ, kĩ  
năng ứng xử trong giao tiếp.  
3.  
Kết luận  
Bài viết phân tích phần Ngữ dụng học trong SGK ở trường trung học hiện nay ở các  
mặt nội dung, cấu trúc, tính đáp ứng của chương trình, đồng thời chỉ ra những ưu điểm:  
Chương trình có nội dung và cấu trúc khá hợp lí; kiến thức vừa sức, bảo đảm tính hệ thống,  
tính thực tiễn… Tuy nhiên, chương trình còn có những điểm cần xem xét là: Chương trình  
chưa cân đối giữa bậc THCS và THPT; bài tập nặng về tính phân tích, giải thích; ngữ liệu  
mang tính sách vở; SGK chưa tạo được sự đột phá về phương pháp dạy học. Để chương trình  
Ngữ dụng học ở trường trung học thực sự có những đổi mới về nội dung và đột phá về  
phương pháp dạy học, chúng ta cần có những cải tiến về ngữ liệu, cấu trúc bài học, hệ thống  
bài tập, nội dung kiến thức... sao cho phần nội dung chương trình này giữ đúng đặc trưng  
của nó, đó là khoa học về việc sử dụng ngôn ngữ trong ngữ cảnh và phục vụ tốt nhất cho  
việc phát triển các kĩ năng giao tiếp thực tiễn của học sinh.  
❖ Tuyên bố về quyền lợi: Cá c tá c giả xá c nhận hoàn toàn không có xung đột về quyền lợi.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Brown, K. (ed.) (2006). Encyclopedia of language and linguistics. pdf. New York: Elsevie.  
Do, H. C. (2005). Do Huu Chau tuyen tap, tap 2, Dai cuong, Ngu dung, Ngu phap van ban [Do Huu  
Chau collection, Vol.2, General, Pragmatics, Text Grammar]. Hanoi: Education Publishing  
House.  
Mey, J. L. (2006). “Pragmatics: Overview” in Brown, K. ed. (2006). Encyclopedia of language and  
linguistics. pdf. New York: Elsevie, p. 8339-8349.  
Nguyen, T. G. (2000). Dung hoc Viet ngu [Vietnamese Pragmatics]. Hanoi: Vietnam National  
University Publishing House.  
Nguyen, K. P. (Chief Editor) (2004). Sach giao khoa Ngu van 8, tap 2 [Literature 8, Vol.2  
(Textbook)]. Hanoi: Education Publishing House.  
875  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 5 (2021): 866-876  
Nguyen, K. P. (Chief Editor) (2005). Sach giao khoa Ngu van 9, tap 2 [Literature 9, Vol.1 & 2  
(Textbook)]. Hanoi: Education Publishing House.  
Nerlich, B. (2006). “Pragmatics: History” in Brown, K. ed. (2006). Encyclopedia of language and  
linguistics [“Ngu dung hoc: Lich su”; In trong Bach khoa Ngon ngu va Ngon ngu hoc]. pdf.  
New York: Elsevie, 8321-8329.  
Phan, T. L. (Chief Editor) (2007). Sach giao khoa Ngu van 11, tap 1 [Literature 11, Vol.1  
(Textbook)]. Hanoi: Education Publishing House.  
Phan, T. L. (Chief Editor) (2010). Sach giao vien Ngu van 12, tap 2 [Literature 12, Vol.2 (Teacher  
Textbook)]. Hanoi: Education Publishing House.  
Phan, T. L. (Chief Editor) (2019). Sach giao vien Ngu van 10, tap 1 [Literature 10, Vol.1 (Teacher  
Textbook)]. Hanoi: Education Publishing House.  
Wales, K. (2011). A Dictionary of Stylistics (Third edition). London & New York: Routledge.  
DISCUSSIONS ABOUT THE PRAGMATICS CURRICULUM AND TEXTBOOK  
IN HIGH SCHOOLS  
Phan Thanh Bao Tran1*, Phan Thach Son Truc2, Huynh Thanh Danh3  
1University of Social Sciences and Humanities, Vietnam National University Ho Chi Minh City, Vietnam  
2Phu Thu Secondary School, Can Tho City, Vietnam  
3Tay Do University, Can Tho City, Vietnam  
*Corresponding author: Phan Thanh Bao Tran – Email: [email protected]  
Received: March 22, 2021; Revised: April 06, 2021; Accepted: May 17, 2021  
ABSTRACT  
This article analyzes the content, structure and appropriateness of the pragmatic aspect in the  
current curriculum to develop students’ language competence. After briefly describing the current  
status of the curriculum and the textbook of the current middle and high schools, the article  
thoroughly analyzes its disadvantages (imbalanced between middle and high school, heavy exercises  
on analytical and explanatory properties, too theoretical linguistic materials, textbooks with limited  
breakthrough for teaching methods) and proposes some points to adjust, supplement and improve  
the curriculum. The review and evaluation in the article also show that teachers need to choose  
appropriate teaching methods so that the Vietnamese language and literature will not be taught  
separately as they are currently.  
Keywords: program; pragmatics; pragmatics in secondary and high school education;  
textbooks  
876  
pdf 11 trang yennguyen 17240 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một vài suy nghĩ về chương trình và sách giáo khoa phần Ngữ dụng học ở trường trung học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_vai_suy_nghi_ve_chuong_trinh_va_sach_giao_khoa_phan_ngu.pdf