Tóm tắt Luận án Phương pháp lặp giải bài toán biên hai điểm cho phương trình và hệ phương trình vi phân cấp bốn

MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của luận án  
Nhiều bài toán trong vật lý, cơ học và một số lĩnh vực khác được mô tả bởi  
các phương trình và hệ phương trình vi phân với các điều kiện biên khác nhau.  
Có thể chia phương trình vi phân cấp bốn thành hai dạng: phương trình vi phân  
cấp bốn không đầy đủ và phương trình vi phân cấp bốn đầy đủ. Phương trình  
vi phân cấp bốn mà trong đó hàm vế phải chứa ẩn hàm và chứa đầy đủ các đạo  
hàm các cấp của nó (từ cấp một đến cấp ba) được gọi là phương trình vi phân  
cấp bốn đầy đủ. Ngược lại, phương trình được gọi là phương trình vi phân cấp  
bốn không đầy đủ.  
Bài toán biên đối với phương trình vi phân đã thu hút được sự quan tâm của  
các nhà khoa học như Alve, Amster, Bai, Li, Ma, Feng, Minhós,.... Một số nhà  
toán học và cơ học Việt Nam, như Đặng Quang Á, Phạm Kỳ Anh, Nguyễn Văn  
Đạo, Nguyễn Đông Anh, Lê Xuân Cận, Nguyễn Hữu Công, Lê Lương Tài, ... cũng  
nghiên cứu các phương pháp giải bài toán biên cho phương trình vi phân.  
Trong số các phương trình vi phân thì phương trình vi phân phi tuyến cấp  
bốn được quan tâm rất nhiều trong thời gian gần đây vì nó là mô hình toán học  
của nhiều bài toán trong cơ học. Dưới đây chúng tôi điểm qua một số bài toán  
biên đối với phương trình vi phân phi tuyến cấp bốn.  
Đầu tiên, xét bài toán về dầm trên nền đàn hồi được mô tả bởi phương trình  
vi phân phi tuyến cấp bốn dạng  
u(4)(x) = f(x, u(x), u00(x))  
(0.0.2)  
hoặc  
u(4)(x) = f(x, u(x), u0(x))  
(0.0.3)  
trong đó u là độ võng của dầm, 0 ≤ x ≤ L. Các điều kiện biên tại hai đầu của  
dầm được cho phụ thuộc vào ràng buộc của bài toán. Đã có một số kết quả nghiên  
cứu về định tính của các bài toán biên đối với các phương trình vi phân trên như  
sự tồn tại, tính duy nhất và tính dương của nghiệm. Đáng chú ý phải kể đến các  
bài báo của Alves và cộng sự (2009), Amster và cộng sự (2008), Bai (2004), Li  
(2010), Ma và cộng sự (1997),..., ở đó phương pháp nghiệm trên và nghiệm dưới,  
phương pháp biến phân, các định lý điểm bất động được sử dụng. Trong các bài  
1
báo này điều kiện về tính bị chặn của hàm vế phải f(x, u, v) hoặc về bậc tăng  
trưởng của nó tại vô cùng là không thể thiếu được.  
Trong các bài báo đã nhắc đến ở trên, phương trình vi phân cấp bốn không  
chứa đạo hàm cấp ba. Khoảng hơn chục năm trở lại đây, phương trình vi phân  
cấp bốn đầy đủ, cụ thể là phương trình  
u(4)(x) = f(x, u(x), u0(x), u00(x), u000(x))  
(0.0.6)  
thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả (xem Ehme và cộng sự (2002), Feng và  
cộng sự (2009), Li và cộng sự (2013), Li (2016), Minhós và cộng sự (2009), Pei  
và cộng sự (2011),...). Các kết quả chính trong các bài báo trên là nghiên cứu sự  
tồn tại, tính duy nhất và tính dương của nghiệm. Các công cụ được sử dụng là lý  
thuyết bậc Leray-Schauder (xem Pei và cộng sự (2011)), định lý điểm bất động  
Schauder trên cơ sở sử dụng phương pháp đơn điệu với nghiệm dưới và nghiệm  
trên (xem Bai (2007), Ehme và cộng sự (2002), Feng và cộng sự (2009), Minhós  
và cộng sự (2009)) hoặc giải tích Fourier (xem Li và Liang (2013)).  
Tuy nhiên, trong tất cả các bài báo nêu trên, các tác giả cần đến một giả thiết  
rất quan trọng là hàm f : [0, 1] × R4 → R thỏa mãn điều kiện Nagumo và một  
số điều kiện khác về tính đơn điệu và tăng trưởng tại vô cùng. Cần lưu ý rằng,  
trong phương pháp đơn điệu, giả thiết tìm được nghiệm dưới và nghiệm trên luôn  
luôn cần thiết nhưng việc tìm chúng nói chung không dễ dàng.  
Các bài toán về hệ phương trình vi phân cấp bốn được nghiên cứu chưa nhiều,  
chẳng hạn Kang và cộng sự (2012), Lu¨ và cộng sự (2005), Zhu và cộng sự (2010),  
trong đó các tác giả xét phương trình vi phân chỉ chứa các đạo hàm cấp chẵn.  
Với các điều kiện phức tạp, bằng việc sử dụng định lý chỉ số điểm bất động trên  
nón, các tác giả đã thu được sự tồn tại nghiệm dương. Tuy nhiên, các kết quả đạt  
được là có tính lý thuyết thuần túy vì không có ví dụ nào minh họa sự tồn tại  
nghiệm.  
Minhós và Coxe (2017, 2018) là các tác giả đầu tiên xét hệ hai phương trình  
vi phân cấp bốn đầy đủ. Tác giả đã đưa ra các điều kiện đủ cho tính giải được  
của hệ bằng việc sử dụng phương pháp nghiệm dưới, nghiệm trên và Định lý điểm  
bất động Schauder. Chứng minh kết quả này rất cồng kềnh và phức tạp, đòi hỏi  
điều kiện Nagumo đối với các hàm f và h.  
Mặc dù đã có các thành tựu quan trọng đạt được trong việc nghiên cứu định  
tính và tìm lời giải của các bài toán biên phi tuyến, song sự phát triển của các  
lĩnh vực ứng dụng như cơ học, vật lý, sinh học,. . . luôn đặt ra các bài bài toán  
mới phức tạp trong phương trình cũng như các điều kiện biên. Các bài toán này  
có ý nghĩa quan trọng trong khoa học và thực tiễn. Hơn nữa, trong các bài báo  
kể trên, các điều kiện đưa ra phức tạp và khó kiểm tra, trong đó hạn chế về điều  
kiện Nagumo và điều kiện tăng trưởng tại vô cùng của hàm vế phải. Với phương  
pháp đơn điệu, giả thiết tìm được nghiệm dưới và nghiệm trên luôn luôn cần thiết  
nhưng việc tìm chúng nói chung không dễ dàng. Mặt khác, một số bài báo chưa  
có ví dụ minh họa cho các kết quả lý thuyết. Chính vì thế, việc tiếp tục nghiên  
cứu cả về mặt định tính và định lượng các bài toán mới cho phương trình và hệ  
phương trình vi phân cấp bốn với các điều kiện biên khác nhau là rất có ý nghĩa  
2
khoa học và thực tiễn.  
Đó là lý do vì sao chúng tôi chọn đề tài: "Phương pháp lặp giải bài toán biên  
hai điểm cho phương trình và hệ phương trình vi phân cấp bốn".  
2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của luận án  
Mục tiêu của luận án là phát triển phương pháp lặp kết hợp với các phương  
pháp khác để thiết lập định tính và đặc biệt là phương pháp giải số một số bài  
toán biên hai điểm đối với phương trình và hệ phương trình vi phân phi tuyến  
cấp bốn nảy sinh trong lý thuyết uốn của dầm, trong đó không dùng đến điều  
kiện tăng trưởng tại vô cùng, điều kiện Nagumo... của hàm vế phải.  
3. Phương pháp và nội dung nghiên cứu  
Sử dụng cách tiếp cận đưa các bài toán biên phi tuyến về phương trình toán  
tử đối với hàm dựa trên vế phải, cùng với các công cụ của toán giải tích, giải tích  
hàm, lý thuyết phương trình vi phân, chúng tôi nghiên cứu sự tồn tại, duy nhất  
và một số tính chất đối với nghiệm của một số bài toán đối với phương trình và  
hệ phương trình vi phân phi tuyến cấp bốn không đầy đủ và đầy đủ.  
Cũng trên cơ sở phương trình toán tử, chúng tôi xây dựng phương pháp lặp  
tìm nghiệm của các bài toán và chứng minh sự hội tụ của phương pháp.  
Một số ví dụ được đưa ra, trong đó biết trước hoặc không biết trước nghiệm  
đúng, để minh họa tính đúng đắn của các kết quả lý thuyết và thực hiện tính  
toán trên máy tính điện tử để kiểm tra sự hội tụ của các thuật toán.  
4. Kết quả đạt được của luận án  
Luận án đề xuất phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp lặp giải  
bài toán biên đối với phương trình và hệ phương trình vi phân phi tuyến cấp bốn  
không đầy đủ và đầy đủ nhờ sử dụng cách tiếp cận đưa bài toán về phương trình  
toán tử đối với hàm dựa trên vế phải. Các kết quả đạt được là:  
• Thiết lập được sự tồn tại, duy nhất và một số tính chất đối với nghiệm của các  
bài toán dưới các điều kiện dễ kiểm tra.  
• Đề xuất phương pháp lặp giải các bài toán này và chứng minh sự hội tụ của  
phương pháp với tốc độ cấp số nhân.  
• Đưa ra một số ví dụ minh họa cho khả năng ứng dụng của các kết quả lý thuyết,  
trong đó có các ví dụ mà sự tồn tại hoặc tính duy nhất nghiệm của chúng không  
được bảo đảm bởi các tác giả khác do không thỏa mãn các điều kiện trong các  
định lý của họ.  
• Các thực nghiệm tính toán minh họa tính hiệu quả của phương pháp lặp.  
Luận án được viết trên cơ sở các bài báo [1]-[6] trong danh mục các công trình  
của tác giả liên quan đến luận án.  
3
5. Cấu trúc của luận án  
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận  
án gồm 3 chương:  
Chương 1 trình bày các kiến thức bổ trợ bao gồm một số định lý điểm bất  
động; phương pháp đơn điệu giải bài toán biên đối với phương trình vi phân; hàm  
Green đối với một số bài toán và phương pháp số giải phương trình vi phân. Các  
kiến thức cơ bản trong Chương 1 đóng vai trò rất quan trọng, làm nền tảng cho  
các kết quả sẽ được trình bày trong Chương 2 và Chương 3.  
Trong Chương 2, bằng cách tiếp cận đưa các bài toán biên phi tuyến về phương  
trình toán tử đối với hàm dựa trên vế phải, chứ không phải đối với ẩn hàm, chúng  
tôi đã thiết lập sự tồn tại, duy nhất và một số tính chất của nghiệm đối với một  
số bài toán cho phương trình vi phân phi tuyến cấp bốn không đầy đủ và đầy đủ.  
Cũng trên cơ sở phương trình toán tử, chúng tôi xây dựng phương pháp lặp tìm  
nghiệm của các bài toán và chứng minh sự hội tụ của phương pháp. Một số ví dụ,  
trong đó biết trước hoặc không biết trước nghiệm đúng được đưa ra đã minh họa  
cho tính đúng đắn của các kết quả lý thuyết và hiệu quả của phương pháp lặp.  
Tiếp tục phát triển các kỹ thuật của Chương 2, trong Chương 3, đối với hệ  
hai phương trình vi phân phi tuyến cấp bốn không đầy đủ và đầy đủ, chúng tôi  
cũng thu được các kết quả về sự tồn tại, duy nhất nghiệm và sự hội tụ của phương  
pháp lặp. Các kết quả này làm phong phú thêm và khẳng định tính hiệu quả của  
cách tiếp cận đưa các bài toán biên phi tuyến về phương trình toán tử đối với  
hàm dựa trên vế phải.  
Trong luận án, các kết quả lý thuyết đã được kiểm tra bằng các thực nghiệm  
tính toán được lập trình trong môi trường MATLAB 7.0 trên máy tính PC với  
CPU Intel Core i3, 4GB RAM.  
4
Chương 1  
Kiến thức bổ trợ  
Chương này trình bày một số kiến thức chuẩn bị cần thiết cho các chương tiếp  
theo được tham khảo từ các tài liệu Ladde (1985), Melnikov và cộng sự (2012),  
Samarskii và cộng sự (1989), Zeidler (1986).  
1.1 Một số định lý điểm bất động  
Trong mục này, chúng tôi trình bày ba định lý điểm bất động có ứng dụng  
nhiều trong nghiên cứu sự tồn tại, duy nhất nghiệm của các phương trình vi phân:  
Định lý điểm bất động Banach, Định lý điểm bất động Brouwer, Định lý điểm  
bất động Schauder.  
1.2 Phương pháp đơn điệu giải bài toán biên đối  
với phương trình vi phân  
Một trong các phương pháp khá phổ biến nghiên cứu định tính (sự tồn tại,  
duy nhất) của nghiệm và xây dựng nghiệm gần đúng của phương trình vi phân  
là phương pháp đơn điệu. Phương pháp đơn điệu sử dụng nghiệm dưới và nghiệm  
trên đối với bài toán biên phi tuyến đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu  
trong những năm gần đây. Phương pháp này phổ biến vì nó không chỉ đưa ra  
cách chứng minh các định lý tồn tại mà còn dẫn đến các kết quả so sánh khác  
nhau, đó là kỹ thuật hiệu quả để nghiên cứu các tính chất định tính của nghiệm.  
Ý tưởng chung của phương pháp này là xuất phát từ hai hàm α và β tương  
ứng được gọi là nghiệm dưới (lower solution) và nghiệm trên (upper solution) của  
bài toán, người ta xây dựng nhờ quá trình lặp hai dãy hàm αk và βk hội tụ đơn  
điệu từ hai phía tới các hàm u và u thỏa mãn điều kiện  
α ≤ α1 ≤ α2 ≤ ... ≤ αk ≤ ... ≤ u ≤ u ≤ ... ≤ βk ≤ ... ≤ β2 ≤ β1 ≤ β.  
Trong trường hợp u = u, bài toán có nghiệm duy nhất trong dải < α, β >, nếu  
khác, bài toán có nghiệm cực trị dưới và nghiệm cực trị trên.  
5
1.3 Hàm Green đối với một số bài toán  
Hàm Green có ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu các bài toán giá trị biên.  
Đặc biệt, hàm Green là công cụ quan trọng để chỉ ra sự tồn tại và duy nhất  
nghiệm của các bài toán.  
Xét bài toán giá trị biên tuyến tính thuần nhất  
dny  
dxn  
dn−1  
y
dxn−1  
L[y(x)] ≡ p0(x)  
+ p1(x)  
+ ... + pn(x)y = 0,  
(1.3.1)  
(1.3.2)  
ꢀ
ꢁ
n−1  
dky(a)  
dky(b)  
dxk  
X
Mi(y(a), y(b)) ≡  
αki  
+ βki  
= 0, i = 1, ...n,  
dxk  
k=0  
trong đó pi(x), i = 0, ...n là các hàm liên tục trên (a, b), p0(x) = 0 với mọi điểm  
thuộc (a, b).  
Định nghĩa 1.4. (Melnikov và cộng sự (2012)) Hàm G(x, t) được gọi là hàm  
Green của bài toán giá trị biên (1.3.1)-(1.3.2) nếu xem như hàm của biến x, nó  
thỏa mãn các điều kiện dưới đây với mọi t ∈ (a, b) :  
(i) Trên [a, t) và (t, b], G(x, t) là hàm liên tục, có các đạo hàm liên tục tới cấp n  
và thỏa mãn phương trình (1.3.1) trên (a, t) và (t, b), tức là:  
L[G(x, t)] = 0, x ∈ (a, t); L[G(x, t)] = 0, x ∈ (t, b).  
(ii) G(x, t) phải thỏa mãn các điều kiện biên trong (1.3.2), tức là  
Mi(G(a, t), G(b, t)) = 0, i = 1, ..., n.  
(iii) Tại x = t, G(x, t) và tất cả các đạo hàm riêng theo biến x tới cấp (n − 2) là  
các hàm liên tục  
∂kG(x, t)  
∂kG(x, t)  
lim  
− lim  
= 0, k = 0, ..., n − 2.  
∂xk  
∂xk  
x→t+  
x→t−  
(iv) Đạo hàm riêng cấp (n − 1) theo biến x của G(x, t) là gián đoạn khi x = t,  
cụ thể  
∂
n−1G(x, t)  
∂xn−1  
∂
n−1G(x, t)  
∂xn−1  
1
lim  
− lim  
= −  
.
x→t+  
x→t−  
p0(t)  
Định lý sau chỉ ra điều kiện về sự tồn tại và duy nhất của hàm Green.  
Định lý 1.6. (Melnikov và cộng sự (2012)) (Tồn tại và duy nhất). Nếu bài toán  
giá trị biên thuần nhất trong (1.3.1)-(1.3.2) chỉ có nghiệm tầm thường thì tồn tại  
duy nhất hàm Green tương ứng với bài toán.  
Xét phương trình vi phân tuyến tính không thuần nhất  
dny  
dxn  
dn−1  
y
dxn−1  
L[y(x)] ≡ p0(x)  
+ p1(x)  
+ ... + pn(x)y = −f(x),  
(1.3.3)  
6
với các điều kiện biên thuần nhất  
ꢀ
ꢁ
n−1  
dky(a)  
dxk  
dky(b)  
dxk  
X
Mi(y(a), y(b)) ≡  
αki  
+ βki  
= 0, i = 1, ...n.  
(1.3.4)  
k=0  
trong đó các hệ số pj(x) và các hàm vế phải f(x) trong phương trình (1.3.3) là  
các hàm liên tục, với p0(x) = 0 trên (a, b) và Mi biểu diễn các dạng độc lập tuyến  
tính với các hệ số hằng.  
Định lý sau thể hiện mối quan hệ giữa tính duy nhất nghiệm của (1.3.3)-(1.3.4)  
với bài toán thuần nhất tương ứng.  
Định lý 1.7. (Melnikov và cộng sự (2012)) Nếu bài toán giá trị biên thuần nhất  
tương ứng với (1.3.3)-(1.3.4) chỉ có nghiệm tầm thường thì bài toán (1.3.3)-(1.3.4)  
có nghiệm duy nhất biểu diễn dưới dạng  
Z
b
y(x) =  
G(x, t)f(t)dt,  
a
trong đó G(x, t) là hàm Green của bài toán thuần nhất tương ứng.  
1.4 Phương pháp số giải phương trình vi phân  
Để giải các bài toán biên đối với phương trình vi phân, người ta chỉ có thể tìm  
được nghiệm giải tích của chúng trong một số rất ít các trường hợp đặc biệt còn  
đại đa số các trường hợp buộc phải sử dụng phương pháp giải gần đúng. Phương  
pháp sai phân là một trong những phương pháp số giải gần đúng phương trình  
vi phân. Ý tưởng chung của các phương pháp sai phân là đưa bài toán vi phân  
về bài toán rời rạc trên một lưới điểm dẫn đến việc giải hệ phương trình đại số  
tuyến tính.  
Bài toán giá trị biên đối với các phương trình vi phân cấp hai, bằng phương  
pháp sai phân ba điểm dẫn đến giải hệ phương trình có ma trận hệ số dạng ba  
đường chéo. Một trong các phương pháp trực tiếp hữu hiệu giải hệ này là phương  
pháp truy đuổi (một dạng đặc biệt của phương pháp khử). Trong mục 1.4 chúng  
tôi trình bày chi tiết phương pháp truy đuổi giải hệ ba đường chéo (xem Samarskii  
và cộng sự (1989)).  
7
Chương 2  
Phương pháp lặp giải bài toán biên  
đối với phương trình vi phân  
phi tuyến cấp bốn  
Các bài toán giá trị biên đối với phương trình phi tuyến cấp bốn với các điều  
kiện biên khác nhau đã được nghiên cứu trong một số bài báo trong những năm  
gần đây. Sự tồn tại nghiệm của các bài toán này được thiết lập nhờ sử dụng lý  
thuyết bậc Leray-Schauder (Pei và Chang (2011)), định lý điểm bất động Schauder  
trên cơ sở sử dụng phương pháp đơn điệu với nghiệm dưới và nghiệm trên, chẳng  
hạn, Bai (2007), Ehme và cộng sự (2002), Feng và cộng sự (2009), Minhós và cộng  
sự (2009) hoặc giải tích Fourier (Li và Liang (2013)). Trong các bài báo này điều  
kiện về tính bị chặn của hàm vế phải hoặc về bậc tăng trưởng của nó tại vô cùng  
là không thể thiếu được. Trong các bài báo nêu trên, các tác giả đưa bài toán  
ban đầu về phương trình toán tử đối với ẩn hàm u(x). Khác với cách tiếp cận đó,  
trong các bài báo [1]-[4], chúng tôi đưa bài toán ban đầu về phương trình toán tử  
đối với hàm dựa trên vế phải ϕ(x) = f(x, u(x), v(x), ...). Ý tưởng này bắt nguồn  
từ một bài báo trước đây của tác giả Đặng Quang Á (2006) khi nghiên cứu bài  
toán Neumann đối với phương trình kiểu song điều hòa. Xét trong miền bị chặn  
thích hợp, chúng tôi không dùng đến điều kiện tăng trưởng tại vô cùng, điều kiện  
Nagumo... của hàm vế phải. Khi đó, toán tử đối với ϕ dưới một số điều kiện dễ  
kiểm tra của hàm f trong miền bị chặn là toán tử co. Theo nguyên lý ánh xạ co,  
bài toán ban đầu có duy nhất nghiệm và đảm bảo sự hội tụ của phương pháp lặp  
tìm nghiệm xấp xỉ. Tính dương của nghiệm và tính đơn điệu của dãy lặp cũng  
được chỉ ra. Một số ví dụ, trong đó nghiệm chính xác của bài toán đã biết hoặc  
chưa biết được đưa ra để minh họa cho các kết quả lý thuyết thu được.  
Các kết quả của chương này được trình bày trong các bài báo [1]-[4] trong  
danh mục các công trình của tác giả liên quan đến luận án. Cần nói thêm rằng,  
trong bài báo của tác giả Đặng quang Á và Trương Hà Hải (2016) đã phát triển  
phương pháp trên với phương trình elliptic cấp bốn phi tuyến.  
8
2.1 Bài toán biên đối với phương trình vi phân  
phi tuyến cấp bốn không đầy đủ  
Phần này tập trung nghiên cứu bài toán biên đối với phương trình vi phân  
phi tuyến cấp bốn không đầy đủ mô tả độ võng của dầm trên nền đàn hồi với hai  
đầu được gối-tựa đơn giản dạng  
u(4)(x) = f(x, u(x), u00(x)), 0 < x < 1,  
(2.1.1)  
u(0) = u(1) = u00(0) = u00(1) = 0.  
trong đó f : [0, 1]×R2 → R là hàm liên tục. Bài toán đã thu hút sự quan tâm của  
nhiều tác giả vì nó có ý nghĩa quan trọng trong cơ học, chẳng hạn Aftabizadeh  
(1986), Ma và cộng sự (1997), Bai và cộng sự (2004), Li (2010)... Trong các bài  
báo này, điều kiện về tính bị chặn của hàm vế phải hoặc về bậc tăng trưởng của  
nó tại vô cùng là không thể thiếu được.  
Trong bài báo [2], chúng tôi cũng xét bài toán (2.1.1). Khác với cách tiếp cận  
của các tác giả khác, chúng tôi đưa bài toán ban đầu về phương trình toán tử đối  
với hàm dựa trên vế phải và chứng tỏ rằng toán tử này trong một số điều kiện  
dễ kiểm tra có tính chất co. Điều này bảo đảm bài toán gốc có nghiệm duy nhất  
sinh bởi điểm bất động của toán tử và sự hội tụ của phương pháp lặp xây dựng  
nghiệm gần đúng.  
Để nghiên cứu bài toán (2.1.1), với ϕ ∈ C[0, 1], ta xét phương trình toán tử  
ϕ = Aϕ,  
(2.1.2)  
trong đó A là toán tử được xác định như sau  
(Aϕ)(x) = f(x, uϕ(x), vϕ(x)).  
(2.1.3)  
Ở đây vϕ(x), uϕ(x) được xác định từ các bài toán  
ꢂ
vϕ00 = ϕ(x), 0 < x < 1,  
vϕ(0) = vϕ(1) = 0,  
(2.1.4)  
(2.1.5)  
ꢂ
u0ϕ0 = vϕ(x), 0 < x < 1,  
uϕ(0) = uϕ(1) = 0.  
Mệnh đề 2.1. (Mối liên hệ giữa nghiệm của bài toán (2.1.1) với nghiệm của  
phương trình toán tử (2.1.2)). Nếu ϕ(x) là nghiệm của (2.1.2) trong đó A được  
xác định bởi (2.1.3)-(2.1.5) thì uϕ(x) là nghiệm của bài toán (2.1.1) và ngược lại.  
Bổ đề 2.1. Giả sử v và u là nghiệm của các bài toán (2.1.4), (2.1.5). Khi đó, ta  
có các khẳng định sau:  
(i)  
1
1
kvk ≤ kϕk, kuk ≤ kϕk,  
(2.1.7)  
8
64  
trong đó k.k là chuẩn max trong C[0, 1].  
9
(ii) Nếu ϕ(x) ≥ 0 trong [0, 1] thì −kϕk/8 ≤ v(x) ≤ 0 và 0 ≤ u(x) ≤ kϕk/64  
trong [0, 1].  
Với mỗi số M > 0 ký hiệu  
ꢂ
ꢃ
M
M
DM = (x, u, v) | 0 ≤ x ≤ 1, |u| ≤ , |v| ≤  
,
(2.1.9)  
64  
8
và B[O, M] là hình cầu đóng tâm O với bán kính M trong không gian các hàm  
liên tục C[0, 1].  
Định lý 2.1. (Tính duy nhất nghiệm). Giả sử tồn tại các số M, L1, L2 ≥ 0 sao  
cho  
(i)  
|f(x, u, v)| ≤ M với mọi (x, u, v) ∈ DM .  
(2.1.10)  
(2.1.11)  
(ii)  
|f(x, u2, v2) − f(x, v1, u1)| ≤ L1|u2 − u1| + L2|v2 − v1|  
với mọi (x, ui, vi) ∈ DM , i = 1, 2.  
(iii)  
1
q := (L1 + 8L2) < 1.  
(2.1.12)  
64  
Khi đó bài toán (2.1.1) có nghiệm duy nhất u(x) ∈ C[0, 1] thỏa mãn đánh giá  
kuk ≤ M/64.  
Xét trường hợp đặc biệt của Định lý 2.1. Ký hiệu  
n
o
M
M
+
DM = (x, u, v) | x ∈ [0, 1], 0 ≤ u ≤ , − ≤ v ≤ 0 .  
(2.1.16)  
64  
8
Định lý 2.2.(Tính dương của nghiệm). Giả sử tồn tại các số M, L1, L2 ≥ 0 sao  
cho  
(i)  
+
0 ≤ f(x, u, v) ≤ M với mọi (x, u, v) ∈ DM .  
(2.1.17)  
(2.1.18)  
(ii)  
|f(x, u2, v2) − f(x, v1, u1)| ≤ L1|u2 − u1| + L2|v2 − v1|  
+
với mọi (x, ui, vi) ∈ DM , i = 1, 2.  
(iii)  
1
q := (L1 + 8L2) < 1.  
(2.1.19)  
64  
Khi đó bài toán (2.1.1) có nghiệm không âm duy nhất u(x) ∈ C[0, 1] thỏa mãn  
đánh giá 0 ≤ u(x) ≤ M/64.  
Xét quá trình lặp sau:  
10  
1. Cho xấp xỉ ban đầu  
ϕ0(x) ∈ B[O, M], chẳng hạn, ϕ0(x) = f(x, 0, 0).  
(2.1.20)  
2. Biết ϕk (k = 0, 1, ...) giải liên tiếp hai bài toán  
ꢂ
v00 = ϕk(x), 0 < x < 1,  
vkk(0) = vk(1) = 0,  
(2.1.21)  
(2.1.22)  
ꢂ
u00 = vk(x), 0 < x < 1,  
ukk(0) = uk(1) = 0.  
3. Cập nhật  
ϕk+1 = f(x, uk, vk).  
(2.1.23)  
Định lý 2.3. Với các giả thiết của Định lý 2.1 (hoặc Định lý 2.2) phương pháp  
lặp trên hội tụ với tốc độ cấp số nhân và có đánh giá sai số sau đây  
qk  
||uk − u|| ≤  
||ϕ1 − ϕ0||,  
(2.1.24)  
64(1 − q)  
trong đó u là nghiệm chính xác của bài toán (2.1.1) và q được xác định bởi (2.1.12).  
Bổ đề 2.2. (Tính chất đơn điệu) Giả sử tất cả các điều kiện của Định lý 2.1 được  
thỏa mãn. Hơn nữa, giả thiết rằng hàm f(x, u, v) tăng theo u và giảm theo v với  
mọi (x, u, v) ∈ DM . Khi đó, nếu ϕ(1), ϕ(2) ∈ B[O, M] là các xấp xỉ ban đầu và  
0
0
ϕ(01)(x) ≤ ϕ0(2)(x) với mọi x ∈ [0, 1] thì các dãy u(1), u(2) tạo ra bởi quá trình lặp  
k
k
thỏa mãn tính chất  
uk(1)(x) ≤ u(k2)(x), k = 0, 1, ...; x ∈ [0, 1].  
uk(1)(x) ≤ u(k2)(x), k = 0, 1, ...; x ∈ [0, 1].  
Định lý 2.4. Ký hiệu  
ϕmin min f(x, u, v), ϕmax = max f(x, u, v).  
=
(x,u,v)∈DM  
(x,u,v)∈DM  
Với các giả thiết của Bổ đề 2.2, nếu bắt đầu từ ϕ0 = ϕmin thì ta thu được dãy uk  
tăng, ngược lại, nếu bắt đầu từ ϕ0 = ϕmax thì ta thu được dãy uk giảm, cả hai dãy  
này hội tụ tới nghiệm chính xác u(x) của bài toán. Do đó, nếu ϕmin ≥ 0 thì bài  
toán có nghiệm không âm, ngược lại, nếu ϕmax ≤ 0 thì bài toán có nghiệm không  
dương.  
Các ví dụ trong một số bài báo của các tác giả Bai (2004), Ma và cộng sự  
(1997) thỏa mãn các điều kiện của chúng tôi đặt ra, do đó bài toán có nghiệm  
duy nhất, trong khi họ chỉ chứng minh được tồn tại nghiệm. Hơn nữa, các điều  
kiện chúng tôi đưa ra rất dễ kiểm tra. Thực nghiệm số trên các ví dụ này cho  
11  
thấy sự hội tụ nhanh của phương pháp lặp được đề xuất. Trong ví dụ dưới đây,  
lấy xấp xỉ ban đầu ϕ0 = f(x, 0, 0) và sử dụng lưới đều với số điểm lưới N = 100.  
Quá trình lặp được thực hiện cho đến khi  
ek = kuk − uk−1k ≤ 10−16  
.
(2.1.27)  
Sử dụng công bội r(k) = e(k)/e(k − 1) để minh họa tốc độ hội tụ thực tế của  
phương pháp lặp.  
Ví dụ 2.2. (xem Bai (2004)). Xét bài toán  
ꢂ
u(4)(x) = −5u00 − (u + 1)2 + sin2 πx + 1,  
u(0) = u(1) = u00(0) = u00(1) = 0.  
Trong ví dụ này  
f(x, u, v) = −5v − (u + 1)2 + sin2 πx + 1.  
Ta thấy các điều kiện của Định lý 2.1 thỏa mãn với M = 3.5, L1 = 2.11, L2 = 5  
và q ≈ 0.6580. Do đó, bài toán có nghiệm duy nhất và phương pháp lặp hội tụ.  
Thực nghiệm số chỉ ra sau k = 45 lần lặp thì quá trình lặp dừng với e45 =  
5.8981e − 017 và công bội thực tế là qact ≈ 0.4858 thay vì đánh giá lý thuyết  
q ≈ 0.6580 như trên. Công bội r(k) và một số nghiệm xấp xỉ được mô tả trong  
Hình 2.1. Từ hình vẽ này ta thấy tốc độ giảm của công bội rk hầu như không đổi.  
Hình 2.1: Công bội thực tế r(k) (trái) và một số nghiệm xấp xỉ (phải) trong Ví  
dụ 2.2.  
Chú ý rằng trong Bai (2004), tác giả chỉ có thể thiết lập sự tồn tại nhưng  
không đảm bảo tính duy nhất của nghiệm. Như Li (2010), Bai cũng sử dụng  
nghiệm dưới α = 0 và nghiệm trên β = sin πx. Dãy xấp xỉ αn, βn trong Bai  
(2004) được tạo ta bởi việc giải phương trình dạng u(4) +5u00 +4u = g(x) tại mỗi  
bước lặp. Phương trình này thật khó để giải vì toán tử vi phân này không thể  
phân tích thành tích của hai toán tử vi phân cấp hai.  
12  
2.2 Bài toán biên đối với phương trình vi phân  
phi tuyến cấp bốn đầy đủ  
Trong phần này, chúng tôi tập trung nghiên cứu bài toán biên cho phương  
trình vi phân phi tuyến cấp bốn đầy đủ với hai loại điều kiện biên khác nhau.  
2.2.1 Trường hợp các điều kiện biên dạng gối-tựa đơn giản  
Xét bài toán  
ꢂ
u(4)(x) = f(x, u(x), u0(x), u00(x), u000(x)), 0 < x < 1,  
(2.2.1)  
u(0) = u(1) = u00(0) = u00(1) = 0.  
trong đó f : [0, 1] × R4 → R là liên tục. Bài toán này mô tả dầm uốn đàn hồi với  
hai đầu được gối-tựa đơn giản.  
Với bài toán này, bằng phương pháp giải tích Fourier và định lý điểm bất động  
Leray-Schauder, năm 2013, Li và Liang đã thiết lập sự tồn tại nghiệm của bài  
toán dưới hạn chế về điều kiện tăng trưởng của hàm f(x, u, y, v, z) theo mỗi biến  
tại vô cùng.  
Trong bài báo [3], chúng tôi cũng xét bài toán (2.2.1). Phương pháp mà chúng  
tôi đưa ra khác phương pháp của các tác giả khác, đó là phát triển kỹ thuật trong  
[2] với bài toán giá trị biên cấp bốn đầy đủ và không đòi hỏi điều kiện bị chặn  
hoặc tăng trưởng tuyến tính của hàm vế phải tại vô cùng như trong Li và Liang  
(2013). Chúng tôi thu được kết quả về sự tồn tại và duy nhất của nghiệm và sự  
hội tụ của phương pháp lặp.  
Các kết quả thu được tương tự như trong bài báo [2] với  
n
M
DM = (x, u, y, v, z) | 0 ≤ x ≤ 1, |u| ≤  
,
64  
M
(2.2.9)  
o
M
M
|y| ≤ , |v| ≤ , |z| ≤  
16  
,
8
2
n
M
+
DM = (x, u, y, v, z)| 0 ≤ x ≤ 1; 0 ≤ u ≤  
M −M  
;
64  
≤ v ≤ 0; |z| ≤  
(2.2.22)  
o
M
|y| ≤  
;
,
16  
8
2
Chúng tôi đưa ra một số ví dụ minh họa cho các kết quả lý thuyết, trong đó có  
những ví dụ mà theo Li và Liang (2013) không đảm bảm được sự tồn tại nghiệm  
của bài toán nhưng sử dụng lý thuyết mà chúng tôi đưa ra có thể thiết lập được  
sự tồn tại và duy nhất nghiệm và phương pháp lặp hội tụ.  
Tuy cùng điều kiện biên nhưng với bài toán biên đối với phương trình vi  
phân cấp bốn không đầy đủ (2.1.1) thì dãy nghiệm có tính chất đơn điệu nhưng  
trong bài toán biên đối với phương trình vi phân tuyến tính đầy đủ (2.2.1) thì  
dãy nghiệm không có tính chất này vì phụ thuộc vào tính chất của hàm Green và  
các đạo hàm của nó tương ứng với các bài toán.  
13  
2.2.2 Trường hợp các điều kiện biên dạng ngàm-tự do  
Xét bài toán  
u(4)(x) = f(x, u(x), u0(x), u00(x), u000(x)), 0 < x < 1,  
u(0) = u0(0) = u00(1) = u000(1) = 0,  
(2.2.30)  
trong đó f : [0, 1] × R4 → R là liên tục. Đây là mô hình dầm côngxôn (cantilever  
beam) (cố định ở bên trái và tự do ở bên phải).  
Năm 2016, Li đã khẳng định được sự tồn tại nghiệm dương của bài toán  
trên với một số điều kiện được đặt ra đối với hàm f. Điều kiện đưa ra là hàm  
f(x, u, y, v, z) tăng trưởng trên tuyến tính hoặc dưới tuyến tính theo các biến  
u, y, v, z. Trong trường hợp tăng trưởng trên tuyến tính, điều kiện Nagumo hạn  
chế điều kiện tăng trưởng của f theo y và z. Kết quả này được chứng minh bằng  
việc sử dụng lý thuyết của chỉ số điểm bất động trong nón rất phức tạp.  
Trong bài báo [1], xét bài toán (2.2.30), chúng tôi thiết lập được sự tồn tại  
và duy nhất của nghiệm của bài toán và sự hội tụ của phương pháp lặp. Bằng  
phương pháp đưa bài toán về phương trình toán tử đối với hàm dựa trên vế phải  
và xét trong miền bị chặn thích hợp, chúng tôi đã không cần đến các điều kiện  
tăng trưởng trong đó có điều kiện Nagumo. Các ví dụ không thỏa mãn điều kiện  
trong bài báo của Li (2016) nhưng theo lý thuyết chúng tôi đưa ra khẳng định  
được sự duy nhất nghiệm của bài toán. Hơn nữa, các điều kiện của định lý đơn  
giản hơn và dễ kiểm tra.  
Để nghiên cứu bài toán (2.2.30), với ϕ ∈ C[0, 1], ta xét phương trình toán tử  
ϕ = Aϕ,  
(2.2.33)  
trong đó A là toán tử được xác định như sau  
(Aϕ)(x) = f(x, uϕ(x), yϕ(x), vϕ(x), zϕ(x)),  
yϕ(x) = u0ϕ(x), zϕ(x) = vϕ0 (x).  
(2.2.34)  
(2.2.35)  
với  
Ở đây vϕ(x), uϕ(x) được xác định từ các bài toán  
ꢂ
vϕ00(x) = ϕ(x), 0 < x < 1,  
(2.2.36)  
(2.2.37)  
vϕ(1) = vϕ0 (1) = 0,  
ꢂ
u0ϕ0 (x) = vϕ(x), 0 < x < 1,  
uϕ(0) = u0ϕ(0) = 0.  
Mệnh đề 2.3. (Mối liên hệ giữa nghiệm của bài toán (2.2.30) với nghiệm của  
phương trình toán tử (2.2.33)). Nếu ϕ(x) là nghiệm của (2.2.33) trong đó A được  
xác định bởi (2.2.34)-(2.2.37) thì uϕ(x) là nghiệm của bài toán (2.2.30) và ngược  
lại.  
14  
Các kết quả thu được tương tự như trong bài báo [2] với  
M
M
M
DM = {(x, u, y, v, z)| 0 ≤ x ≤ 1, |u| ≤ , |y| ≤ , |v| ≤ , |z| ≤ M},  
8
6
2
(2.2.39)  
n
M
+
DM = (x, u, y, v, z)| 0 ≤ x ≤ 1; 0 ≤ u ≤  
;
8
M
(2.2.57)  
o
M
0 ≤ y ≤ ; 0 ≤ v ≤ ; −M ≤ z ≤ 0 ,  
6
2
Phương pháp lặp như sau  
1. Cho  
ϕ0(x) = f(x, 0, 0, 0, 0).  
(2.2.59)  
2. Biết ϕk (k = 0, 1, ...) giải liên tiếp hai bài toán  
ꢂ
vk00 = ϕk(x), 0 < x < 1,  
(2.2.60)  
(2.2.61)  
vk(1) = vk0 (1) = 0,  
ꢂ
u0k0 = vk(x), 0 < x < 1,  
uk(0) = u0k(0) = 0.  
3. Cập nhật  
ϕk+1 = f(x, uk, u0k, vk, vk0 ).  
(2.2.62)  
Theo phương pháp lặp đề xuất ở trên, giải số bài toán biên (2.2.30) được đưa  
về bài toán tìm nghiệm của dãy bài toán giá trị đầu (2.2.61) và bài toán giá trị  
cuối (2.2.60) với phương trình vi phân cấp hai. Chú ý rằng các hàm vế phải của  
các bài toán (2.2.60) và (2.2.61) chỉ phụ thuộc vào biến x, nên nghiệm xấp xỉ của  
bài toán thực chất là xấp xỉ các tích phân xác định. Do đó có thể xây dựng lược  
đồ sai phân với độ chính xác cấp cao mặc dù hàm vế phải của bài toán là các hàm  
rời rạc xác định trên các lưới điểm. Để giải số theo phương pháp lặp, ta sử dụng  
công thức Simpson với độ chính xác cấp bốn cho các bài toán (2.2.60), (2.2.61)  
trên lưới đều ωh = {xi = ih, i = 0, 1, ..., N; h = 1/N}.  
Chúng tôi đưa ra một số ví dụ minh họa cho hiệu quả của các kết quả lý  
thuyết, trong đó có những ví dụ mà theo Li (2016) không đảm bảo được sự tồn  
tại nghiệm của bài toán nhưng sử dụng lý thuyết mà chúng tôi đưa ra có thể thiết  
lập được sự tồn tại và duy nhất nghiệm và phương pháp lặp hội tụ.  
Trong phạm vi luận án, phương pháp chúng tôi đưa ra áp dụng với bài toán  
giá trị biên hai điểm với hàm vế phải liên tục, còn với các bài toán với hàm vế  
phải không liên tục bài toán sẽ phải xét trong các không gian thích hợp.  
Kết luận Chương 2  
Trong chương này, chúng tôi nghiên cứu định tính và phương pháp lặp giải  
hai bài toán biên đối với phương trình vi phân phi tuyến cấp bốn không đầy đủ  
và đầy đủ nhờ sử dụng cách tiếp cận đưa bài toán về phương trình toán tử đối  
15  
với hàm dựa trên vế phải. Các kết quả đạt được là:  
- Thiết lập được sự tồn tại, duy nhất và một số tính chất đối với nghiệm của các  
bài toán dưới các điều kiện dễ kiểm tra.  
- Đề xuất phương pháp lặp giải các bài toán này và chứng minh sự hội tụ của  
phương pháp với tốc độ cấp số nhân.  
- Đưa ra một số ví dụ minh họa cho khả năng ứng dụng của các kết quả lý thuyết,  
trong đó có các ví dụ mà sự tồn tại hoặc tính duy nhất nghiệm của chúng không  
được bảo đảm bởi các tác giả khác do không thỏa mãn các điều kiện trong các  
định lý của họ.  
- Các thực nghiệm tính toán minh họa hiệu quả của phương pháp lặp.  
16  
Chương 3  
Phương pháp lặp giải bài toán biên  
đối với hệ phương trình vi phân  
phi tuyến cấp bốn  
Trong chương này, chúng tôi nghiên cứu phương pháp giải bài toán biên đối  
với hệ phương trình vi phân phi tuyến cấp bốn không đầy đủ và đầy đủ với hai  
dạng điều kiện biên. Các kết quả của chương này được trình bày trong các bài  
báo [5], [6] trong danh mục các công trình của tác giả liên quan đến luận án.  
3.1 Bài toán biên đối với hệ phương trình vi  
phân phi tuyến cấp bốn không đầy đủ  
Các bài toán đối với hệ phương trình vi phân cấp bốn được nghiên cứu chưa  
nhiều, chẳng hạn Kang và cộng sự (2012), Lu¨ và cộng sự (2005), Zhu và cộng sự  
(2010), trong đó các tác giả xét phương trình chỉ chứa các đạo hàm cấp chẵn. Với  
các điều kiện phức tạp, bằng việc sử dụng định lý chỉ số điểm bất động trên nón,  
các tác giả đã thu được sự tồn tại nghiệm dương. Tuy nhiên, các kết quả đạt được  
là có tính lý thuyết thuần túy vì không có ví dụ nào minh họa sự tồn tại nghiệm.  
Xét hệ phương trình vi phân  
ꢂ
u(4)(x) = f(x, u(x), v(x), u00(x), v00(x)), 0 < x < 1,  
(3.1.1)  
v(4)(x) = h(x, u(x), v(x), u00(x), v00(x)), 0 < x < 1,  
với các điều kiện biên  
ꢂ
u(0) = u(1) = u00(0) = u00(1) = 0,  
(3.1.2)  
v(0) = v(1) = v00(0) = v00(1) = 0.  
trong đó f, h : [0, 1] × R+ × R+ × R− × R− → R+ là các hàm liên tục và u00, v00  
trong f, h là các thành phần momen uốn tương ứng với các hiệu ứng uốn. par Năm  
2012, Kang và cộng sự đã thiết lập sự tồn tại nghiệm dương của hệ (3.1.1)-(3.1.2)  
với các điều kiện rất phức tạp.  
Khác với phương pháp của các tác giả khác, trong bài báo [5], chúng tôi tiếp  
tục phát triển kỹ thuật trong các bài báo [1]-[4] đối với hệ phương trình vi phân  
17  
phi tuyến cấp bốn (3.1.1)-(3.1.2). Bằng cách đưa bài toán về phương trình toán  
tử với cặp thành phần phi tuyến nhưng không phải cặp hàm u, v cần tìm, chúng  
tôi thiết lập sự tồn tại, duy nhất nghiệm và xây dựng phương pháp lặp. Bên cạnh  
đó, các tính chất về dấu của nghiệm cũng được chỉ ra. Lợi thế của phương pháp  
này là không đòi hỏi điều kiện Nagumo đối với các thành phần phi tuyến. Một  
số ví dụ được đưa ra, trong đó nghiệm chính xác của bài toán đã biết hoặc chưa  
biết, minh họa cho hiệu quả của các kết quả lý thuyết thu được.  
ꢀ ꢁ  
ϕ
ψ
Để nghiên cứu bài toán (3.1.1)-(3.1.2), với w =  
, ϕ, ψ ∈ C[0, 1], ta xét  
phương trình toán tử  
w = Tw,  
(3.1.9)  
trong đó T xác định bởi  
ꢀ
ꢁ
ꢀ
ꢁ
(Aw)(x)  
(Bw)(x)  
f(x, uϕ(x), vψ(x), rϕ(x), zψ(x))  
h(x, uϕ(x), vψ(x), rϕ(x), zψ(x))  
Tw =  
=
.
(3.1.10)  
Ở đây rϕ(x), uϕ(x), zψ(x), vψ(x) tương ứng là các nghiệm của dãy các bài toán  
ꢂ
rϕ00(x) = ϕ(x), 0 < x < 1,  
(3.1.11)  
rϕ(0) = rϕ(1) = 0,  
ꢂ
u0ϕ0 (x) = rϕ(x), 0 < x < 1,  
(3.1.12)  
uϕ(0) = uϕ(1) = 0.  
ꢂ
zψ00(x) = ψ(x), 0 < x < 1,  
(3.1.13)  
zψ(0) = zψ(1) = 0,  
ꢂ
vψ00(x) = zψ(x), 0 < x < 1,  
(3.1.14)  
vψ(0) = vψ(1) = 0.  
Mệnh đề 3.1. (Mối liên hệ giữa nghiệm của bài toán (3.1.1)-(3.1.2) với nghiệm  
của phương trình toán tử (3.1.9)). Nếu w(x) là nghiệm của (3.1.9), trong đó T  
được xác định từ (3.1.10)-(3.1.14), thì s(x) = (uϕ(x), vψ(x)) là nghiệm của bài  
toán (3.1.1)-(3.1.2) và ngược lại.  
Với mỗi số M > 0 ký hiệu  
n
DM = (x, u, v, r, z)| 0 ≤ x ≤ 1,  
(3.1.21)  
o
5M  
5M  
M
M
|u| ≤  
, |v| ≤  
, |r| ≤ , |z| ≤  
,
384  
384  
8
8
và B[O, M] là hình cầu đóng tâm O với bán kính M trong không gian F =  
(C[0, 1])2, tức là,  
B[0, M] = {w ∈ F : kwkF ≤ M}  
với chuẩn  
kwkF = max{kϕk, kψk},  
18  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 27 trang yennguyen 15760 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Phương pháp lặp giải bài toán biên hai điểm cho phương trình và hệ phương trình vi phân cấp bốn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_phuong_phap_lap_giai_bai_toan_bien_hai_diem.pdf