Tiểu luận Nhận biết ảnh số và các vật thể có trong ảnh

MỤC LỤC  
Trang 1  
LỜI CẢM ƠN  
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn quí thầy cô Trường Đại Học Dân Lập  
Duy Tân, cũng như Khoa Điện-Điện Tử đã tận tình dạy bảo, truyền đạt kiến thức  
cho tôi trong suốt quá trình học tập. Đặc biệt là Ths. Nguyễn Lê Mai Duyên, người  
đã trực tiếp theo sát và chỉ dẫn cho tôi trong quá trình tìm hiểu và thực hiện đề tài  
này.  
Xin được gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu nhà trường, Khoa Điện – Điện tử đã  
tạo điều kiện cho tôi được học tập và trau dồi kiến thức trong suốt thời gian qua.  
Cũng xin cảm ơn các bạn cùng lớp đã có ý kiến đóng góp, cũng như giúp đỡ tôi  
trong suốt thời gian học tập vừa qua.  
Một lần nữa, xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả!  
Đà Nẵng, ngày 30 tháng 11 năm 2014  
Sinh viên  
Lê Đắc Thịnh  
Trang 3  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan kết quả đạt được trong đề tài là sản phẩm của riêng cá nhân  
tôi, không sao chép lại của người khác. Trong toàn bộ nội dung của đề tài, những  
điều được trình bày hoặc là của cá nhân hoặc là được tổng hợp từ nhiều nguồn tài  
liệu. Tất cả các tài liệu tham khảo đều có xuất xứ rõ ràng và được trích dẫn hợp  
pháp.  
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình.  
Đà Nẵng, ngày 30 tháng 11 năm 2014  
Sinh viên  
Lê Đắc Thịnh  
Trang 4  
 
DANH MỤC THUẬT NGỮ VÀ CÁC TỪ VIẾT TẮT  
Thuật ngữ, kí hiệu  
SIFT  
SURF  
DoG  
Nghĩa  
Scale-Invariant Feature Transform  
Speed Up Robust Feature  
Difference of Gaussian  
RANSAC  
SVD  
DLT  
Random Sample Consensus  
Singular Value Decomposition  
Direct Linear Transform  
Trang 5  
 
DANH MỤC HÌNH ẢNH  
Hình 2.1: Các điểm nổi bật trong ảnh  
Hình 2.2: Cửa sổ trượt phát hiện góc Harris  
Hình 2.3: Minh họa các trường hợp   và   
 
 
Hình 2.4: Kết quả tìm kiếm góc Harris trên nền C++ và OpenCV2  
Hình 2.5: Đỉnh tòa nhà VTV Đà Nẵng và những góc Harris  
Hình 2.6: Mô tả sự không hoàn thiện của thuật toán Harris  
Hình 2.7: Quá trình tính không gian đo (L) và hàm sai khác D  
Hình 2.8: Quá trình tìm điểm cực trị trong các hàm sai khác DoG  
Hình 2.9: Minh họa các bước của quá trình lựa chọn các điểm nổi bật  
Hình 2.10: Mô tả tạo bộ mô tả cục bộ  
Hình 2.11: Kết quả tìm kiếm đặc trưng SIFT trên nền C++ và OpenCV2  
Hình 2.12: Đỉnh tòa nhà VTV Đà Nẵng và những điểm đặc trưng SIFT(1)  
Hình 2.13: Đỉnh tòa nhà VTV Đà Nẵng và những điểm đặc trưng SIFT(2)  
Hình 2.14: Xấp xỉ đạo hàm cấp 2 hàm Gaussian bằng hộp lọc  
Hình 2.15: Các điểm quan tâm được phát hiện  
Hình 2.16: Lọc Haar wavelet để tính sự ảnh hưởng trên hai hướng x và y.  
Hình 2.17: Vùng hình tròn xung quanh và hướng đại diện cho điểm đặc trưng  
Hình 2.18: 4x4 hình vuông con xung quanh điểm đặc trưng  
Hình 2.19: Ví dụ về đốm sáng trên nền tối hơn và đốm tối trên nền sáng hơn  
Hình 2.20: Kết quả tìm kiếm đặc trưng SURF trên nền C++ và OpenCV2  
Hình 2.21: Đỉnh tòa nhà VTV Đà Nẵng và những điểm đặc trưng SURF(1)  
Hình 2.22: Đỉnh tòa nhà VTV Đà Nẵng và những điểm đặc trưng SURF (2)  
Hình 3.1: Một ảnh Panorama  
Hình 3.2: Minh họa các bước thực hiện thuật toán ghép nối ảnh\  
Hình 3.3: Hai hình ảnh được sử dụng so sánh đối chiếu  
Hình 3.4: Kết quả sau khi lấy đặc trưng SIFT  
Hình 3.5: Kết quả sau khi so sánh đối chiếu các điểm đặc trưng SIFT  
Trang 6  
 
Hình 3.6: Kết quả sau khi lấy đặc trưng SURF  
Hình 3.7: Kết quả sau khi so sánh đối chiếu các điểm đặc trưng SIFT  
Hình 3.8: Kết quả sau khi so sánh đối chiếu các điểm đặc trưng SIFT đối với hình  
Hình 2.11 và Hình 2.12 ở mục 2.2.3  
Hình 3.9: Kết quả sau khi so sánh đối chiếu các điểm đặc trưng SIFT đối với hình  
Hình 2.11 và Hình 2.12 ở mục 2.2.3  
Hình 3.10: Phép chiếu Homography  
Hình 3.11: Phép tính Homography từ điểm đặc trưng SIFT  
Hình 3.12: Phép tính Homography từ điểm đặc trưng SURF  
Hình 3.13: Minh họa ghép nối ảnh  
Hình 3.14: Kết quả cuối cùng của phép tạo ảnh Panorama  
Hình 4.1: Giao diện chương trình thực nghiệm  
Hình 4.2: Hình ảnh đuôi cầu Rồng, Tp Đà Nẵng  
Hình 4.3: Hình ảnh cầu Rồng được sử dụng trong thực nghiệm  
Hình 4.4: Kết quả so sánh đối chiếu từ điểm đặc trưng SIFT  
Hình 4.5: Kết quả so sánh đối chiếu từ điểm đặc trưng SURF  
Hình 4.6: Kết quả tính toán ma trận Homography  
Hình 4.7: Kết quả của phép tạo ảnh Panorama  
Hình 4.8: Hình ảnh Panorama khi sử dụng hàm chức năng của OpenCV2  
Hình 4.9: Một kết quả hoàn hảo hơn  
Trang 7  
DANH MỤC BẢNG BIỂU  
Bảng 4.1: So sánh kết quả trích chọn điểm nổi bật  
Bảng 4.2: So sánh kết quả so sánh đối chiếu điểm đặc trưng tương đồng  
Trang 8  
 
MỞ ĐẦU  
Ngày nay, cùng với sự phát triển vượt bậc của xã hội cũng như các lĩnh vực  
khoa học kĩ thuật, nhu cầu xử lý hình ảnh trên máy tính hay rộng hơn là các nhu cầu  
có liên quan đến thị giác máy (Computer Vision) lại càng trở nên cấp thiết hơn bao  
giờ hết.  
Nhưng dù nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ từ sự đổi mới rất nhanh chóng của các nền  
tảng công nghệ mới, việc xử lý lượng thông tin chứa đựng trong hình ảnh nói chung  
thực sự là một bài toán không hề dễ dàng, nhất là trong bối cảnh các yêu cầu đặt ra  
cần được thực hiện một cách nhanh chóng và chính xác nhất.  
Một trong số những vấn đề rất được chú trọng trong lĩnh vực này chính là: Làm thế  
nào để nhận biết ảnh số và các vật thể có trong ảnh?  
Thực tế, khác với đôi mắt con người, máy tính không làm việc với hình ảnh một  
cách tổng quát và trực quan, mà trái lại, chúng chỉ có thể tiếp cận hình ảnh và những  
thông tin chứa trong hình ảnh đó một cách rất hạn chế dưới dạng các ma trận điểm  
ảnh.  
Vì vậy, để thực hiện được nhiệm vụ “Nhận biết ảnh số và các vật thể có trong  
ảnh”, máy tính và các thiết bị kĩ thuật số sẽ phải đi tìm các điểm đặc trưng của ảnh  
để rồi từ đó đưa ra các biện pháp so sánh, đối chiếu hay biến đổi nhằm thực hiện các  
yêu cầu được đặc ra.  
Trong phạm vi đề tài này, tôi xin được trình bày những nội dung liên quan đến khái  
niệm “Trích chọn đặc trưng ảnh số” và đi sâu hơn là khái niệm “Trích chọn đặc  
trưng ảnh số dựa trên điểm nổi bật” nhằm đưa ra câu trả lời cho những vấn đề ở  
trên cũng như đề xuất các ứng dụng mang tính thực tiễn có thể phát triển trong  
tương lai.  
Trên cơ sở đó, đề tài cũng sẽ đi vào triển khai ứng dụng “Tạo ảnh Panorama” và  
những vấn đề xung quanh nó để làm rõ thêm vấn đề đã trình bày thông qua ngôn  
ngữ C++, thư viện mã nguồn mỡ OpenCV2 và công cụ lập trình Visual Studio  
2012.  
Cấu trúc của đề tài gồm các phần sau:  
Chương 1 trình bày các khái niệm cơ bản về “Trích chọn đặc trưng ảnh số”  
và giới thiệu phương pháp “Trích chọn đặc trưng ảnh số dựa trên điểm nổi bật”.  
Chương 2 giới thiệu các thuật toán “Tìm kiếm góc Harris”, phép “Trích chọn  
đặc trưng cục bộ bất biến SIFT”, phép “Trích chọn đặc trưng SURF”.  
Chương 3 giới thiệu về lĩnh vực “Tạo ảnh Panorama”, phương pháp tạo ảnh  
dựa trên phương pháp tìm điểm nổi bật đã trình bày ở Chương 2, các vấn đề xung  
quanh như ma trận Homography và cách tính.  
Trang 9  
 
Chương 4 bao gồm các hình ảnh về chương trình ứng dụng nhằm đưa ra các  
kết quả về mặt hình ảnh và con số về các vấn đề đã được trình bày ở các chương  
trên.  
Kết luận nêu ra những kết quả đạt được của đề tài, các mặt hạn chế và hướng  
phát triển trong tương lai.  
Trang 10  
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRÍCH CHỌN ĐẶC  
TRƢNG ẢNH SỐ  
1.1 Các nội dung cơ bản  
1.1.1 Khái niệm đặc trưng ảnh số  
Trong phạm vi xử lý ảnh, đặc trưng ảnh số là một phần thông tin của ảnh số  
thích hợp cho các nhiệm vụ tính toán liên quan đến một ứng dụng nhất định. Những  
đặc trưng đó có thể là các kết cấu đặc biệt trong ảnh số như các điểm, các cạnh của  
một đối tượng hoặc một đối tượng nào đó có trong ảnh. Mặt khác, các đặc trưng của  
ảnh số cũng có thể là kết quả của một phép biến đổi toàn diện hoặc là các phương  
pháp phát hiện điểm đặc trưng được áp dụng trên toàn bộ ảnh đó[25].  
Trích chọn đặc trưng ảnh số là quá trình xử lý làm cho ảnh ban đầu được biến  
đổi thành các dạng mà máy tính có thể dễ dàng nhận dạng hơn.  
1.1.2 Tại sao phải trích chọn đặc trưng ảnh số ?  
Không giống như thị giác con người, thị giác máy có khả năng nhìn nhận rất  
hạn chế bởi đối với máy tính, mỗi hình ảnh chỉ là một ma trận các điểm ảnh. Vì vậy,  
đối với các lĩnh vực có liên quan đến xử lý các lượng lớn hình ảnh, bài toán trích  
chọn đặc trưng ảnh là rất quan trọng đối với công tác nhận dạng, phân loại dữ liệu  
hình ảnh hoặc gần gũi hơn là tìm kiếm dữ liệu trong một lượng lớn dữ liệu hình ảnh  
có sẵn.  
Mặt khác, việc trích chọn đặc trưng ảnh số cũng là một công cụ rất có ích  
trong việc xác định các phần tương đồng hoặc giống nhau của các ảnh số, từ đó có  
thể phát triển các ứng dụng ghép nối hình ảnh, dựng ảnh 3D hay so sánh một cách  
dễ dàng và chính xác hơn.  
Tóm lại, trích chọn đặc trưng ảnh số là bước xử lý rất căn bản trong xử lý ảnh.  
Nó không chỉ là giúp máy tính và các thiết bị tiếp xúc với dữ liệu của ảnh một cách  
dễ dàng hơn mà còn là nền tảng cho những ứng dụng cao cấp trong lĩnh vực này.  
1.2 Trích chọn đặc trƣng dựa trên điểm nổi bật  
Ý tưởng của phương pháp này là thay vì phân tích toàn bộ hình ảnh, ta chỉ cần  
tập trung vào một vài điểm nhất định trên ảnh đó và thực hiện các phép phân tích  
cục bộ. Những phương pháp này sẽ hoạt động tốt nếu như ở trên ảnh tồn tại một số  
lượng vừa đủ các điểm nổi bật bất biến và ổn định để có thể thực hiện việc phân tích  
cục bộ một cách chính xác[27].  
Trong lĩnh vực xử lý ảnh, một điểm được gọi là điểm nổi bật thường được mô  
tả như sau:  
- Rõ ràng về mặt định nghĩa (thường dựa trên cơ sở toán học)  
- Có vị trí xác định trong không gian của ảnh  
Trang 11  
         
- Cấu trúc cục bộ xung quanh điểm nổi bật thường phong phú về thông tin để việc  
sử dụng điểm nổi bật này giúp đơn giản hóa các bước xử lý cao hơn trong hệ  
thống thị giác  
- Các điểm này có tính ổn định trước các sự thay đổi cục bộ và toàn diện trên ảnh  
Tóm lại, điểm nổi bật của ảnh số được định nghĩa như sau:  
Điểm nổi bật trong ảnh là điểm ảnh có chứa nhiều thông tin hơn các điểm ảnh  
lân cận. Biểu diễn ảnh theo điểm nổi bật sẽ cô đọng hơn, giảm được không gian tìm  
kiếm trong các bài toán ứng dụng[27].  
Các điểm nổi bật của ảnh được phân thành một số dạng như: đường biên,  
đường thẳng, viền tròn và các điểm góc [27].  
Đường biên là chuỗi các vị trí mà tại đó có sự thay đổi mạnh mẽ về cường độ  
điểm ảnh. Đường biên đặc trưng không nhất thiết phải trùng với đường biên vật lý.  
Đường thẳng là dải hẹp dọc theo đối tượng và có cùng cường độ điểm ảnh. Có  
thể coi đường thẳng này là hai đường biên song song.  
Viền tròn là các đối tượng đặc có cường độ các điểm ảnh xấp xỉ nhau.  
Điểm góc là vị trí gấp khúc của đường biên. Trong một cảnh, điểm góc có thể  
hiểu là điểm cuối của đường biên.  
Hình 2.1: Các điểm nổi bật trong ảnh[25]  
Trong chương tiếp theo, luận văn sẽ đi vào tìm hiểu phương pháp trích chọn  
đặc trưng từ các điểm nổi bật lần lượt theo phương pháp: Thuật toán tìm kiếm góc  
Harris, Trích chọn đặc trưng cục bộ bất biến SIFT và Trích chọn đặc trưng SURF.  
Trang 12  
CHƢƠNG 2: CÁC PHƢƠNG PHÁP TRÍCH CHỌN  
ĐẶC TRƢNG ĐIỂM NỔI BẬT  
2.1 Thuật toán tìm kiếm góc Harris  
2.1.1 Giới thiệu và ý tưởng  
Một trong những phương pháp tìm kiếm điểm nổi bật cơ bản nhất chính là  
phương pháp tìm kiếm các điểm nối của đường biên, các điểm nằm trên đường cong  
mà có độ cong tối đa… hay còn gọi là các điểm góc.  
Ban đầu các điểm này được phát hiện nhờ vào “độ nhọn”(sharp) của đường  
biên: biên của đối tượng được lưu dưới dạng mã xích, góc được phát hiện thông qua  
việc tìm kiếm những vị trí trên biên bị “uốn” một cách đáng kể. Kĩ thuật phát hiện  
góc này rất phức tạp và phải triển khai trên nhiều bước.  
Sau đó, L.Kitchen[1] đã đề xuất một phương pháp nhằm cô lập các điểm góc dựa  
vào một số phép toán trên Gradient, phương pháp này tỏ ra ít phức tạp hơn nhưng  
vẫn chưa đủ hiệu quả.  
Tiếp đến, Moravec[2][3] đề xuất hàm phát hiện góc dựa trên việc dùng một cửa sổ  
và xác định sự thay đổi của trung bình cường độ xám khi dịch chuyển cửa sổ này  
theo bốn hướng. Nếu cường độ xám chỉ thay đổi theo hai hướng thì ta xác định đó  
là biên, còn nếu cường độ xám thay đổi theo bất cứ hướng nào thì ta xác định được  
đó là góc. Tuy nhiên, phương pháp này có một nhược điểm là: cửa sổ trượt là hàm  
nhị phân, chỉ trượt được theo số hướng nhất định (bốn hướng).  
Cuối cùng, Harris và Stephens[4] cải tiến phương pháp của Moravec để tạo ra thuật  
toán tìm kiếm góc Harris. Nếu như Moravec chỉ sử dụng một cửa sổ để xác định sự  
thay đổi trung bình cường độ xám bằng cách dịch chuyển cửa sổ này theo bốn  
hướng[5] thì Harris và Stephens đã làm cho cửa sổ này có thể trượt theo bất kì  
hướng nào bằng cách sử dụng hàm Gaussian và phép khai triển Taylor[4].  
Về mặt ý tưởng, thuật toán Harris sẽ tìm kiếm sự thay đổi lớn về cường độ  
xám theo các hướng khác nhau bằng cách dùng một cửa sổ nhỏ để làm nhiệm vụ rà  
soát và phát hiện những điểm được định nghĩa là “góc” như minh họa dưới hình  
sau:  
Hình 2.2: Cửa sổ trƣợt phát hiện góc Harris  
Trang 13  
     
Trong Hình 2.2(a), cửa sổ trượt nằm trong vùng hình ảnh có chứa góc, khi ta  
di chuyển theo bất cứ hướng nào đều có sự thay đổi về cường độ xám.  
Trong Hình 2.2(b), cửa sổ trượt nằm trên vùng hình ảnh có chứa cạnh, khi ta di  
chuyển cửa sổ trượt theo hai hướng của cạnh sẽ không sự thay đổi về cường độ  
xám.  
Trong Hình 2.2(c), cửa sổ trượt nằm trên vùng hình ảnh không có góc cạnh, sau khi  
di chuyển cửa sổ trượt sẽ không có sự thay đổi về cường độ xám.  
Dựa vào điều này ta có thể phát hiện ra điểm nào là điểm góc, điểm nào không phải.  
2.1.2 Thuật toán  
( )  
(
)
(
)
Giả sử ta có một ảnh xám   , với mỗi điểm      và độ dịch chuyển      ta  
có thể tính toán sự thay đổi trung bình cường độ xám bằng một cửa sổ dịch chuyển  
(
)
(
)
từ      tới              như sau:  
 
(
)
∑ ∑  
(
) (  
       (                        )  
 
)
(
)
         
(2.2.1)  
 
Trong đó:  
(
)
       là Tổng số bình phương giá trị độ lệch hay còn gọi là sự thay đổi cường độ  
(
)
xám tại      
(
)
(
)
       là cửa sổ tại      
(
)
(
)
       và                là giá trị cường độ xám của pixel tại các vị  
(
)
trí (u,v) và                
(
)
Lưu ý rằng, hàm        thay vì là hàm nhị phân chỉ trượt được theo 4 hướng  
như trong thuật toán của Moravec, thì nay đã đã được thay thế bằng hàm Guassian  
trong thuật toán Harris để có thể trượt theo nhiều hướng khác nhau.  
(
)
Giá trị                có thể được khai triển theo công thức Taylor như sau:  
(
)
(
)
(
)
(
 
)
                                              
(2.2.2)  
 
Với,   ,   là đạo hàm theo thành phần  ,  .  
 
 
Từ đó, (2.2.1) có thể được viết lại như sau:  
∑ ∑  
)
 
(
)
(
)
(
)
(
 
         
       (                   )  
(2.2.3)  
(2.2.4)  
 
 
 
(
)
Nếu biểu diễn dưới dạng ma trận thì        , ta có:  
 
 
(
)
(
)
              ( )  
Trong đó,   là một cấu trúc như sau:  
Trang 14  
 
 
 
〈 〉  
〈
〉
    
    
 
    
 
 
    
 
(
)
(
)
         ∑ ∑        [  
]   [  
]
 
 
〈
〉
〈 〉  
 
 
    
    
 
    
    
 
 
 
Gọi   và   là các trị riêng của  ,   là hằng số và được xác định thông qua  
 
 
thực nghiệm, thường có giá trị trong khoảng                   .  
Khi đó, biểu thức dưới đây sẽ quyết định xem cửa sổ   có chứa góc hay là không:  
 
 
(
)
                  
 
( )  
( )  
           (        )  
(2.2.5)  
 
 
 
 
Hình 2.3: Minh họa các trƣờng hợp   và   [4]  
 
 
(
)
Nếu cả   và   đều nhỏ. Có nghĩa là hàm        gần như không thay đổi theo bất  
 
 
kì hướng nào. Khi đó vùng ảnh nằm trong cửa sổ gần như không có sự thay đổi về  
cường độ. Tức là trường hợp này không tìm thấy điêm góc.  
(
)
Nếu   là lớn và   là nhỏ, hoặc ngược lại, thì có nghĩa là        có sự thay đổi  
 
 
nhỏ nếu cửa sổ trượt theo một hướng, và có sự thay đổi đáng kể nếu dịch chuyển  
theo hướng trực giao. Điều này cho thấy tồn tại một cạnh.  
Nếu   là lớn và   đều lớn. Khi đó sự dịch chuyển của cửa sổ trượt theo bất kì  
 
 
hướng nào cũng sẽ có sự thay đổi đáng kể về cường độ xám. Điều này biểu thị cho  
một điểm góc.  
Trang 15  
2.1.3  
Một vài kết quả thực tế  
Hình 2.4: Kết quả tìm kiếm góc Harris trên nền C++ và OpenCV2  
Hình 2.5: Đỉnh tòa nhà VTV Đà Nẵng và những góc Harris  
Trang 16  
2.2 Trích chọn đặc trƣng cục bộ bất biến SIFT  
2.2.1 Giới thiệu và định nghĩa  
Trong quá trình nghiên việc cứu so sánh đối chiếu các điểm đặc trưng của ảnh  
số, người ta thường gặp những vấn đề có liên quan đến việc các điểm đặc trưng  
tương đồng giữa các ảnh không có được sự so sánh đối chiếu chính xác nếu như các  
điểm đó không có cùng tỉ lệ. Điều này có nghĩa là nếu ta cố gắng tìm ra các điểm  
đặc trưng tương đồng từ hai hình ảnh được chụp lại từ hai góc độ khác nhau của  
một khung hình, ta sẽ không có được kết quả tốt nhất[16].  
Hình 2.6: Mô tả sự không hoàn thiện của thuật toán Harris[26]  
Ví dụ: Trong hình trên, ta dễ dàng nhận ra ở bên trái là một góc đã được thuật toán  
tìm kiếm góc Harris phát hiện. Thế nhưng nếu như ta xem xét góc này với một tỉ lệ  
lớn hơn nhiều thì đó không còn là một góc theo thuật toán Harris nữa, nhưng trên  
thực tế, đó hoàn toàn là một góc.  
Để giải quyết vấn đề này, khái niệm “Điểm đặc trưng cục bộ bất biến SIFT” (Scale-  
Invariant Feature Transform)[12]: đã được David G. Lowe đưa ra hồi năm 2004  
trong “Distinctive Image Features from Scale-Invariant Keypoints” với các tính chất  
sau:  
- Là bất biến khi  
Thay đổi tỷ lệ ảnh  
Quay ảnh  
Thay đổi góc nhìn  
Thêm nhiễu ảnh  
Thay đổi cường độ chiếu sáng ảnh  
- Các đặc trưng cục bộ bất biến được trích rút từ các điểm nổi bật trên ảnh.  
Trang 17  
   
2.2.2 Thuật toán  
Phương pháp trích chọn điểm đặc trưng cục bộ bất biến SIFT gồm các  
bước[12]:  
- Phát hiện các điểm cực trị Scale-Space: Tìm những khu vực chứa những điểm  
đặc trưng tiềm năng có tính chất không thay đổi dưới các phép phóng và xoay  
ảnh.  
- Định vị các điểm nổi bật: Một hàm kiểm tra sẽ được đưa ra để quyết định xem  
các điểm nổi bật tiềm năng có được lựa chọn hay không.  
- Xác định hướng cho các điểm nổi bật: Mỗi điểm nổi bật sẽ được gán cho một  
hoặc nhiều hướng dựa trên hướng gradient của ảnh. Mọi phép toán xử lý ở các  
bước sau này sẽ được thực hiện trên những dữ liệu ảnh mà đã được biến đổi  
tương đối so với hướng đã gán, kích cỡ và vị trí của mỗi điểm đặc trưng. Nhờ đó,  
tạo ra một sự bất biến trong các phép xử lý này.  
- Mô tả các điểm nổi bật: Các hướng gradient cục bộ được đo trong ảnh có kích cỡ  
cụ thể nào đó trong vùng lân cận với mỗi điểm đặc trưng. Sau đó, chúng sẽ được  
biễu diễn thành một dạng mà cho phép mô tả các tầng quan trọng của quá trình  
bóp méo hình dạng cục bộ và sự thay đổi về độ sáng.  
2.2.2.1 Phát hiện các điểm cực trị Scale-Space  
Định nghĩa không gian tỉ lệ của một hình ảnh được mô tả bằng hàm dưới đây:  
(
)
(
)
(
)
                                
(2.2.1)  
(
)
Với            là Biến tỉ lệ Guassian (Variable scale Gaussian)  
 
 
 
 
 (     )    
(
)
             
 
(2.2.2)  
 
    
(
)
       là Ảnh đầu vào  
(
)
          là Hàm không gian tỉ lệ của ảnh  
Để tìm những điểm nổi bật có tính bất biến cao, ta sẽ tìm cực trị cục bộ của  
(
)
hàm sai khác DoG (Difference of Gaussian), kí hiệu là           . Hàm này được  
tính toán từ sự sai khác giữa 2 không gian đo cạnh nhau của một ảnh với tham số đo  
lệch nhau một hằng số  .  
(
)
(
)
(
)
(
)
(
)
(
)
            (                       )                                   
(2.2.3)  
(
)
Với           được tính bằng phép trừ giữa Hàm không gian tỉ lệ của ảnh  
(
)
          và k lần của chính nó.  
Lý do để lựa chọn hàm Gaussian là vì kỹ thuật này rất hiệu quả để tính toán   
(cũng như làm tăng độ mịn của ảnh), mà   thì luôn phải được tính rất nhiều để mô  
Trang 18  
 
tả đặc trưng trong không gian đo, và sau đó,   sẽ được tính bằng phép trừ ma trận  
điểm ảnh, một phép tính toán đơn giản.  
Hình 2.7: Quá trình tính không gian đo (L) và hàm sai khác D  
Hơn nữa, hàm sai khác DoG có thể được sử dụng để tạo ra một xấp xỉ gần với đạo  
 
 
hàm bậc hai Laplace có kích thước chuẩn của hàm Gaussian (     ) do tác giả  
Lindeberg đề xuất năm 1994[17]. Ông đã chỉ ra rằng việc chuẩn hóa đạo hàm bậc  
 
hai với hệ số   là cần thiết cho bất biến đo trở nên đúng. Cụ thể, ông đã công bố  
 
 
rằng các giá trị cực đại và cực tiểu của (     ) chính là những giá trị có tính ổn  
định nhất (bất biến cao) so với một loạt các hàm đánh giá khác như: gradient,  
Hessian hay Harris.  
 
 
Mối quan hệ giữa   và (     ) được biễu diễn như sau:  
   
 
       
(2.2.4)  
   
 
 
Như vậy, (     ) có thể được tính thông qua việc xấp xỉ sự sai khác hữu hạn  
tại các tham số đo gần nhau    và  :  
   
   
(
)
(
)
   
   
                  
 
       
 
(2.2.5)  
(2.2.6)  
      
 
 
(
)
(
)
                         (     )(     )  
Từ công thức này, ta thấy khi mà hàm sai khác DoG được tính toán tại các  
tham số đo lệch nhau một hằng số  , thì ta có thể sử dụng DoG để xấp xỉ đạo hàm  
bậc hai Laplace của Gaussian. Vì hệ số (     ) trong phương trình trên là hằng số  
trong mọi không gian đo nên nó sẽ không ảnh hưởng đến việc tìm các vị trí cực trị.  
Trang 19  
Sai số trong việc xấp xỉ đạo hàm bậc 2 tiến về   khi   gần với  . Tuy nhiên, các kết  
quả thử nghiệm của tác giả cho thấy quá trình xấp xỉ đạo hàm không ảnh hưởng đến  
việc dò tìm các vị trí cực trị thậm chí ngay cả khi chọn   khá xa, ví dụ      [12].  
√
Sau khi áp dụng hàm DoG ta thu được các lớp kết quả khác nhau từ ảnh gốc,  
bước tiếp theo là tìm các cực trị trong các lớp kết quả theo từng miền cục bộ. Cụ thể  
là tại mỗi điểm trên các lớp kết quả sẽ được so sánh với 8 điểm lân cận trên cùng  
lớp và 9 điểm lân cận trên mỗi lớp khác.  
Hình 2.8: Quá trình tìm điểm cực trị trong các hàm sai khác DoG  
Trong hình trên: điểm đánh dấu x sẽ được so sánh với 26 điểm lân cận (đánh  
dấu vòng tròn xanh). Điểm này sẽ được lấy làm điểm tiềm năng (điểm có thể làm  
điểm đặc biệt – candidate keypoint) nếu nó có giá trị lớn nhất hoặc nhỏ nhất so với  
26 điểm lân cận như trên. Giải pháp cho việc tìm các điểm tiềm năng này là sử dụng  
thuật toán blob detection (dò tìm điểm) do Lindeberg đề xuất[19].  
Vì số lượng các cực trị là rất lớn, vì vậy để tăng sự hiệu quả khi dò tìm các  
điểm cực trị (dò các điểm cực trị tốt nhất thay vì phải dò hết), ta cần xác định tần số  
lấy mẫu trong không gian đo và tần số lấy mẫu trong không gian quan sát (không  
gian ảnh). Thật không may là ta không thể xác định cả 2 loại tần số này một cách tự  
động trong mỗi tiến trình dò tìm.  
Thay vì vậy, các tần số này sẽ được xác định thông qua phương pháp thử nghiệm.  
Sau khi thử nghiệm với nhiều nguồn dữ liệu ảnh khác nhau, tác giả đã chỉ ra tần số  
lấy mẫu trong không gian đo tốt nhất là 3 (giữ lại 3 lớp trong mỗi bộ 8 lớp), và tần  
số lấy mẫu   = 1.6.  
2.2.2.2 Định vị điểm nổi bật  
Sau bước một, ta sẽ thu được rất nhiều điểm tiềm năng có thể làm điểm đặc  
biệt, tuy nhiên một số điểm trong số đó là không cần thiết. Ở bước này, ta sẽ loại bỏ  
các điểm có độ tương phản kém (nhạy cảm với nhiễu) hoặc tính đặc trưng cục bộ ít  
hơn các điểm khác hoặc có xu hướng là đường biên đối tượng. Bước thực hiện này  
gồm 3 công đoạn:  
Trang 20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 56 trang yennguyen 23881 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tiểu luận Nhận biết ảnh số và các vật thể có trong ảnh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftieu_luan_nhan_biet_anh_so_va_cac_vat_the_co_trong_anh.pdf