Tiểu luận môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam - Đề tài: Mục tiêu, nhiệm vụ, và tư tưởng chỉ đạo công tác đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ SÀI GÒN  
SINH VIÊN: TRẦN VĂN ĐAN TRƯỜNG  
BÀI TIỂU LUẬN  
MÔN: ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA  
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM  
ĐỀ TÀI: MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, VÀ TƯ  
TƯỞNG CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI  
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM  
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TRẦN NHƯ  
CƯƠNG  
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2019  
Môn: Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam  
Sinh viên: Trần Văn Đan Trường  
Trang: 2  
Môn: Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam  
PHẦN A: PHẦN MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài:  
Xã hội ngày càng đổi mới, mọi quan điểm chính trị đều dần được thay đổi trong đó có quan  
điểm đối ngoại với các nước. Đối ngoại là hoạt động diễn ra từ thuở cha ông ta dựng nước, giữ  
nước. Đến thời kì hiện đại như ngày nay thì các quan điểm về đối ngoại có đôi phần khác xưa.  
Đối ngoại hiện nay mang tính xây dựng dân chủ tiến bộ. Đây là sự thay đổi có vai trò quan  
trọng trong cuộc sống hiện nay. Mọi công dân và thế hệ trẻ cần phải hiểu được tầm quan trọng  
của đối ngoại. Và hơn nữa, vấn đề nay rất phù hợp với môn học mà em đang tiếp cận, phù hợp  
với nhận thức của mỗi người. Chính vì vậy, để làm sáng tỏ vấn đề em xin tìm hiểu nội dung  
mục tiêu, nhiệm vụ, và tư tưởng chỉ đạo công tác đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam.  
2. Mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ của đề tài đặt ra:  
Việc nghiên cứu đề tài này giúp trang bị cho bản thân những hiểu biết  
cơ bản về tình hình nước ta trong giai đoạn này : những chủ trương, chính  
sách của Đảng đã đề ra để có thể vận dụng để giải quyết những khó khăn  
mà nhân dân ta phải đương đầu, đưa cuộc cách mạng của dân tộc đi đến  
thắng lợi hoàn toàn.  
Nghiên cứu vấn đề này còn bồi dưỡng niềm tin vào sự lãnh đạo sáng  
suốt, tài tình của Đảng, định hướng phấn đấu theo mục tiêu, lý tưởng và  
đường lối của Đảng, nâng cao ý thức trách nhiệm của bản thân trước những  
nhiệm vụ, vận mệnh của đất nước, giúp nâng cao tinh thần yêu nước, đóng  
góp tài sức, trí tuệ để cùng nhau xây dựng đất nước, đặc biệt là trong thời  
kỳ đất nước đang phát triển và hội nhập trên trường quốc tế.  
3. Phương pháp nghiên cứu:  
a) Cơ sở phương pháp luận: Thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư  
tưởng Hồ Chí Minh.  
b) Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp lịch sử (nghiên cứu sự vật, hiện tượng theo  
trình tự thời gian, theo quá trình diễn biến đi từ phát sinh, phát triển đến kết quả của nó) và  
phương pháp logic (nghiên cứu một cách tổng quát nhằm tìm ra bản chất của sự vật, hiện tượng  
và khái quát thành lý luận) là hết sức quan trọng trong nghiên cứu đường lối cách mạng của  
Đảng. Ngoài ra còn có thể sử dụng các phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp, so sánh,  
quy nạp và diễn dịch, cụ thể hóa, trừu tượng hóa… thích hợp với từng nội dung của môn học.  
4. Phạm vi nghiên cứu:  
Trong phạm vi nghiên cứu của Đảng Cộng sản Việt Nam về mục tiêu, nhiệm vụ, và tư tưởng  
chỉ đạo công tác đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam  
Sinh viên: Trần Văn Đan Trường  
Trang: 3  
         
Môn: Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam  
5. Tài liệu tham khảo:  
a) Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Đường lối Cách mạng Đảng Cộng sản Việt Nam,  
NXB Chính trị Quốc gia Sự Thật, 2014  
b) Trang “http://www.tapchicongsan.org.vn”  
6. Nội dung nghiên cứu:  
7. Đóng góp của đề tài:  
Việc nghiên cứu đề tài này cho ta thấy rõ quan điểm của Đảng trong việc thực hiện đường lối  
đối ngoại. Tiếp tục kế thừa và phát huy đường lối đối ngoại dân chủ tiến bộ.  
Sinh viên: Trần Văn Đan Trường  
Trang: 4  
       
Môn: Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam  
PHẦN B: PHẦN TRÌNH BÀY  
1. Đường lối đối ngoại của Việt Nam thời kỳ 1975 — 1986  
1.1. Hoàn cảnh lịch sử  
1.1.a. Tình hình thế giới  
Từ thập ký 70, thê ký XX, sự tiễn bộ nhanh chóng của các cuộc khoa học và công nghệ đã thúc  
đây lực lượng sản xuất thế giới phát triên mạnh; Nhật Bản và Tây Âu vươn lên trở thành hai  
trung tâm lớn cúa kinh tế thê giới; xu thê chạy đua phát triển kinh tế đã dăn đến cục diện hoà  
hoãn giữa các nước lớn.  
Với thắng lợi của Việt Nam (năm 1975) và các nước Đông Dương, hệ thống xã hội chủ nghĩa  
đã mở rộng phạm vi, phong trào cách mạng thế giới phát triển mạnh. Đảng ta nhận định: Hệ  
thống các nước xã hội chủ nghĩa đã và đang lớn mạnh không ngừng: phong trào độc lập dân  
tộc và phong trào cách mạng của giai cấp công nhân đang trên đà mãnh liệt.  
Tuy nhiên, từ giữa thập kỷ 70, thế ký XX, tình hình kinh tế - xã hội ở các nước xã hội chủ  
nghĩa xuất hiện sự trì trệ và mất ổn định.  
Tình hình khu vực Đông Nam Á cũng có những chuyền biến mới. Sau năm 1975, Mỹ rút quân  
khỏi Đông Nam Á, khối quân sự SEATO tan rã; tháng 2-1976, các nước ASEAN ký Hiệp ước  
thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á( Hiệp ước Bali), mở ra cục diện hoà bình, hợp tác trong  
khu vực.  
1.1.b. Tình hình trong nước  
Thuận lợi: Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hoà bình thống nhất, cả  
nước xây dựng chú nghĩa xã hội với khí thế của một dân tộc vừa giành được thắng lợi vĩ đại.  
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã đạt được một số thành tựu quan trọng. Đây là những  
thắng lợi rất cơ bản của cách mạng nước ta.  
Khó khăn: Trong khi cả nước phải tập trung khắc phục hậu quả nặng nè của ba mươi năm  
chiến tranh, lại phải đối phó với chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. bên cạnh  
đó, các thế lực thù đíchử dụng những thủ đoạn thâm độc chống phá cách mạng Việt Nam. Đại  
hội lần thứ V của Đảng (3-1982) nhận định: “nước ta đang ở trong tình trạng vừa có hoà bình  
vừa phải đương đầu với một kiêu chiến tranh phá hoại nhiều mặt”. Ngoài ra, do tư tưởng chủ  
quan, nóng vội, muốn tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội trong một thời gian ngắn, đã dẫn đến  
những khó khăn về kinh tế - xã hội.  
Những thuận lợi, khó khăn từ tình hình thế giỚI và trong nước ở giai đoạn này đã ảnh hưởng to  
lớn đến công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và tác động đến việc hoạch định đường lối đối  
ngoại của Đảng.  
1.2.Nội dung đường lối đối ngoại của Đảng  
Đại hội lần thứ VI của Đảng (12-1976) xác định nhiệm vụ đối ngoại là “Ra sức tranh thủ  
những điều kiện quốc tế thuận lợi để nhanh chóng hàn gắn những vét thương chiến tranh, xây  
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở nước ta”.  
Trong quan hệ với các nước, Đại hội VI chủ trương cúng cô và tăng cường tình đoàn kết chiến  
đấu và quan hệ hợp tác với tất cả các nước xã hội chủ nghĩa; bảo vệ và phát triên mối quan hệ  
đặc biệt Việt Nam — Lào — Campuchia; sẵn sàng thiết lập, phát triển quan hệ hữu nghị và  
Sinh viên: Trần Văn Đan Trường  
Trang: 5  
     
Môn: Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam  
hợp tác với các nước trong khu vực; thiết lập và mở rộng quan hệ bình thường giữa 2 Việt Nam  
với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập chú quyền, bình đẳng và cùng có lợi.  
Từ giữa năm 1978, Đảng đã điều chỉnh một số chủ trương, chính sách đối ngoại như: chú trọng  
củng có, tăng cường hợp tác về mọi mặt với Liên Xô — coi quan hệ với Liên Xô là hòn đá  
tảng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam; nhân mạnh yêu cầu ra sức bảo vệ mối quan hệ  
đặc biệt Việt — Lào trong bối cảnh vấn đề Campuchia đang diễn biến phức. tạp; chú trương  
góp phần xây dựng khu vực Đông Nam Á hoà bình, tự đo, trung lập và ôn định; đề ra yêu cầu  
mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại.  
Đại hội lần thứ V của Đảng xác định: công tác đối ngoại phải trở thành một mặ trận chủ động,  
tích cực trong đấu tranh nhằm làm thất bại chính sách của các thé lực hiếu chiến mưu toan  
chống phá cách mạng nước ta.  
Về quan hệ với các nước, Đảng fa tiếp tục nhân mạnh đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên  
Xô là nguyên tắc, là chiến lược và luôn luôn là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại của Việt  
Nam; xác định quan hệ đặc biệt Việt Nam — Lào — Campuchia có ý nghĩa sống còn đối với  
vận mệnh của ba đân tộc; kêu gọi các nước ASEAN hãy cùng các nước Đông Dương đối thoại  
và thương lượng đề giải quyết các trở ngại, nhăm xây đựng Đông Nam Á thành khu vực hoà  
bình và ồn định; chú trương khôi phục quan hệ bình thường với Trung Quốc trên cơ sở các  
nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình; chủ trương thiết lập và mở rộng quan hệ bình thường về mặt  
nhà nước, về kinh tế, văn hoá, khoa học, kỹ thuật với tất cả các nước không phân biệt chế độ  
chính trị.  
Thực tế cho thấy, ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn (1975-1986) là  
xây dựng quan hệ hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa; củng cô và tăng  
cường đoàn kết hợp tác với Lào và Campuchia; mở rộng quan hệ hữu nghị với các nước không  
liên kết và các nước đang phát triên; đấu tranh với sự bao vây, cám vận của các thể lực thù  
địch.  
1.3.Kết quả, ý nghĩa, hạn chế và nguyên nhân  
1.3.a.  
Kết quả và ý nghĩa  
Trong 10 năm trước đôi mới, quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa  
được tăng cường, trong đó đặc biệt là với Liên Xô. Ngày 29-6-1978, Việt Nam ra nhập Hội  
đồng Tương trợ kinh tế (khối SEV). Viện trợ hàng năm và kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam  
với Liện Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác trong khối SEV đều tăng. Ngày 31-11-1978,  
Việt Nam ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô.  
Từ năm 1975 đến năm1977, nước ta đã thiết lập thêm quan hệ ngoại giao với 23 nước; ngày  
15-9-1976, Việt Nam tiếp nhận ghé thành viên chính thức Quỹ tiên tệ quốc tế (ME); ngày 21-  
9-1976, tiếp nhận ghê thành viên chính thức Ngân hàng Thế giới (WB); ngày 23- 9-1276, gia  
nhập Ngân hàng Phát triên châu Á (ADB); ngày 20-9-1977, tiếp nhận ghế thành viên tại Liên  
hợp quôc; tham gia tích cực các hoạt động trong phong trào Không lien kết... Kể từ năm 1977,  
một số nước mở quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam.  
Với các nước khác thuộc khu vực Đông Nam Á: Cuối năm 1976, Philíppin và Thái Lan là  
nước cuối cùng trong tổ chức ASEAN thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam.  
Sự tăng cường hợp tác toàn diện với các nước xã hội chủ nghĩa và mở rộng quan hệ hợp tác  
kinh tế với cả các nước ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa đã tranh thú được nguồn viện 3 trợ  
Sinh viên: Trần Văn Đan Trường  
Trang: 6  
 
Môn: Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam  
đáng kề, góp phân khôi phục đất nước sau chiến tranh; việc trở thành thành viên chính thức  
Quỹ tiền tệ quôc” tế, Ngân hàng phát triển châu Á và việc trở thành thành viên chính thức của  
Liên hợp quốc, tham gia tích cực vào các hoạt động của Phong trào không liên kết, đã tranh thú  
được sự úng hộ, hợp tác của các nước, các tổ chức quốc tế, đồng thời phát huy được vai trò của  
nước ta trên trường quốc tế. Việc thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước còn lại trong tổ  
chức ASEAN đã tạo thuận lợi đê triển khai các hoạt động đối ngoại trong giai đoạn sau, nhăm  
xây đựng Đông Nam Á trở thành khu vưch hoà bình, hữu nghị và hợp tác.  
1.3.b. Hạn chế và nguyên nhân  
Bên cạnh những kết quả nêu trên, nhìn tổng quát, từ năm 1975 đến năm 1986, quan hệ quốc tế  
của Việt Nam gặp những khó khăn, trở ngại lớn. Nước ta bị bao vậy, cô lập, trong đó đặc biệt  
là từ cuối thập ký 70 thế ký XX, lấy cớ “Sự kiện Campuchia” các nước ASEAN và một số  
nước khác thực hiện bao vây, cắm vận Việt Nam...  
Nguyên nhân dẫn đến những khó khăn trên, là do trong quan hệ đối ngoại giai đoạn này chúng  
ta chưa nắm bắt được xu thế chuyền từ đối đầu sang hoà hoãn và chay đua kinh tế trên thế giới.  
Do đó, đã không tranh thủ được các nhân tố thuận lợi trong quan hệ quốc tế phục vụ cho công  
cuộc khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh; không kịp thời đổi mới quan hệ đối ngoại  
cho phù hợp với tình hình.  
Những hạn chế về đối ngoại của Việt Nam giai đoạn (1975-1986)b suy cho cùng đều xuất phát  
từ nguyên nhân căn bản đã được Đại hội lần thứ VI của Đảng chỉ ra là “bệnh chủ quan, duy ý  
chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan”.  
2. Đường lối đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế thời kỳ đổi mới  
2.1.Hoàn cảnh lịch sử và quá trình hình thành đường lối  
2.1.a. Hoàn cảnh lịch sử  
Từ giữa những năm 1980, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ ( đặc biệt là công nghệ  
thông tin) tiếp tục phát triền mạnh mẽ. tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống của các quốc gia,  
dân tộc.  
Các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khúng hoảng sâu sác. Đến đầu những năm 1990, chế độ xã  
hội chủ nghĩa ở Liên Xô sụp đồ, dẫn đến những, biến đổi to lớn về quan hệ quốc tế. Trật tự thế  
giới được hình thành từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai trên cơ sở hai khối đối lập do Liên Xô  
và Hoa Kỳ đứng đầu (trật tự thế giới hai cực) tan rã, mở ra thời kỳ hình thành một trật tự thê  
giới mới.  
Trên phạm vi thế giới, những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột, tranh chấp vẫn còn, nhưng xu  
thế chung của thế giới là hoà bình và hợp tác phát triển.  
Các quôc gia, các tổ chức và các lực lượng chính trị quốc tế thực hiện điều chỉnh chiến lược  
đối nội, đối ngoại và phương thức hành động cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ bên trong và  
đặc điểm của thế giới.  
Xu thế chạy đua phát triên kinh tế khiến các nước, nhất là những nước đang phát triển đã đôi  
mới tư duy đối ngoại, thực hiện chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế; mở  
rộng và tăng cường lien kết, hợp tác với các nước phát triển đề tranh thủ vốn, kỹ thuật, công  
nghệ, mở rộng thị trường, học tập kinh nghiệm tô chức, quản lý sản xuất kinh doanh.  
Sinh viên: Trần Văn Đan Trường  
Trang: 7  
   
Môn: Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam  
Các nước, đổi mới tư duy về quan niệm sức mạnh, vị thế quốc gia. Thay thê cách đánh giá cũ,  
chủ yêu dựa vào sức mạnh quân sự băng các tiêu chí tổng hợp, trong đó sức mạnh kinh tế được  
đặt ở vị trí quan trọng hàng đầu.  
Xu thế toàn cầu hoá và tác động của nó: Dưới góc độ kinh tế, toàn cầu hoá là quá trình lực  
lượng sản xuất và quan hệ kinh tế quốc tế phát triên vượt qua các rào cản bởi biên giới quốc  
gia và khu vực, lan toả ra phạm vi toàn cấu, trong đó hàng hoá, vốn, tiền tệ, thông tin, lao  
động... vận động thông thoáng; sự phân công lao động mang tính quốc tế; quan hệ kinh tế giữa  
các quốc gia, khu vực đan xen nhau, hình thành mạng lưới quan hệ đa chiều.  
Những tác động tích cực của toàn cầu hoá: trên cơ sở thị trường được mở rộng, trao đôi hàng  
hoá tăng mạnh đã thúc đây phát triển sản xuất của các nước; nguồn vốn, khoa học công nghệ,  
kinh nghiệm quản lý cùng các hình thức đầu tư, hợp tác khác mang lại lợi ích cho các bên tham  
gia hợp tác. Mặt khác, toàn cầu hoá làm tăng tính tuỳ thuộc lẫn nhau, nâng cao sự hiểu biết  
giữa các quốc gia, thuận lợi cho việc xây đựng môi trường hoà bình, hữu nghị và hợp tác giữa  
các nước.  
Những tác động tiêu cực của toàn cầu hoá: xuất phát từ việc các nước công nghiệp phát triển  
thao túng, chi phối quá trình toàn cầu hoá tạo nên sự bất bình đẳng trong quan hệ quốc tế và  
làm tăng sự phân cực giữa các nước giàu và nước nghèo. Đại hội lần thứ IX của Đảng chỉ rõ:  
“Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia; xu  
thế này đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa  
đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu  
tranh”  
Thực tế cho thấy răng, các nước muốn tránh khỏi nguy cơ bị biệt lập, tụt hậu, kém phát triên  
thì phải tích cực, chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu hoá, đồng thời phải có bản lĩnh cân  
nhắc một cách cần trọng các yếu tô bất lợi để vượt qua.  
Tình hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương, từ những năm 1990, có nhiều chuyên biến mới:  
Trước hết, trong khu vực tuy vẫn còn tồn tại những bắt ô ồn, như vấn đè hạt nhân, vấn đè tranh  
chấp lãnh hải thuộc vùng biên Đông và việc một số nước trong khu vực tăng cường vũ trang,  
nhưng châu Á - Thái Bình Dương vẫn có tiềm lực lớn và năng động về phát triển kinh tế. Xu  
thế hoà bình và hợp tác trong khu vực phát triên mạnh.  
*Yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam:  
Sự bao vây, chống phá của các thế lực thù địch đối với Việt Nam từ nửa cuối thập kỷ 1970 thế  
kỷ XX tạo nên tình trạng căn thăng, mắt ôn định trong khu vực và gây khó khăn, cản trở cho sự  
phát triên của cách mạng Việt Nam, là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng  
hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng của nước ta. Vì vậy, vân đề giải toả tình trạng đối đầu, thù  
địch, phá thế bị bao vây, cầm vận, tiễn tới bình thường hoá và mở rộng quan hệ hợp tác với các  
nước, tạo môi trường quốc tế thuận lợi đề tập trung xây dựng kinh tế là nhu cầu cần thiết và  
cấp bách đối với nước ta.  
Mặc khác, do hậu quả nặng nè của chiến tranh và các khuyết điểm chú quan, nên kinh tế Việt  
Nam lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng. Nguy cơ tụt hậu xa hơn vê kinh tế so với nhiều nước  
trong khu vực và trên thế giới là một trong những thách thức lớn đối với cách mạng Việt Nam.  
Vì vậy, nhu cầu chống tụt hậu về kinh tế đặt ra gay gắt. Đề thu hẹp khoảng cách phát triển giữa  
nước ta với các quốc gia khác, ngoài việc phát huy tối đa các nguồn lực bên ngoài, trong đó  
Sinh viên: Trần Văn Đan Trường  
Trang: 8  
Môn: Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam  
việc mở rộng và tăng cường hợp tác kinh tế với các nước và tham gia vào cơ chế hợp tác đa  
phương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.  
Những đặc điểm, xu thế quốc tế và yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam nêu trên là cơ  
sở để Đảng Cộng sản Việt Nam xác định quan điêm và hoạch định chú trương, chính sách đối  
ngoại thời kỳ đổi mới.  
2.1.b.  
Các giai đoạn hình thành, phát triển đường lối  
*Giai đoạn 1986-1996: Xác lập đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa đạng hoá, đa phương hoá  
quan hệ quốc tế:  
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986), trên cơ sở nhận thức đặc điểm nồi  
bật của thế giới là cuộc cách mạng khoa học — kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ, đây nhanh quá  
trình quốc tế hoá lực lượng sản xuất, Đảng ta nhận định: “xu thê mở rộng phân công, hợp tác  
giữa các nước, kê cả các nước có chế độ kinh tế - xã hội khác nhau, cũng là những điều kiện rất  
quan trọng đối với công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa của nước ta”.  
Từ đó, Đảng chú trương phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại điều kiện  
mới và đề ra yêu cầu mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nước ngoài hệ thống xã hội chủ  
nghĩa, với các nước công nghiệp phát triên, các tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên  
nguyên tắc bình đắng, cùng có lợi.  
Triển khai chủ trương của Đảng, tháng 12-1987, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được  
ban hành. Đây là lần đầu tiên Nhà nước ta tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động đầu tư trực tiếp  
nước ngoài vào Việt Nam — mở cửa đề thu hút nguồn vốn, thiết bị và kinh nghiệm tô chức  
quản lý sản xuất, kinh doanh phục vụ công cuộc xây dựng, phát triên đất nước.  
Tháng 5-1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 13 về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong  
tỉnh hình mới, khẳng định mục tiêu chiến lược và lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân ta là  
phải cúng cô và giữ vững hoà bình để tập trung sức xây dựng và phát triên kinh tế. Bộ Chính  
trị đề ra chủ trương kiên quyết chủ động chuyền cuộc đấu tranh từ tình trạng đối đầu sang đấu  
tranh và hợp tác trong cùng tồn tại hoà bình; lợi dụng sự phát triển của cách mạng khoa học —  
kỹ thuật và xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đề tranh thủ vị trí có lợi nhất trong phân  
công lao động quốc tế; kiên quyết mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, ra sức đa dạng hoá quan  
hệ đối ngoại.  
Nghị quyết số 13 của Bộ Chính trị đánh dấu sự đổi mới tư duy quan hệ quốc tế và chuyền  
hướng toàn bộ chiến lược đối ngoại của Đảng ta. Sự chuyền hướng này đã đặt nền móng hình  
thành đường lối đối ngoại độc lập tự chú, rộng mở, đa dnạg hoá, đa phương hoá quan hệ quốc  
tế.  
Trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại, từ năm 1989, Đảng chú trương xoá bỏ tình trạng độc quyền  
trong sản xuất và kinh doanh xuất nhập khâu. So với chú trương của Đại hội V “Nhà nước độc  
quyên ngoại thương và Trung ương thống nhất quản lý công tác ngoại thương”, thì đây là bước  
đổi mới đầu tiên trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại của Việt Nam.  
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6-1991) đề ra chú trương “hợp tác bình đăng  
và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau, trên cơ  
sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình”, với phương châm “Việt Nam muốn làm bạn với tất  
cả các nước trong cộng đồng thế giới, phân đấu vì hoà bình, độc lập và phát triên” Đại hội VII  
đã đôi mới chính sách đối ngoại với các đối tác cụ thê. Với Lào và Campuchia, thực hiện đổi  
Sinh viên: Trần Văn Đan Trường  
Trang: 9  
Môn: Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam  
mới phương thức hợp tác, chú trọng hiệu quả trên tinh thần bình đẳng. Với Trung Quốc, Đảng  
chú trương thúc đây bình thường hoá quan hệ, từng bước mở rộng hợp tác Việt — Trung.  
Trong quan hệ với khu vực, chú trương phát triên quan hệ hữu nghị với các nước Đang Nam Á  
và châu Á — Thái Bình Dương, phân đầu cho một Đang Nam Á hoà bình, hữu nghị và hợp  
tác. Đối với Hoa Kỳ, Đại hội nhẫn mạnh yêu cầu thúc đây quá trình bình thường hoá quan hệ  
Việt Nam — Hoa Kỳ.  
Cương lĩnh xây đựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đại hội VII của  
Đảng thông qua, đã xác định quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân đân tất cả các nước trên thế  
giới là một trong những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân đân ta xây  
dựng.  
Các Hội nghị Trung ương (khoá VII) tiếp tục cụ thê hoá quan điểm của Đại hội VII về lĩnh vực  
đối ngoại. Trong đó, Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương hoá VII (6-1992) nhân  
mạnh yêu cầu đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế. Mở rộng để tiếp thu vốn, công  
nghệ, kinh nghiệm quản lý của nước ngoài, tiếp cận thị trường thế giới, trên CƠ SỞ đảm bảo  
an ninh quốc gia, bảo vệ tài nguyên, môi trường , hạn chế đến mức tối thiêu những mặt tiêu  
cực phát sinh trong quá trình mớ cửa.  
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (1-1994) chú trương triển khai mạnh mẽ  
và đồng bộ đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ  
đối ngoại, trên cơ sở tư tưởng chỉ đạo là: giữ vững nguyên tác độc lập, thống nhất và chú nghĩa  
xã hội đồng thời phải rất sang tạo, năng động, linh hoạt phù hợp với vị trí, điều kiện và hoàn  
cảnh cụ thê của Việt Nam cũng như diễn biễn của tình hình thế giới và khu vực, phù hợp với  
đặc điểm từng đối tượng.  
Như vậy, quan điểm, chủ trương đối ngoại rộng mở được đề ra từ Đại hội Đảng lần thứ VI, sau  
đó được các Nghị quyết trưng ương từ khoá VI đến khoá VII phát triển đã hình thành đường  
lỗi đối ngoại độc lập tự chú, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế.  
*Giai đoạn 1996 — 2008: Bồ sung và phát triển đường lối đối ngoại theo phương châm chú động  
tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.  
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6-1996) khẳng định tiếp tục mở rộng quan  
hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt với các nước, các trung tâm kinh tế, chính trị khu vực và quốc tế.  
Đồng thời chủ trương “xây dựng nền kinh mở” và “đây nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu  
vực và thế giới”.  
Đại hội VIII xác định rõ hơn quan điểm đối ngoại với các nhóm đối tác như: ra sức tăng cường  
quan hệ với các nước láng giềng và các nước trong tổ chức ASEAN; không ngừng củng cô  
quan hệ với các nước bạn bè truyền thống; coi trọng quan hệ với các nước phát triên và các  
trung tâm kinh té - chính trị thế giới; đoàn kết với các nước đang phát triên, với phong trào  
không liên kết; tham gia tích cực và đóng góp cho hoạt động của các tô chức quốc tế, các điễn  
đàn quốc tê.  
So với Đại hội VII, chủ trương đối ngoại của Đại hội VIII có đặc điểm mới là: một là, chủ  
trương mớ rộng quan hệ với các đáng câm quyên và các đảng khác; hai là, quán triệt yêu cầu  
mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, quan hệ với các tổ chức phi chính phú; ba là, lần đầu  
tiên, trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại, Đảng đưa ra chú trương thứ nghiệm đề tiến tới thực hiện  
đầu tư ra nước ngoài. Cụ thể hoá quan điểm của Đại hội VIII, Nghị quyết Hội nghị lần thức tư  
Sinh viên: Trần Văn Đan Trường  
Trang: 10  
Môn: Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam  
Ban chấp hành Trung ương, khoá VII (12-1997), “chỉ rõ: trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiện  
nhật quán, lâu dài chính sách thu hút các nguồn lực bên ngoài. Nghị quyết đề ra chủ trương tiễn  
hành khẩn trương, vững chắc việc đàm phán Hiệp định Thương mại với Mỹ, gia nhập APEC  
và WTO.  
Tại Đại hội đại biêu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4-2001), Đảng nhân mạnh chủ trương chủ  
động hội nhập kinh tế quôc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực. Lần đầu tiên,  
Đảng nêu rõ quan điêm vẻ xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ: “Xây dựng nên kinh tế độc lập  
tự chú, trước hết là độc lập tự chủ về đường lối, chính sách, đồng thời có tiềm lực kinh tế đủ  
mạnh. Xâu dựng nên kinh tế độc lập tự chủ phải đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế,  
mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, kết hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn lực  
tông hợp phát triển đất nước”.  
Cảm nhận đầy đú “lực” và “thế” của đất nước sau 15 năm đổi mới, Đại hội IX đã phát triển  
phương châm của Đại hội VI là: “Việt Nam sẵn sang là bạn, là đối tác tin cậy của các nước  
trong cộng đồng quốc té, phân đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”. Chủ trương xây dựng  
quan hệ đối tác được đề ra ở Đại hội IX đánh dấu bước phát triển về chất tiễn trình quan hệ  
quốc tế của Việt Nam thời kỳ đổi mỚiI.  
Tháng 11-2001, Bộ chính trị ra Nghị quyết 07 về hội nhập kinh tế quốc tế. Nghị quyết đề ra 9  
nhiệm vụ cụ thê và 6 biện pháp tổ chức thực hiện quá trình hội nhập kinh tế quốc té. Hội nghị  
lần thức chín Ban Chấp hành Trung ương khoá IX (5-1-2004) nhân mạnh yêu cầu chuẩn bị tốt  
các điều kiện trong nước đề sớm gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO); kiên quyết đâu  
tranh với mọi biêu hiện của các lợi ích cục bộ làm kìm hãm tiễn trinh hội nhập kinh tế quốc tế.  
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng(4-2006), Đảng nêu quan điểm: thực hiện  
nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chú, hoà bình, hợp tác và phát triên; chính sách đối  
ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Đồng thời đè ra chú trương  
“chú động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”.  
Chú động hội nhập kinh tế quốc tế là hoàn toàn chú động quyết định đường lối, chính sách hội  
nhập kinh tế quốc tế, không để rơi vào thê bị động; phân tích lựa chọn phương thức hội nhập  
đúng, dự báo được những tình huống thuận lợi và khó khăn khi hội nhập kinh tế quốc tế, không  
đê rơi vào thê bị động; phân tích, lựa chọn phương thức hội nhập đúng, dự báo được những  
tình huống thuận lợi và khó khăn khi hội nhập kinh tế quốc. tế.  
Tích cực hội nhập kinh tế quốc tế là khẩn trương chuẩn bị điều chỉnh, đôi mới bên trong, từ  
phương thức lãnh đạo, quản lý đến hoạt động thực tiễn; từ trung ương đến địa phương, doanh  
nghiệp; khân trương xây dựng lộ trình, kế hoạch, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật; nâng cao năng  
lực cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế; tích cực, nhưng phải thận trọng, vững chắc.  
Chú động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế phải là ý chí, quyết tâm của Đảng, Nhà nước,  
toàn đân, của mọi doanh nghiệp thộc các thành phần kinh tế và toàn xã hội.  
Như vậy, đường lỗi đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ  
quốc tế được xác lập trong mười năm đầu của thời kỳ đổi mới (1986-1996), đến Đại hội X  
(2006) được bồ sung, phát triển theo phương châm chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế  
hình thành đường lối đối ngoại độc lập tự chú,hoà binh, hợp tác và phát triển; chính sách đối  
ngoại rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế.  
2.2.Nội dung đường lối đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế  
Sinh viên: Trần Văn Đan Trường  
Trang: 11  
 
Môn: Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam  
2.2.a Mục tiêu, nhiệm vụ và tư tưởng chỉ đạo  
Trong các văn kiện liên quan đến lĩnh vực đối ngoại, Đảng ta đều chỉ rõ cơ hội và thách thức của  
việc mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế, trên cơ sở đó Đảng xác định mục tiêu, nhiệm vụ  
và tư tưởng chỉ đạo công tác đối ngoại.  
*Cơ hội và thách thức  
Về cơ hội: Xu thế hoà bình, hợp tác phát triển và xu thế toàn cầu hóa kinh tế tạo thuận lợi cho  
nước ta mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác phát triển kinh tế. Mặt khác, thắng lợi của sự  
nghiệp đôi mới đã nâng cao thế và lực của nước ta trên trường quốc tế, tạo tiền đề mới cho  
quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc té.  
Về thách thức: Những vấn đẻ toàn cầu như phân hoá giàu nghèo, dịch bệnh, tội phạm xuyên  
quốc gia.. .gây tác động bất lợi đối với nước ta.  
Nền kinh tế Việt Nam phải chịu sức ép cạnh tranh gay gắt trên cả ba cấp độ: sản phẩm, doanh  
nghiệp và quốc gia; những biến động trên thị trường quốc tế sẽ tác động nhanh và mạnh hơn  
đến thị trường trong nước, tiềm ân nguy cơ gây rỗi loạn, thậm chí khủng hoảng kinh tế - tài  
chính.  
Ngoài ra, lợi dụng toàn cầu hoá, các thế lực thù địch sứ dụng chiêu bài “dân chủ”, quyền”  
chống phá chế độ chính trị và sự ồn định, phát triên của nước ta.  
Những cơ hội và thách thức nêu trên có môi quan hệ, tác động qua lại, có thê chuyên hoá lẫn  
nhau. Cơ hội không tự phát huy tác dụng mà tuỳ thuộc vào khả năng tận dụng cơ hội. Tận dụng  
tốt cơ hội sẽ tạo thế và lực mới đê vượt qua thách thức, tạo ra cơ hội lớn hơn. Ngược lại, nêu  
không năm bắt, tận dụng thì cơ hội có thể bị bỏ lỡ, thách thức sẽ tăng lên, lấn át cơ hội, cản trở  
sự phát triên. Thách thức tuy là sức ép trực tiếp, nhưng tác động đến đâu còn tuỳ thuộc vào khả  
năng và nỗ lực của chúng ta. Nếu tích cực chuẩn bị, có biện pháp đói phó hiệu quả, vươn lên  
nhanh trước sức ép của các thách thức thì không những sẽ vượt qua được thách thức, mà còn  
có thê biến thách thức thành động lực phát triên.  
*Mục tiêu, nhiệm vụ đối ngọai  
Lấy việc giữ vững môi trường hoà bình, ồn định; tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công  
cuộc đổi mới, đề phát triển kinh tế - xã hội là lợi ích cao nhất của Tổ quốc. Mớ rộng đối ngoại  
và hội nhập kinh tế quốc tế là đê tạo them nguồn lực đáp ứng yêu câu phát triển của đất nước;  
kết hợp nội lực với các nguồn lực từ bên ngoài tạo thành nguồn lực tổng hợp đẻ đây mạnh công  
nghiệp hoá, hiện đại hoá, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công băng, dân chú, văn minh;  
phát huy vai trò và nâng cao vị thê của Việt Nam trong quan hệ quốc tế; góp phân tích cực vào  
Cuộc đầu tranh chung của nhân dân thê giới và hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiễn bộ xã  
hội.  
*Tư tưởng chỉ đạo  
Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính là xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã  
hội chú nghĩa, đồng thời thực hiện nghĩa vụ quốc tế theo khả năng của Việt Nam.  
Giữ vững độc lập tự chủ, tự cường đi đôi với đây mạnh đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ  
đối ngoại.  
Nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế; có gắng thúc đây mặt hợp tác,  
nhưng vẫn phải đấu tranh đưới hình thức và mức độ thích hợp với từng đối tác; đấu tranh đề  
hợp tác; tránh trực diện đối đầu, tránh đẻ bị đây vào thê cô lập.  
Sinh viên: Trần Văn Đan Trường  
Trang: 12  
Môn: Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam  
Mớ rộng quan hệ với mọi quốc gia và vùng lănh thô trên thế giới, không phân biệt chế độ  
chính trị xã hội. Coi trọng quan hệ hoà bình, hợp tác với khu vực; chủ động tham gia các tô  
chức đa phương, khu vực và toàn cầu.  
Kết hợp đối ngoại cúa Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Xác định hội nhập  
kinh tês quốc tế là công việc của toàn dân.  
Giữ vững ồn định chính trị, kinh tế - xã hội; giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc; bảo vệ môi  
trường sinh thái trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.  
Phát huy tối đa nội lực đi đôi với thu hút và sứ đụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài; xây  
dựng nên kinh tếđộc lập tự chủ; tạo ra và sử dụng có hiệu quả các lợi thế so sánh của đất  
nưởctong quá trình hội nhập kinh tế quốc té.  
Trên cơ sở thực hiện các cam kết gia nhập WTO, đây nhanh nhịp độ cải cách thê chế, cơ chế,  
chính sách kinh tế phù hợp với chú trương, định hướng của Đảng và Nhà nước.  
Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời phát huy vai trò của Nhà nước, Mặt  
trận Tô quôc và các đoàn thê nhân dân, tanưg cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân  
trong tiền trình hội nhập kinh tế quôc tế.  
2.2.b. Một số chủ trương, chính sách lớn về mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh  
tế quốc tế  
Trong các văn kiện của Đảng liên quan đến đối ngoại, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Trung ương  
4 khoá (2- 2007) đã đẻ ra một số chú trương, chính sách lớn như:  
Đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập đi vào chiều sâu, ồn định, bèn vững: Hội nhập sâu  
sắc và đầy đú vào nèn kinh tế thế giới, nước ta sẽ có địa vị bình đăng với các thành viên khác  
khi tham gia vào việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu, thiết lập một trât tự kinh tế  
mới công bằng hơn; có điều kiện thuận lợi đề đấu tranh bảo vệ quyên lợi doanh nghiệp Việt  
Nam tranh các cuộc tranh chấp thương mại với các nước khác, hạn chế được những thiệt hại  
trong hội nhập kinh tế quốc tế.  
Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp: Chủ động và tích cực xác  
định lộ hội nhập hợp lý, trong đó cân tận dụng những ưu đãi mà WTO dành chocác nước đang  
phát triên và kém phát triên; chủ động và tích cực nhưng phải hội nhập từng bước, dần đând  
mở cửa thị trường theo một lộ trình hợp lý.  
Bồ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật và thê chế kinh tế phù hợp với các nguyên tắc, quy  
định của WTO: bảo đảm tính đồng bộ của hệ thông. spháp luật; đa dnạg hoá các hình thức sở  
hữu, phát triên kinh tế nhiều thành phần; thúc đây, sự hình thành, phát triên và từng bước hoàn  
thiện các loại thị trường; xây dựng các sắc thuế công băng, thông nhất, đơn giản, thuận tiện cho  
mọi chủ thê kinh doanh.  
Đây mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực của bộ máy nhà nước: Kiên quyết  
loại bỏ nhanh các thủ tục hành chính không còn phù hợp; đây mạnh phân cấp gắn với tăng  
cường trách nhiệm và kiểm tra, giám sát; thực hiện công khai, minh bạch mọi chính sách, cơ  
chế quản lý.  
Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phâm trong hội nhập kinh tế quốc  
tế: Nâng cao năng lực điều hành của Chính phú; tích cực thu hút đầu tư nước ngoài 10 để nâng  
cao sức cạnh tranh của nên kinh tế; các doanh nghiệp điều chỉnh quy mô và cơ cầu sản xuất  
Sinh viên: Trần Văn Đan Trường  
Trang: 13  
Môn: Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam  
trên cơ sở xác định đúng dẫn chiến lược sản phẩm và thị trường; điêu chính quy hoạch phát  
triên, nhanh chóng có biện pháp nâng cao sức cạnh tranh của một số sản phẩm.  
Giải quyết tốt các vẫn đề văn hoá, xã hội và môi trường trong quá trình hội nhập: Bảo vệ và  
phát huy các giá trị văn hoá dân tộc trong quá trình hội nhập; xây đựng cơ chế kiêm soát và chế  
tài xử lý sự xâm nhập của các sản phẩm và dịch vụ văn hoá không lành mạnh, gây phương hại  
đến đến sự phát triển đất nước, văn hoá và con người Việt Nam; kết hợp hài hoà giữa giữ gìn  
và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống với tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hoá tiên  
tiễn trong quá trình giao lưu với các nền văn hoá bên ngoài.  
Xây dựng và vận hành có hiệu quả mạng lưới an sinh xã hội như giáo dục, bảo hiểm, y tế; đây  
mạnh công tác xoá đói, giảm nghèo; có các biện pháp cắm, hạn chế nhập khâu những mặt hàng  
có hại cho môi trường: tăng cường hợp tác quốc tế trên lĩnh vực bảo vệ môi trường.  
Giữ vững và tăng cường quốc phòng, an ninh trong quá trình hội nhập: Xây dựng nền quốc  
phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh; có các phương án chông lại âm mưu “diễn  
biến hoà bình” của các thể lực thù địch.  
Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao của Nhà nước và đối ngoại nhân  
dân; chính trị đối ngoại và kinh tế đối ngoai: Tạo cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa hoạt động đối  
ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân nhăm tăng cường hiệu quả của  
hoạt động đối ngoại. Các hoạt động đối ngoại song phương và đa phương cần hướng mạnh vào  
việc phục vụ đắc lực nhiệm vụ mớ rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế  
quôc tế. Tích cực tham gia đấu tranh vì một hệ thống quan hệ kinh tế quôc tế bình đăng, công  
bằng, cùng có lợi.  
Đồi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với các hoạt động  
đối ngoại: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tập trung xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội  
chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, trọng tâm là cải cách hành chính.  
2.3.Thành tựu, ý nghĩa, hạn chế và nguyên nhân  
2.3.a. Thành tựu và ý nghĩa  
Hơn 20 năm thực hiện đường lỗi mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế, nước ta đã đạt được  
những kết quả:  
Một là, phá thế bao vây, cắm vận của các thể lực thù địch, tạo dựng môi trường quốc tế thuận  
lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việc tham gia ký Hiệp định Pái (23-10-1991)  
về một giải pháp toàn diện cho vấn đẻ Camphuchia, đã mở ra tiền đề để Việt Nam thúc đây  
quan hệ với khu vực và cộng đồng quốc tế. Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ với Trung  
Quốc (10-11-1991); tháng 11-1992 Chính phú Nhật Bản quyết định nối lại viện trợ ODA cho  
Việt Nam; bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ (11-7-1995). Tháng 7-1995 Việt Nam gia  
nhập ASEAN, đánh dấu sự hội nhập của nước ta với khu vực Đông Nam Á.  
Hai là, giải quyết hoà bình các vẫn đề biện giới, lãnh thô, biên đảo với các nước liên quan. Đã  
đàm phán thành công với Malaysia về giải pháp “gác tranh chấp, cùng khai thác” ở vùng biên  
chồng lấn giữa hai nước. Thu hẹp diện tranh chấp vùng biên giữa ta và các nước ASEAN. Đã  
ký với Trang Quốc: Hiệp ước về phân định biên giới trên bộ, Hiệp định phân Vịnh Bắc Bộ và  
Hiệp định hợp tác về nghề cả.  
Sinh viên: Trần Văn Đan Trường  
Trang: 14  
 
Môn: Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam  
Ba là, mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá. Lần đầu tiên trong  
lịch sử, Việt Nam có quan hệ chínhthức với tất cả các nước lớn, kê cả 5 nước Uỷ viên Thường  
trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; tất cả các nước lớn đều coi trọng vai trò của Việt Nam ở  
Đông Nam Á. Đã ký Hiệp định khung về hợp tác với EU (1995); năm 1999 ký thoả thuận với  
Trung Quốc khung khổ quan hệ “ Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ồn định lâu dài,  
hướng tới tương lai”; tháng 5-2008 thiết lập quan hệ đối tác hợp tác toàn điện Việt Nam —  
Trung Quốc; ngày 13-7-2001, ký kết Hiệp định thương mại song phương việt Nam — Hoa Kỷ;  
tuyên bồ về quan hệ đối tác chiến lược với Nga (2001); khung khô quan hệ đối tác tin cậy và  
ồn định lâu đài với Nhật Bản (2002). Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 169 nước  
trên tông số hơn 200 nước trên thế giới. Tháng 10-2007, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu  
Việt Nam làm uý viên không thường trực Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2008-2009.  
Bốn là, tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế. Năm 1993, Việt Nam khai thông quan hệ với các  
tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như: Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB),  
Ngân hàng phát triên châu Á (ADB); sau khi gia nhập ASEAN ( AFTA); tháng 3-1996, tham  
gia Diễn đàn hợp tác Á — Âu (ASEM) với tư cách là thành viên sáng lập; tháng 11-1998, gia  
nhập tô chức Diễn đàn hợp tác châu Á - Thái Bình Dương (APEC); ngày 11-1-2007, Việt Nam  
được kết nạp làm thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thể giới (WTO).  
Năm là, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, mở rộng thị trường, tiếp thu khoa học công nghệ và kỹ  
năng quản lý. Về, mở rộng thị trường: Nước ta đã tạo đựng được quan hệ kinh tế thương mại  
với trên 180 quốc. gia và vùng lãnh thổ, trong đó có 74 nước áp dụng quy chế tối huệ quốc;  
thiết lập và ký kết hiệp định thương mại hai chiều với gần 90 nước và vùng lãnh thổ. Nếu năm  
1986 kim ngạch xuất kâu chỉ đạt 789 triệu USD, đến năm 2007 đạt 48 tỷ USD; năm 2008 đạt  
khoảng 62,9 tỷ USD. Việt Nam đã thu hút được khối lượng lớn đầu tư nước ngoài. Năm 2007,  
thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam đạt 20,3 tý USD; năm 2008 đạt khoảng 65 tỷ USD.  
Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo cơ hội đề nước ta tiếp cận những thành tựu của cuộc cách  
mạng khoa học và công nghệ trên thế giới. Nhiều công nghệ hiện đại, dây chuyên sản xuất tiên  
tiến được sử dụng đã tạo nên bước phát triển mới trong các ngành sản xuất. Đồng: thời, thông  
qua dự án liên doanh hợp tác với nước ngoài, các doanh nghoệp Việt Nam đã tiếp nhận được  
nhiều kinh nghiệm quản lý sản xuất hiện đại.  
Sáu là, từng bước đưa hoạt động của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế vào môi trường cạnh  
tranh. Trong quá trình hội nhập, nhiều doanh nghiệp đã đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý,  
nâng cao năng suất và chất lượng, không ngừng vươn lên trong cạnh tranh đề tồn tại và phát  
triên. Tư duy làm ăn mới, lấy hiệu quả sản xuất kinh doanh làm thước đo và đội ngũ các nhà  
doanh nghiệp mới năng động, sáng tạo có kiến thức quản lý đang hình thành.  
Những kết quả trên đây có ý nghĩa rất quan trọng: đã tranh thủ được các nguồn lực bên ngoài  
kết hợp với các nguồn lực trong nước hình thành sức mạnh tổng hợp góp phần đưa đến những  
thành tựu kinh tế to lớn. Góp phân giữ vững và cúng cô độc lập, tự chủ, định hướng xã hội chủ  
nghĩa; giữ vững an ninh quôc gia và bản sắc văn hoá dân tộc; nâng cao vị thế và phát huy vai  
trò nước ta trên trường quôc tế.  
2.3.b.  
Hạn chế và nguyên nhân  
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình thực hiện đường lối đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế  
cũng bộc lộ những hạn chế:  
Sinh viên: Trần Văn Đan Trường  
Trang: 15  
Môn: Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam  
Trong quan hệ với các nước, nhất là các nước lớn, chúng ta còn lúng túng, bị động.  
Một sô chủ trương, cơ chế, chính sách chậm được đổi mới so với yêu cầu mở rộng quan hệ đối  
ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế; hệ thống luật pháp chưa hoàn chỉnh, không đồng bộ, gây khó  
khăn trong việc thực hiện các cam kết của các tô chức kinh tế quôc tế.  
Chưa hình thành được một kế hoạch tổng thê và dài hạn về hội nhập kinh tế quốc tế và một lộ  
trình hợp lý cho việc thực hiện các cam kết.  
Doanh nghiệp nước ta hầu hết quy mô nhỏ, yêu kém cả về quản lý và công nghệ; trong lĩnh  
vực sản xuất công nghiệp, trình độ trang thiết bị lạc hậu; kết câu hạ tầng và các ngành dịch vụ  
cơ bản phục vụ sản xuất kinh doanh đều kém phát triển và có chi phí cao hơn các nước khác  
trong khu vực.  
Đội ngũ cán bộ lĩnh vực đối ngoại nhìn chung chưa đáp ứng được nhu cầu cả về số lượng lẫn  
chất lượng. Cán bộ doanh nghiệp ít hiểu biết về luật pháp quốc tế, về kỹ thuật kinh doanh.  
Quá trình thực hiện đường lôi đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 1986 đến 2008 mặc  
dù còn những hạn chế nhưng thành tựu là cơ bản, có ý nghĩa rất quan trọng: góp phần đưa đất  
nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, nền kinh tế Việt Nam có bước phát triên mới; thế và  
lực của Việt Nam được nâng cao trên trường quốc tế. Các thành tựu đối ngoại trong hơn 20  
năm qua đã chứng minh đường lối đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước  
trong thời kỳ đôi mới là đúng đắn và sáng tạo.  
2.4. Thực tiễn và chính sách đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay  
Thế giới trong thế kỷ XXI tiếp tục chứng kiến nhiều. biến đôi phức tạp và khó lường.  
Toàn cầu hoá tiếp tục phát triên sâu rộng và tác động tới tất cả các nước. Các quốc  
gia lớn nhỏ đang tham gia ngày càng tích cực vào quá trình hội nhập quốc té. Hoà  
bình, hợp tác và phát triền vân là xu thế lớn, phản ánh đòi hỏi bức xúc của các quốc  
gia, đân tộc trong quá trinh phát triên. Tuy nhiên, các cuộc chiến tranh cục bộ, xung  
đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật  
đồ, khúng bố vẫn xây ra ở nhiều nơi với tính chất và hình thức ngày càng đa dạng và  
phức tạp.  
Thế ký 21 đang mớ ra những cơ hội to lớn nhưng cũng chưa đựng rất nhiều thách  
thức. Sau gần hai thập ký tiên hành công cuộc Đôi mới đất nước, thế và lực của nước  
ta đã lớn mạnh lên nhiều. Chúng ta có lợi thế rất lớn là tình hình chính trị - xã hội cơ  
bản ồn định. Môi trường hoà bình, sự hợp tác, liên kết quốc tế và những xu thể tích  
cực trên thế giới tiếp tục tạo điều kiện đề Việt Nam phát huy nội lực và lợi thế so  
sánh, tranh thủ ngoại lực. Tuy nhiên, chúng ta cũng đang phải đối mặt với nhiều  
thách thức rất lớn. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã từng chỉ rõ tại Đại hội Đảng toàn  
quốc lần thứ VIII năm 1996 là tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu  
vực và trên thê giới, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nạn tham nhũng và tệ quan liêu,  
diễn biến hoà bình đo các thế lực thù địch gây ra đến nay vẫn tồn tại và diễn biễn  
phức tạp, đan xen và tác động lẫn nhau.  
Nhằm phát huy những thành tựu to lớn đã đạt được trong gần hai thập ký tiên hành  
công cuộc Đồi mới và vươn tới mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu,  
Sinh viên: Trần Văn Đan Trường  
Trang: 16  
 
Môn: Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam  
nước mạnh, xã hội công băng, dân chủ, văn minh, Đảng và Nhà nước Việt Nam tiếp  
tục kiên trì thực hiện đường lỗi đối ngoại độc lập, tự chú, rộng mở, đa dạng hoá, đa  
phương hoá quan hệ quốc tế, chú động hội nhập quốc tế với phương châm “ Việt  
Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tắt cả các nước trong cộng đông thế  
giới phần đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển."  
Trên cơ sở đường lối đối ngoại đó, Việt Nam chủ trương mở rộng quan hệ hợp tác  
nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước và vùng lãnh thổ, trong đó ưu  
tiên cho việc phát triển quan hệ với các nước láng giêng và khu vực, với các nước và  
trung tâm chính trị, kinh tế quốc tẾ lớn, các tổ chức quốc tế và khu vực trên cơ sở  
những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hợp Quốc.  
Trong những năm qua, Việt Nam đã chủ động đàm phán và ký kết với nhiều nước  
trong và ngoài khu vực những khuôn khổ quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn điện cho  
thế kỷ 21. Nhiều Hiệp định, thoả thuận quan trọng đã được ký kết như Hiệp định  
Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ, Hiệp định về biên giới trên bộ, Hiệp  
định về phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định nghề cá với Trung Quốc, Hiệp định về  
phân định thèm lục địa với Indonesia... Các mối quan hệ song phương và đa phương  
đó đã góp phần không nhỏ vào việc không ngừng củng cô môi trường hoà binh, ôn  
định và tạo mọi điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tô  
quốc.  
Chú động hội nhập quốc té, trước hét là hội nhập kinh tế quốc tế là nội dung quan  
trọng trong đường lối và hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước "Việt Nam  
trong bối cảnh thế giới toàn cầu hóa và cách mạng khoa học kỹ thuật diễn ra rất  
mạnh mẽ hiện nay. Trong tiền trình hội nhập này, Việt Nam đặt ưu tiên cao cho việc  
mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, mở rộng và đa dạng hoá thị trường, tranh thủ  
vốn, kinh nghiệm quản lý và khoa học công nghệ tiên tiên cho sự nghiệp công  
nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.  
Những đóng góp của Việt Nam vào các hoạt động cúa các tô chức, điễn đàn quốc tế  
đã góp phần từng bước nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.  
Sự tham gia và hoạt động tích cực của Việt Nam ở Liên Hợp Quốc cũng được các  
nước đánh giá tích cực và đó là cơ sở để Việt Nam ứng cử vào ghế Uý viên không  
thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2008-2009.  
Với nhận thức sâu sắc răng thế giới hiện nay đang phải đối phó với những vấn đề  
toàn cầu mà không một nước nào có thê tự đứng ra giải quyết được, Việt Nam đã và  
đang hợp tác chặt chẽ với các nước, các tÔ chức quôc: tế và khu vực đề cùng nhau  
giải quyết những thách thức chung như dịch bệnh truyền nhiễm, đói nghèo, tội phạm  
xuyên quốc gia, ô nhiễm môi trường, buôn lậu ma túy, ... Đặc biệt từ sau sự kiện  
11/2/2001, Việt Nam đã tích cực tham gia vào nỗ lực chung của các nước tăng  
cường hợp tác chống khủng bố trên cơ sở song phương và đa phương nhằm loại trừ  
tận gốc nguy cơ của khủng bồ đối với an ninh và ôn định của các quôc gia.  
Sinh viên: Trần Văn Đan Trường  
Trang: 17  
Môn: Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam  
Những nỗ lực này của Việt Nam thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm của mình đối với  
bạn bè ở khu vực và quôc tế, góp phần vào sự nghiệp chung của nhân dân thế giới vì  
hòa bình, ồn định và phát triền.  
3. Đường lối, chủ trương của Đảng ta trong vấn đề biển Đông  
3.1. Đường lối của Đảng ta trong vẫn đề biến Đông  
Công tác tuyên truyền là một phần quan trọng trong công tác chính trị tư tưởng của  
Đảng. Hơn 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác tuyên truyền đã trở  
thành một vũ khí cực kỳ sắc bén trên mặt trận đấu tranh tư tưởng và ngoại giao, góp  
phân quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống  
nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.  
Trong những năm vừa qua, cùng với việc tuyên truyền toàn điện, sâu rộng về công  
cuộc đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, công tác tuyên truyền về  
chủ quyền biên, đảo được tiến hành thường xuyên và có kết quả, góp phần nâng cao  
nhận thức của cả hệ thống chính trị và của nhân dân về chủ quyền biên, đảo của Tổ  
quốc. Công tác tuyên truyền về chủ quyên biên, đảo đã đóng góp tích cực vào việc  
đấu tranh bảo vệ chú quyên quốc gia trên biên trước các hành vi, thủ đoạn xâm lấn  
và gây mắt ôn định trên biến.  
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác tuyên truyền chủ quyên biên, đảo thời  
gian qua còn bộ lộc nhiều hạn chế: Vẫn còn đề một bộ phận cán bộ và nhân dân chưa  
nhận thức đầy đủ về cơ sở pháp lý cũng như những cứ liệu lịch sử khăng định chú  
quyền biên, đảo của nước ta; cộng đồng quôc tế, đặc biệt là một số nước trong khu  
vực chưa có đú thông tin pháp lý về chủ quyên biền, đảo của Việt Nam cũng như  
đường lỗi đối ngoại của Việt Nam trong giải quyết các vấn đề liên quan đến hòa bình  
và ồn định ở biên Đông.  
Nguyên nhân của những hạn chế trên là do chúng ta có lúc, có nơi còn chưa quan  
tâm đúng mức đến công tác tuyên truyền về chủ quyền biển đảo; việc xác định phạm  
vị, đối tượng tuyên truyền còn bất cập; nội dung tuyên truyền chưa thực sự khoa học,  
phù hợp; phương pháp tuyên truyền còn đơn điệu; phương tiện tuyên truyền chưa đa  
dạng, chưa liên tục và đôi khi chưa kịp thời; việc tuyên truyền đấu tranh, phản bác  
các quan điểm sai trái cúa các thế lực thù địch trong các vấn đè liên quan tới chủ  
quyền biển, đảo còn thụ động và chưa đồng bộ..  
Đề tiếp tục tuyên truyền sâu rộng về nhiệm vụ phát triên kinh tế biển, đảo phục vụ  
CNH, HĐH đất nước, nhiệm vụ xây dựng thể trận quốc phòng, an ninh bảo vệ chủ  
quyên biên, đảo Tô quốc trong tình hình mới, chúng ta cân phải tiếp tục đây mạnh  
công tác tuyên truyền, nâng cao hiệu quả tuyên truyền và coi đây là vũ khí đầu tranh  
hiệu quả trước các âm mưu, thủ đoạn gây tranh chấp vê chủ quyền biên, đảo. Việc tổ  
chức, triên khai công tác tuyên truyền trong thời gian tới cần thực hiện tốt một số  
giải pháp, yêu cầu cơ bản sau:  
Sinh viên: Trần Văn Đan Trường  
Trang: 18  
   
Môn: Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam  
3.1.a.Tăng cường vai frò lãnh dạo của Đảng và Nhà nước đỗi với công túc  
tuyên truyên về chủ quyên biển, đáo.  
Đây là yêu cầu tiên quyết đặt ra đôi với việc đây mạnh công tác tuyên truyền về chủ  
quyền biên, đảo trong tình hình mới. Công tác tuyên truyền về chủ quyèn biến, đảo  
đòi hỏi phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất từ Trung ương tới cơ sở và sự phối  
hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành, các địa phương; cần quán triệt sâu sắc các  
quan điểm, chủ trương và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác tuyên  
truyền chủ quyền biên, đảo; triên khai thực hiện công tác tuyên truyền về chủ quyèn  
biên, đảo ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực của đời sống xã hội.  
3.1.b. Hoàn thiện hệ thông pháp luật, cơ. chế, chính sách của Nhà nước về biển,  
đảo và công tác tuyên truyền về chủ quyên biển, đáo.  
Trong đó cần xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các đoàn thê, các tô  
chức chính trị - xã hội, đặc biệt là các cơ quan thông tấn, báo chí trong việc triên  
khai thực hiện công tác tuyên truyền về chủ quyền, biển đảo. Cần có quy định vê  
việc phối hợp giữa các cơ quan truyền thông trong nước với Các cơ quan truyền  
thông quốc tế đề triên khai các hoạt động thông tin tuyên truyền về biên, đảo Việt  
Nam. Dưới sự lãnh đạo cúa Đảng và quản lý thống nhất của Nhà nước và sự phối  
hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, các cơ quan thông tấn báo chí trong và ngoài  
nước, công tác tuyên truyền về chủ quyên biên, đảo nhằm góp phân củng cô nhận  
thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tranh thủ sự úng hộ của cộng đồng quốc tế,  
tăng cường sức mạnh đấu tranh bảo vệ chú quyền biển, đảo Tổ quốc.  
3.1.c. Xác dinh dụng mục tiêu, đôi trơng và lực lượng trong công tác tuyên  
truyền về chui quyên biển, đáo.  
Mục tiêu cơ bản của công tác tuyên truyền về chú quyền biên, đảo phải nhằm khăng  
định vai trò, vị trí và tầm quan trọng của biến, đảo đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất  
nước, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các vùng biên, đảo phù hợp với  
nội dung Công ước quốc tế về Luật Biên 1982; đấu tranh với các thủ đoạn tuyên  
truyền và hành động xâm phạm chủ quyền trên các vùng biên, đảo và quân đảo của  
Việt Nam; tạo sự chuyên biến. mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của các câp,  
các ngành, các tầng lớp nhân dân về vị trí chiến lược của nhiện vụ bảo vệ chủ quyền  
biển, đảo nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tranh thú sự đồng  
tình ủng hộ của nhân dân tiên bộ trên thế giới trong cuộc đâu tranh bảo vệ chủ  
quyên. biên, đảo.  
Đối với cộng đồng quốc tế, công tác tuyên truyền về chủ quyền biền, đáo phải được  
tiễn hành thông qua nhiều hình thức và trong tất cả các mối quan hệ quốc tế (kinh tế,  
chính trị, quân sự, ngoại giao...), phải kết hợp một cách chặt chẽ các cứ liệu lịch sứ  
với các cơ sở pháp lý quôc tế liên quan đề khắng định chú quyền biền, đảo của Việt  
Nam.  
Sinh viên: Trần Văn Đan Trường  
Trang: 19  
Môn: Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam  
Đối với đồng bào trong nước và Việt kiều đang sinh sống ở nước ngoài, công tác  
tuyên truyền phải nhắn mạnh các giá trị lịch sử vÊ truyền thống hào hùng cúa cha  
ông trong khai thác và chế ngự biên; phải đề cao giá trị và vai trò của biến, đảo đối  
với sự phát triên và hưng thịnh của đất nước ngày nay và trong tương lai; phải nhắn  
mạnh tới tỉnh thần yêu nước, tỉnh thần cảnh giác và ý chí quyết tâm bảo vệ chú  
quyèn biên, đảo thiêng liêng của Tổ quốc; động viên đồng bào tin tưởng vào sự lãnh  
đạo của Đảng và làm cho toàn dân hiệu rõ chủ trương, quan điểm giải quyết các  
tranh chấp chủ quyên biên, đảo của Đảng, Nhà nước ta.  
3.1.d. Báo đảm thông nhất vê nội dung, đa dạng vê phương pháp, phương tiên  
trong công tác tuyên truyện chú quyên biên, đảo.  
Công tác tuyên truyền phải năm trong sự thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo từ Trung ương  
tới cơ sở, phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các câp, các ngành... Cần đặc biệt quan  
tâm tới sự thống nhất trong nội dung tuyên truyền, bao gồm: Nhắn mạnh vị trí, vai  
trò, tiềm năng của biên, đảo đối với sự nghiệp xây dựng và báo vệ Tổ quốc. Tập hợp  
các cứ liệu lịch sử chứng minh việc xác lập và thực thi chú quyền một cách liên tục  
trên thực tế của nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ trên các vùng biển, đảo, tuyên  
bố chủ quyên. Nhẫn mạnh truyền thống đấu tranh bất khuất của quân và dân ta trong  
bảo vệ chú quyên biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Tuyên truyền Công ước của  
Liên hợp quốc về Luật Biên năm 1982 và các tuyên bố năm 1977 và năm 1982 của  
Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam vẻ các vùng biên Việt Nam; Tuyên bố  
về cách ứng xử của các bên ở biên Đông (DOC) năm 2002; Báo cáo quốc gia xác  
định ranh giới ngoài thềm lục địa cúa Việt Nam trình Ủy ban ranh giới ngoài thềm  
lục địa của Liên hợp quốc năm 2009; Bản hướng dẫn thực thi Tuyên bố về ứng xử  
của các bên ở biển Đông (DOC) giữa ASEAN và Trung Quốc vừa được thông qua  
tháng 7-2011.  
Thông qua tuyên truyền khăng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối  
với hai quân đảo Hoàng Sa và Trường 5a. Đâu tranh không khoan nhượng với những  
luận điệu tuyên truyền xuyên tạc sự thật dịch sử về quyền và chủ quyền trên biên của  
Việt Nam. Đồng thời với sự thống nhất về nội dung, cần phải đa dạng hóa việc sứ  
dụng các phương. tiện và hình thức tuyên truyền như: sách, báo, tạp chí, các phương  
tiện truyền thanh, truyền hình, internet, tiếp xúc ngoại giao, đàm phán kinh tế, trao  
đôi khoa học công nghệ... Trong từng thời điêm và bối cảnh cần căn cứ vào các đối  
tượng đề xác định cách thức tuyên truyền phù hợp. Nội dung tuyên truyền cần được  
truyền đạt thông qua nhiều ngôn ngữ và chữ viết phố biến như: tiếng Anh, Trung,  
Nga, Nhật, Pháp... và thông qua hình ảnh để nâng cao hiệu quả tuyên truyền.  
Công tác tuyên truyền biên, đảo vừa là nhiệm vụ cấp bách trước mắt, vừa là nhiệm  
vụ trọng yếu thường xuyên, lâu đài; tuyên truyền về biên, đảo đòi hỏi phải xây dựng  
lực lượng rộng rãi, trong đó các cơ quan tuyên giáo, báo chí, truyền thông là lực  
lượng nòng cốt, lấy chú quyền biên, đảo làm mục tiêu tuyên truyền và tập hợp rộng  
rãi lực lượng cách mạng, huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong đấu  
tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền biên, đảo Tổ quốc.  
Sinh viên: Trần Văn Đan Trường  
Trang: 20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 31020 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tiểu luận môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam - Đề tài: Mục tiêu, nhiệm vụ, và tư tưởng chỉ đạo công tác đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftieu_luan_mon_duong_loi_cach_mang_cua_dang_cong_san_viet_nam.pdf