Tiểu luận Quan điểm của triết học Mác - Lênin về con người và vấn đề xây dựng nguồn lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG  
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ  
----------000----------  
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC  
QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ  
VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NGUỒN LỰC TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG  
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY  
Sinh viên thực hiện: Hán Thu Trang  
Mã sinh viên: 1711110707  
Lớp: Anh 17, Khối 5 Kinh tế, Khóa 56  
Giảng viên hướng dẫn: Trần Huy Quang  
Hà Nội, 12/2017  
MỤC LỤC  
LỜI MỞ ĐẦU  
I. Tính cấp thiết của đề tài  
Nguồn lực con người luôn có vai trò quan trọng với sự phát triển của mỗi quốc  
gia. Đặc biệt là trong bối cảnh thế kỉ XXI, khi thế giới đang dần chuyển sang nền  
kinh tế tri thức, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, nguồn lực con người ngày càng thể  
hiện vai trò quyết định của nó. Phát triển nguồn lực con người là xu hướng phát triển  
của thế giới, đó cũng là con đường phát triển tất yếu của Việt Nam để tiến tới hoàn  
thành sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết Đại hội Đại biểu  
toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát  
huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của  
công cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa”. Thực tế đã chứng tỏ rằng nếu không có  
nguồn nhân lực chất lượng thì nền kinh tế của Việt Nam chưa thể thoát khỏi sự nghèo  
nàn, lạc hậu.  
Với những yêu cầu cấp thiết đó, trong công cuộc hiện đại hóa đất nước, chúng ta  
cần phải xem xét, đánh giá nguồn nhân lực hiện tại ở Việt Nam đang bộc lộ những  
ưu điểm gì, tồn tại những hạn chế nào để xây dựng chính sách phát triển bền vững,  
nâng cao chất lượng lao động, phát huy sức mạnh của nhân tố con người để phục vụ  
tốt nhất cho mục tiêu công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước. Và tư tưởng Mác-Lênin  
là cơ sở, là nền tảng để xây dựng nên những chính sách, tầm nhìn chiến về nguồn lực  
con người ở Việt Nam.  
Nhận thức được tầm quan trọng của con người với sự phát triển của quốc gia em  
đã chọn đề tài tiểu luận: “Quan điểm của triết học Mác- Lênin về con người và vấn  
đề xây dựng nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa  
ở nước ta.”  
II. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài  
Mục tiêu của đề tài là đưa ra cái nhìn tổng quát về thực trạng nguồn lực con người  
ở Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp phát huy thế mạnh, khắc phục hạn chế nhân tố  
con người Việt Nam.  
1
     
III. Nhiệm vụ nghiên cứu  
Bài tiểu luận tập trung triển khai, phân tích 3 nội dung chủ yếu:  
- Cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác- Lênin về con người  
- Đặc điểm nguồn lực con người tại Việt Nam. Nguyên nhân gây ra hạn chế.  
- Giải pháp khắc phục  
2
 
NỘI DUNG  
MỤC 1: CON NGƯỜI - CƠ SỞ LÍ LUẬN  
I. Triết học Mác- Lênin với bản chất con người  
1. Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội  
Chủ nghĩa Mác- Lênin cho rằng, con người vừa là một thực thể tự nhiên, vừa là  
thực thể xã hội, đồng thời là chủ thể cải tạo hoàn cảnh. Con người là một thực thể  
“song trùng” tự nhiên và xã hội. Hai yếu tố này gắn kết với nhau, trong cái tự nhiên  
chứa đựng tính xã hội và không có cái xã hội tách rời cái tự nhiên.  
1.1. Bản tính tự nhiên của con người được phân tích từ hai góc độ sau đây:  
Thứ nhất, con người là kết quả tiến hóa và phát triển lâu dài của giới tự nhiên. Cơ  
sở khoa học của kết luận này đã được chứng minh bằng toàn bộ sự phát triển của chủ  
nghĩa duy vật và khoa học tự nhiên, đặc biệt là học thuyết của Đácuyn về sự tiến hóa.  
Thứ hai, con người là một bộ phận của giới tự nhiên, do đó những biến đổi của  
giới tự nhiên và tác động của quy luật tự nhiên trực tiếp hoặc gián tiếp thường xuyên  
quy định sự tồn tại của loài người; ngược lại sự biến đổi và hoạt động của con người  
luôn tác động lại môi trường tự nhiên làm biến đổi môi trường đó. Đây chính là mối  
quan hệ biện chứng giữa sự tồn tại của con người và các tồn tại khác của tự nhiên.  
1.2. Bản tính xã hội của con người được phân tích từ các góc độ sau:  
1.2.1. Loài người không chỉ có nguồn gốc từ sự tiến hóa của tự nhiên mà còn có  
nguồn gốc xã hội.  
Mác nhiều lần so sánh con người với các loài động vật có bản năng gần giống  
con người và ông chỉ ra sự khác biệt ở nhiều chỗ như chỉ con người mới có thể làm  
ra tư liệu sản xuất, con người biết biến đổi tự nhiên, con người là thước đo của vạn  
vật,…Trong đó nhân tố đầu tiên và cơ bản nhất là nhân tố lao động, chính nhờ lao  
động mà con người có khả năng vượt qua các loài động vật khác để tiến hóa thành  
người. Đó là phát hiện mới của chủ nghĩa Mác- Lênin, nhờ đó mà hoàn chỉnh được  
học thuyết về nguồn gốc con người.  
1.2.2. Bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội.  
3
           
Chúng ta thấy rằng, con người vượt lên thế giới loài vật trên cả ba phương diện  
khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân  
con người. Cả ba mối quan hệ đó, suy đến cùng, đều mang tính xã hội, trong đó quan  
hệ xã hội giữa người với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ  
khác và mọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người. Bởi vậy, để nhấn  
mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên luận đề nổi tiếng trong tác  
phẩm Luận cương về Phoiơbắc: "Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng  
cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là  
tổng hoà những quan hệ xã hội". Luận đề trên khẳng định rằng, không có con người  
trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội. Con người luôn luôn cụ  
thể, xác định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất  
định. Trong điều kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo  
ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trí  
tuệ. Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó (như quan hệ giai cấp, dân tộc, thời  
đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân, gia đình, xã hội...) con người mới bộc  
lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình.  
2. Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử  
Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người.  
Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài của giới hữu  
sinh. Song, điều quan trọng hơn cả là: con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử -  
xã hội. C.Mác đã khẳng định: "Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người  
là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục... cái học thuyết ấy quên rằng  
chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần  
phải được giáo dục". Trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên”, Ph.Ăngghen cũng  
cho rằng: "Thú vật cũng có một lịch sử, chính là lịch sử nguồn gốc của chúng và  
lịch sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng. Nhưng  
lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào  
việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và không phải do  
ý muốn của chúng. Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp  
của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ra lịch sử của mình một  
cách có ý thức bấy nhiêu". Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, con người tham  
4
 
gia hoạt động thực tiễn, tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc  
đẩy sự vận động phát triển của lịch sử xã hội. Thế giới loài vật dựa vào những điều  
kiện có sẵn của tự nhiên. Con người thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của  
mình để làm phong phú thêm thế giới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo  
mục đích của mình.  
Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai đoạn phát  
triển nhất định của xã hội. Do vậy, bản chất con người, trong mối quan hệ với điều  
kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận động biến đổi, cũng phải thay đổi cho phù hợp. Bản  
chất con người không phải là một hệ thống đóng kín, mà là hệ thống mở, tương ứng  
với điều kiện tồn tại của con người. Có thể nói rằng, mỗi sự vận động và tiến lên của  
lịch sử sẽ quy định tương ứng (mặc dù không trùng khớp) với sự vận động và biến  
đổi của bản chất con người.  
Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải làm cho  
hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn. Hoàn cảnh đó chính là toàn bộ môi  
trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo khuynh hướng phát triển nhằm  
đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩa định hướng giáo dục. Thông  
qua đó, con người tiếp nhận hoàn cảnh một cách tích cực và tác động trở lại hoàn  
cảnh trên nhiều phương diện khác nhau: hoạt động thực tiễn, quan hệ ứng xử, hành  
vi con người, sự phát triển của phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy, các quy luật nhận  
thức hướng con người tới hoạt động vật chất. Đó là biện chứng của mối quan hệ giữa  
con người và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử xã hội loài người.  
II. Vai trò của nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa  
1. Một số khái niệm  
Công nghiệp hóa: là quá trình nâng cao tỷ trọng của công nghiệp trong toàn  
bộ các ngành kinh tế của một vùng kinh tế hay một nền kinh tế.  
Hiện đại hóa: là quá trình ứng dụng và trang bị những thành tựu khoa học và  
công nghệ tiên tiến, hiện đại vào quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và  
quản lí kinh tế - xã hội.  
Nguồn lực nhân lực: nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong  
toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền  
5
   
thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được  
vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu  
hiện tại và tương lai của đất nước.  
2. Vai trò của nguồn lực con người trong công cuộc đổi mới đất nước  
Trong thế giới hiện đại, khi chuyển dần sang nền kinh tế chủ yếu dựa trên tri thức  
và trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn lực con người ngày  
càng thể hiện vai trò quyết định của nó. Các lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng,  
một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ  
cột cơ bản: áp dụng công nghệ mới, phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại và nâng cao chất  
lượng nguồn nhân lực. Trong đó động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế  
bền vững chính là yếu tố con người, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao.  
Thứ nhất là, nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn lực chính quyết định quá  
trình tăng trưởng và phát triển kinh tế- xã hội. Nguồn nhân lực, nguồn lao động là  
nhân tố quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác.  
Giữa nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa  
học công nghệ… có mối quan hệ nhân quả với nhau, nhưng trong đó NNL được xem  
là năng lực nội sinh chi phối quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. So  
với các nguồn lực khác, NNL với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám có ưu thế nổi  
bật ở chỗ nó không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý, còn  
các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và chỉ phát huy được  
tác dụng khi kết hợp với NNL một cách có hiệu quả. Vì vậy, con người với tư cách  
là NNL, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân của quá trình sản xuất, là trung tâm  
của nội lực, là nguồn lực chính quyết định quá trình phát triển kinh tế - xã hội.  
Thứ hai là, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định  
sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; là quá trình chuyển đổi  
căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xã hội, từ sử dụng lao động  
thủ công là phổ biến sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động được đào tạo  
cùng với công nghệ tiên tiến, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm  
tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Đối với nước ta đó là một quá trình tất yếu để  
phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đất nước ta đang bước vào giai  
6
 
đoạn đổi mới, tiếp cận kinh tế tri thức trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn  
thấp, do đó yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn lực con người có ý nghĩa quyết định  
tới sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát  
triển bền vững.  
Thứ ba là, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện để rút ngắn khoảng cách  
tụt hậu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện  
đại hóa đất nước nhằm hướng đến mục tiêu phát triển bền vững  
Thứ tư là, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.  
Quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế, nguồn nhân lực đặc biệt là  
nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức  
lớn.  
MỤC 2: NGUỒN LỰC CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY  
I. Ưu điểm của nguồn lực con người ở Việt Nam  
1. Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào, tăng trưởng nhanh  
Việt Nam có dân số đông 92,7 triệu người (2016), đứng thứ 13 trên thế giới và  
thứ 2 trong khu vực ASEAN. Trong đó số người trong độ tuổi lao động là 54,4 triệu  
người chiếm 58,6% dân số cả nước. Do nguồn lực tăng nhanh nên hằng năm có them  
1 triệu người gia nhập vào thị trường lao động. Vì vậy, có thể nói Việt Nam là một  
trong các quốc gia sở hữu nguồn nhân lực trẻ, và đó là một lợi thế trong việc thực  
hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa.  
2. Chất lượng lao động ngày càng được cải thiện  
Nhờ chính sách cải cách đổi mới phát triển kinh tế, chất lượng nguồn nhân lực đã  
được nâng cao nhiều. Trình độ học vấn và dân trí của nguồn nhân lực Việt Nam là  
khá cao. Trong những năm qua do Đảng và nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục đào  
tạo nên đã đạt được một số thành tựu nhất định. Việt Nam được Liên Hợp Quốc đánh  
giá cao về chỉ số phát triển con người: chỉ số HDI đạt 0,682 cao hơn nhiều nước trong  
khu  
vực.  
Trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực không ngừng được nâng cao.  
Trong công tác giáo dục nghề nghiệp, cả nước ước tuyển sinh dạy nghề được 1.974,84  
7
       
nghìn người, đạt 91,8% kế hoạch năm và bằng 99,7% so với năm 2015; ước tốt nghiệp  
học nghề năm 2016 đạt trên 1.880 nghìn người; tỷ lệ lao động qua đào tạo khoảng  
53%.  
3. Phẩm chất con người lao động Việt Nam  
Người lao động Việt Nam giàu lòng yêu nước, cần cù chăm chỉ, có tư chất thông  
minh, sang tạo, khả năng vận dụng và thích ứng nhanh. Những phẩm chất đó khẳng  
định năng lực trí tuệ của người Việt Nam có khả năng theo kịp tốc độ phát triển của  
thế giới hiện đại.  
II. Hạn chế của nguồn lực con người Việt Nam  
1. Cơ cấu nguồn nhân lực còn bất hợp lí  
Cơ cấu phân bố lao động theo ngành nghề mất cân đối. Tỷ lệ lao động làm việc  
cho các ngành cần tăng tốc phát triển giai đoạn 2011-2020 phục vụ công nghiệp  
hóa-hiện đại hóa đất nước như: Công nghệ thông tin, công nghiệp phụ trợ, y tế, giáo  
dục – đào tạo.... chỉ xấp xỉ 1% mỗi ngành, trong khi có tới 47,4% lao động làm việc  
trong khu nông-lâm-ngư nghiệp hoặc lao động giản đơn.  
Nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta phân bố không hợp lý: hơn 92% số cán  
bộ có trình độ tiến sĩ trở lên tập trung ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh; tại Tây  
Nguyên, Tây Bắc và Nam Bộ tỷ lệ này chưa tới 1%.  
2. Nguồn nhân lực hạn chế về chất lượng  
Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam  
đạt mức 3,79/10 điểm, xếp hạng thứ 11 trên 12 quốc gia được khảo sát tại châu Á.  
Trong khi Hàn Quốc đạt 6,91/10 điểm, Ấn Độ đạt 5,76/10 điểm, Malaysia đạt  
5.59/10 điểm. Đánh giá này cũng cho biết nhân lực nước ta yếu về chất lượng, thiếu  
năng động và sáng tạo, tác phong lao động công nghiệp  
Theo một kết quả điều tra gần đây: số tiến sĩ là hơn 14 nghìn người, nhưng có tới  
70% giữ chức vụ quản lý, chỉ còn 30% làm công tác chuyên môn. Có tới hơn 60%  
số sinh viên tốt nghiệp đại học và thạc sĩ hằng năm ra trường chưa có việc làm. Đa  
số sinh viên sau khi tốt nghiệp cũng phải đào tạo lại và mất một vài năm mới quen  
8
       
việc. số lượng đào tạo ở trình độ đại học trở lên trong những năm gần đây gia tăng  
đáng kể, nhưng chất lượng lao động của đối tượng này phần lớn chưa đạt các tiêu  
chí về nguồn nhân lực chất lượng cao như đã đề cập ở trên. Do vậy, khi họ ra làm  
việc, nhiều người không đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng.  
Hiện có khoảng 400.000 lao động Việt Nam đang làm việc tại nước ngoài trong  
hơn 30 nhóm nghề khác nhau nhưng đa số là lao động giản đơn, trong khi phải nhập  
khẩu nguồn lao động có trình độ từ nước ngoài để làm các công việc mà lao động  
Việt Nam không thể đảm nhận.  
Lao động chưa được trang bị các kiến thức và kỹ năng làm việc, thiếu khả năng  
hợp tác và gánh chịu rủi ro, ngại phát huy sáng chế và chia sẻ kinh nghiệm làm việc,  
năng suất lao động còn thấp so với nhiều nước trong khu vực và thế giới.  
3. Tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng tăng  
Theo Tổng cục Thống kê, tính chung 9 tháng năm nay, tỷ lệ thất nghiệp của lao  
động trong độ tuổi là 2,26%, trong đó khu vực thành thị là 3,19%; khu vực nông  
thôn là 1,79%.  
III. Nguyên nhân dẫn đến hạn chế nguồn nhân lực  
Những hạn chế có thể nhìn nhận ở ba góc độ: đào tạo, sử dụng và đãi ngộ.  
Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là nhiệm vụ quốc gia và đặt trên vai các  
trường đại học. Trong những năm qua, hệ thống giáo dục, đào tạo, nhất là đào tạo  
trình độ cao được phát triển và mở rộng, nhưng chất lượng đào tạo còn nhiều hạn chế  
và yếu kém. Nguyên nhân là do thiếu đội ngũ giảng viên trình độ cao; nội dung  
chương trình đào tạo chưa thường xuyên cập nhật đáp ứng sự thay đổi của khoa học  
- công nghệ; quản lý kinh tế trong môi trường quốc tế hóa; cơ sở vật chất, trang thiết  
bị nghèo nàn. Phương pháp giảng dạy và học tập lạc hậu, cũng như ý chí và quyết  
tâm vươn lên trau dồi kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp của một bộ phận không nhỏ  
lớp trẻ hiện nay còn hạn chế.  
Công tác quản lý nhà nước, nhất là quy hoạch, kế hoạch định hướng phát triển  
nguồn nhân lực của các ngành vẫn còn yếu kém, khá manh mún và thiếu đồng bộ.  
9
   
Công tác dự báo nhu cầu nguồn nhân lực dài hạn cho phát triển kinh tế - xã hội cũng  
rất hạn chế, cơ cấu đào tạo theo ngành nghề, trình độ đào tạo không được quy hoạch  
lâu dài. Các cơ sở đào tạo không đủ thông tin về cung, cầu lao động, nên việc xây  
dựng ngành nghề, chỉ tiêu và trình độ đào tạo hằng năm không sát thực tiễn.  
Việc sử dụng lao động vẫn còn bất hợp lý. Chế độ đãi ngộ “người tài” cũng chưa  
phù hợp và chưa tương xứng; tình trạng thu nhập cào bằng đang là rào cản lớn cho  
sức sáng tạo của nhân lực chất lượng cao. Các chế độ đãi ngộ nhân tài phần nhiều  
vẫn nằm trong các dự định, dự thảo của các cấp và các cơ quan có thẩm quyền.  
MỤC 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC  
Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập, cạnh tranh và hướng tới nền kinh tế tri thức,  
các quốc gia đều chú trọng đầu tư đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.  
Với Việt Nam, để không tụt hậu xa so với trình độ chung của các nước tiên tiến trong  
khu vực và trên thế giới, chúng ta phải thật sự có các chính sách đổi mới công tác đào  
tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.  
I. Đối với Nhà nước  
- Xây dựng chiến lược nguồn nhân lực gắn với phát triển kinh tế - xã hội, Ccông  
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.  
- Hình thành khung pháp lý và cơ chế cho đào tạo và phát triển nguồn nhân lực  
chất lượng cao.  
- Xác định rõ xây dựng nguồn nhân lực là trách nhiệm của các nhà hoạch định  
và tổ chức thực hiện chính sách là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.  
- Đẩy mạnh chiến lược xã hội hóa giáo dục, qua đó huy động tiềm năng xã hội  
cho công tác nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Đi cùng với đó là bổ  
sung, hoàn thiện quy hoạch hệ thống các trường đại học, cao đẳng đến năm  
2020 và tầm nhìn 2030  
- Chú trọng sự liên kết chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước với các cơ sở  
giáo dục - đào tạo và các cơ quan, doanh nghiệp nơi sử dụng nguồn nhân lực  
chất lượng cao.  
- Cải thiện thông tin về thị trường lao động, trong đó cần có hệ thống dự báo  
nhu cầu nhân lực quốc gia và cơ sở dữ liệu về đầu tư nguồn lực; thông tin về  
10  
   
cung cầu nhân lực; cung cấp kịp thời các thông tin cho xã hội về đào tạo, nhân  
lực, việc làm và quy hoạch chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia.  
- Ngoài ra, yếu tố văn hóa, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc trong quá trình xây  
dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phải được nhìn nhận đúng với tầm quan  
trọng của nó, để từ đó các chương trình giáo dục - đào tạo nguồn nhân lực chất  
lượng cao được bổ sung các nội dung liên quan.  
II. Đối với các cơ sở giáo dục - đào tạo nguồn nhân lực  
- Chú trọng xây dựng bồi dưỡng đội ngũ giảng viên trình độ cao; tăng cường  
đầu tư cơ sở vật chất trên cơ sở thực hiện xã hội hóa giáo dục; đào tạo gắn với  
việc làm và theo nhu cầu xã hội.  
- Nhà trường cần phối hợp doanh nghiệp, tổ chức kinh tế - xã hội xây dựng mục  
tiêu, nội dung, chương trình đào tạo, lắng nghe, tiếp nhận sự đánh giá, góp ý  
từ các nhà sử dụng lao động về sản phẩm đào tạo của mình.  
- Xây dựng nhà trường với hệ thống tổ chức quản lý hiệu quả cao trên cơ sở chủ  
động khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả các nguồn lực của nhà trường và xã  
hội nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng được yêu cầu đào tạo nguồn  
nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Các cơ sở giáo dục đại học cần chú  
trọng kiểm soát đầu ra chặt chẽ hơn, nhất là đào tạo đại học và sau đại học.  
- Đẩy mạnh công tác hướng nghiệp từ bậc phổ thông đến bậc đại học, bảo đảm  
cho học sinh, sinh viên có định hướng đúng về nghề nghiệp.  
III. Đối với đơn vị sử dụng lao động (bộ máy quản lý nhà nước và doanh nghiệp)  
- Cần tập trung tạo động lực để thu hút nhân tài theo hướng quan tâm đúng mức  
tới lợi ích kinh tế và danh dự cá nhân gắn với tinh thần dân tộc.  
- Thay đổi tiêu chí, chế độ tuyển dụng, đãi ngộ, thực hiện dân chủ, công khai,  
minh bạch trong tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ nhân lực chất lượng cao, xóa  
bỏ các rào cản về tôn giáo, dân tộc trong việc chọn lựa người tài.  
- Chú trọng đào tạo, tạo điều kiện cho người lao động tham gia bồi dưỡng và tự  
học để nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp qua đó nâng cao  
chất lượng đội ngũ nhân lực chất lượng cao tại doanh nghiệp.  
11  
   
KẾT LUẬN  
Như vậy, quan điểm triết học của Mác – Lênin về con người và phát huy nguồn  
lực con người là phong phú, sâu sắc và đúng đắn. Nắm bắt và vận dụng sáng tạo quan  
điểm của chủ nghĩa Mac – Lênin nói chung và triết học Mác – Lênin nói riêng vào  
thực tiễn ngày nay, cuộc cách mạng kỹ thuật công nghệ hiện đại đã dần dần đi đến  
khẳng định sự phát triển con người là yếu tố quyết định của mọi sự phát triển. Những  
năm gần đây Nhà nước càng chú trọng hơn nữa phát triển nguồn nhân lực do nhận  
thức vai trò hết sưc đặc biệt của nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện  
đại hóa đất nước và đã đạt được nhiều kết quả khả quan được ghi nhận đánh giá cao.  
Mặc dù vậy, so với nhu cầu chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam còn hạn chế về chất  
lượng. Đây là thách thức lớn trong công cuộc đổi mới đất nước của Việt Nam ngày  
nay. Những thực trạng và nguyên nhân đưa ra sẽ giúp Chính phủ Việt Nam thực hiện  
những Chính sách phù hợp, có hiệu quả nhất cho sự phát triển đất nước.  
Nghiên cứu chất lượng nguồn nhân lực là một đòi hỏi vừa cấp bách, vừa cơ bản  
do đó cần được tiến hành thường xuyên và trên nhiều phương diện nhằm phát huy  
cao nhất vai trò của yếu tố con người trong sự phát triển kinh tế, xã hội. Đây chắc  
chắn sẽ là vấn đề nhận sược nhiều sự quan tâm, đánh giá và phân tích từ nhiều chuyên  
gia, dư luận và thế giới.  
Nguồn nhân lực là một vấn đề rộng với nhiều vấn đề nghiên cứu nhưng do thời  
gian nghiên cứu và kinh ngiệm có hạn nên bài làm không thể tránh khỏi những thiếu  
sót, sai lầm. Em mong nhận được sự thông cảm, sửa chữa và đóng góp từ thầy để bài  
tiểu luận được hoàn thiện hơn.  
12  
 
TƯ LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa  
Mác- Lênin, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.  
2. PGS, TS Lê Hữu Lập (21/11/2017), Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao,  
3. Tài liệu- Ebook- maiphuongdc (19/11/2017), Tiểu luận Nguồn lực con người  
4. Notice (23/11/2017), Những quan niệm cơ bản của triết học Mác- Lênin về  
5. Trung Trí (24/11/2017), Tiểu luận “Lý luận của chủ nghĩa Mác về con người  
và vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất  
6. Văn Đình Tấn (21/11/2017), Nguồn nhân lực trong công cuộc công nghiệp  
hóa, hiện đại hóa ở nước ta,  
13  
 
pdf 16 trang yennguyen 23203 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tiểu luận Quan điểm của triết học Mác - Lênin về con người và vấn đề xây dựng nguồn lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftieu_luan_quan_diem_cua_triet_hoc_mac_lenin_ve_con_nguoi_va.pdf