Thực trạng quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An

VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 313-317  
THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC  
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG  
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN  
Lê Huy Thiên - Trường Trung học phổ thông Quỳ Hợp 3, Nghệ An  
Ngày nhận bài: 12/4/2019; ngày chỉnh sửa: 02/5/2019; ngày duyệt đăng: 20/5/2019.  
Abstract: Morality is considered to be the root of man. Therefore, in the school, it is necessary to  
focus on education, training both moral and talent. Teaching letters must be combined with  
teaching people to train students to become fully developed people. In order to contribute to  
improving the quality of moral education for students in the current period, it is necessary to  
understand the current status of managing moral education activities for high school students.  
Keywords: Reality, management, education, ethics, student.  
HS trung học phổ thông (THPT) trên địa bàn huyện Quỳ  
Hợp, tỉnh Nghệ An.  
1. Mở đầu  
Đạo đức được coi là cái gốc của con người. Vì thế,  
2. Nội dung nghiên cứu  
trong nhà trường cần chú trọng giáo dục (GD), rèn luyện  
cả đức lẫn tài. Dạy chữ phải kết hợp với dạy người nhằm  
rèn luyện học sinh (HS) trở thành con người phát triển  
toàn diện. Luật Giáo dục (2005) đã khẳng định: “Mục  
tiêu GD là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn  
diện có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề  
nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ  
nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm  
chất năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự  
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [1; tr 8]. Trong  
những năm học phổ thông, HS không chỉ được học  
những kiến thức cơ bản mà còn được rèn dạy về đạo đức.  
Những giá trị đạo đức căn bản (tính trung thực, tinh thần  
trách nhiệm, lòng yêu thương…) sẽ giúp cho con người  
sống tốt đẹp hơn. Nhưng dường như những giá trị này  
Năm 2018, chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng  
đạo đức, GDĐĐ và quản lí GDĐĐ cho HS THPT huyện  
Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tại 3 trường (Trường THPT Quỳ  
Hợp 1, Trường THPT Quỳ Hợp 2, Trường THPT Quỳ  
Hợp 3) trên địa bàn huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An (với  
số lượng: 11 cán bộ quản lí (CBQL); 248 giáo viên (GV);  
1.230 HS; 357 phụ huynh HS thông qua phương pháp  
khảo sát, thống kê. Kết quả thu được như sau:  
2.1. Thực trạng về giáo dục đạo đức cho học sinh ở các  
trường trung học phổ thông huyện Quỳ Hợp, tỉnh  
Nghệ An  
2.1.1. Thực trạng nhận thức về đạo đức của học sinh và  
các lực lượng giáo dục (xem bảng 1)  
Bảng 1. Nhận thức về đạo đức của HS và các lực lượng giáo dục (LLGD)  
Mức độ đánh giá (%)  
Không  
quan trọng  
Mục tiêu GD  
Rất quan trọng  
Quan trọng Ít quan trọng  
HS  
LLGD  
29,8  
33,6  
14  
HS  
LLGD HS LLGD HS LLGD  
GD lối sống lành mạnh cho HS  
GD kĩ năng giao tiếp, văn hóa ứng xử  
GD ý thức yêu quý lao động  
55,2  
55,6  
49,7  
44,5  
42,8  
49,8  
70,2  
59,4  
86  
0,3  
1,6  
0,5  
0
7
0
0
0
0
0
0
0
GD ý thức chấp hành pháp luật  
54,5  
22,7  
46,3  
77,3  
0,3  
0
0,3  
0
đang bị xuống cấp, thể hiện qua những hành vi bạo lực  
trong nhà trường, những vụ án nghiêmtrọng, nhưng hành  
vi gian lận ở nhiều cấp độ… Vấn đề này đang được xã  
hội quan tâm, vì vậy, cần có cái nhìn khách quan về việc  
giáo dục đạo đức (GDĐĐ) trong nhà trường hiện nay.  
Bài viết đề cập thực trạng quản lí hoạt động GDĐĐ cho  
Bảng 1 cho thấy, mục tiêu GDĐĐ cho HS đều được  
các LLGD và HS đánh giá là rất quan trọng và quan trọng  
(chiếm tỉ lệ cao). Đặc biệt, những mục tiêu được đánh giá  
rất quan trọng: GD lối sống cho HS; GD kĩ năng giao  
tiếp, văn hóa ứng xử; GD ý thức chấp hành pháp luật;  
GD ý thức yêu quý lao động.  
313  
Email: thienlh.c3qh3@nghean.edu.vn  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 313-317  
Kết quả khảo sát cho thấy, hiện nay, HS THPT vẫn GD ý thức thói quen học tập, lao động đúng quy định cho  
còn tồn tại một khoảng cách khá xa với mục tiêu GD  
những giá trị nói chung và giá trị đạo đức nói riêng so với  
yêu cầu GD của thời kì mới - thời kì CNH, HĐH.  
2.1.2. Thực trạng thái độ đạo đức của học sinh và các  
lực lượng giáo dục (xem bảng 2)  
các em.  
2.2. Thực trạng quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho  
học sinh trung học phổ thông huyện Quỳ Hợp, tỉnh  
Nghệ An  
Bảng 2. Thái độ đạo đức của học sinh và các LLGD  
Mức độ đánh giá (%)  
Đồng tình Không đồng tình  
HS LLGD HS LLGD HS LLGD HS LLGD  
Thái độ  
Rất đồng tình  
Thờ ơ  
1. Lối sống phù hợp cho HS  
58,3 26,9 41,5  
59,2 24,7 40,1  
73,1  
75,3  
87,4  
75,3  
0,2  
0,4  
0,5  
0,3  
0
0
0
0
0
0
0
0
0
2. Kĩ năng giao tiếp, văn hóa ứng xử  
3. Thói quen học tập, lao động  
4. Ý thức chấp hành pháp luật  
0,3  
0
46,5 12,6  
53  
53,7 24,7 45,6  
0,4  
Nhìn vào kết quả khảo sát, có thể thấy, về cơ bản, các 2.2.1. Nhận thức của cán bộ quản lí, giáo viên và phụ  
đánh giá đã đồng tình với thái độ của HS THPT, tuy huynh về công tác giáo dục đạo đức (xem bảng 4)  
nhiên, tỉ lệ đồng tình chưa cao. Bên cạnh đó vẫn còn  
Bảng 4 cho thấy, nhận thức của cán bộ quản lí, giáo  
những ý kiến không đồng tình. Qua trao đổi trực tiếp với viên và phụ huynh về các nội dung GDĐĐ cần thực hiện  
một số đối tượng được khảo sát cụ thể về lí do không là khá tốt. Còn một bộ phận cán bộ quản lí, giáo viên và  
đồng tình chúng tôi được biết, thái độ đạo đức của HS phụ huynh chưa có nhận thức tốt về phương pháp  
vẫnchưa ổn định, cóthể lệch chuꢀntrong những bối cảnh GDĐĐ, hình thức GDĐĐ, phương tiện GDĐĐ.  
và tình huống mới xuất hiện. Vì vậy, việc hình thành thái  
độ đạo đức chỉ là yếu tố bên ngoài, mà quan trọng hơn là  
cần phải có nền tảng vững chắc trên cơ sở nhậnthức đúng  
đắn của các em.  
2.2.2. Sự tác động của các lực lượng giáo dục đối với  
công tác giáo dục đạo đức cho học sinh (xem bảng 5)  
Bảng 5 cho thấy, sự đánh giá của các đối tượng được  
khảo sát về tính hiệu quả của các tác động của các lực  
2.1.3. Thực trạng hành vi, thói quen đạo đức của học sinh lượng GD đối với công tác GDĐĐ là khá đồng đều, trong  
và các lực lượng giáo dục (xem bảng 3)  
đó, tác động của nhà trường được đánh giá trội hơn.  
Bảng 3. Hành vi, thói quen đạo đức của HS và các LLGD  
Mức độ đánh giá (%)  
Rất  
Không  
Không  
bao giờ  
Các hành vi, thói quen  
Đôi khi  
thường xuyên thường xuyên  
HS LLGD HS LLGD HS LLGD HS LLGD  
1. Thực hiện lối sống phù hợp với HS  
2. Thực hiện kĩ năng giao tiếp, văn hóa ứng xử tốt  
3. Thói quen học tập, lao động đúng quy định  
4. Hành vi chấp hành pháp luật  
56,2 27,8 43,5 72,2 0,3  
0
0
0
0
0
0
0
55,5 58,6 40,4 40,6 8,1 0,8  
48,5 14,4  
51  
85,6 0,5  
0
0
0
55,5 21,7 44,3 78,3 0,3  
0,3  
2.2.3. Sự phối hợp giữa ba lực lượng giáo dục: nhà  
trường, gia đình và xã hội (xem bảng 6)  
Kết quả khảo sát trên cho thấy, các thói quen và hành  
vi đạo đức phù hợp cơ bản được HS thực hiện khá tốt.  
Tuy nhiên, giữa các hành vi và thói quen đó không có sự  
tương đồng. Cụ thể, với thói quen học tập và lao động  
đúng quy định vẫn chiếm tỉ lệ thấp nhất, chỉ đạt 48,5%  
đối với ý kiến giáo viên và 13% ý kiến của các LLGD.  
Điều này đòi hỏi cần có giải pháp hiệu quả hơn trong việc  
Sốliệu bảngtrêncho thấy, sự phối hợp giữanhà trường  
với gia đình trong GDĐĐ được đánh giá là tốt và rất tốt là  
cao nhất (76,2% CBQL đánh giá rất tốt, 15,1% CBQL  
đánhgiá là tốt). Tươngtự, 77,1%GVvà 66,6% phụ huynh  
HS đánh giá rất tốt, 15,1% CBQL, 12,1% GV và 11,7%  
phụ huynh HS đánh giá tốt.  
314  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 313-317  
Bảng 4. Nhận thức của CBQL, GV và phụ huynh về công tác GDĐĐ  
Mức độ nhận thức (%)  
Tốt  
TT  
Nội dung  
Rất tốt  
Chưa tốt  
CBQL GV  
PH CBQL GV  
PH CBQL GV  
PH  
7,8  
1
2
3
4
5
Về ý nghĩa của GDĐĐ  
Về nội dung của GDĐĐ  
Về phương pháp GDĐĐ  
Về hình thức GDĐĐ  
89,3  
88,1  
78,3  
75,4  
78,3  
79,1 70,4  
10,7  
10  
14,2 21,8  
0
1,9  
9
6,7  
5,9  
82,5 68,6  
76,4 65,7  
11,6 19,5  
12,4 12,2  
11,9  
12,7  
14,2  
13,3  
11,2 22,1  
76,1  
75,1  
65  
64  
12  
15  
12  
13  
10,4  
8,4  
12  
21,9  
23  
Về phương tiện GDĐĐ  
9,9  
Bảng 5. Sự tác động của các LLGD đối với công tác GDĐĐ cho HS  
Mức độ nhận thức (%)  
TT  
Nội dung  
Rất hiệu quả  
Hiệu quả  
Ít hiệu quả  
CBQL GV PH CBQL GV PH CBQL GV PH  
1
2
3
Tác động của nhà trường  
Tác động của gia đình  
Tác động của xã hội  
79,5 76,3 65,2 12,7 14,4 12,6  
75,2 76,1 64,3 14,5 11,9 12,3 10,3  
76,4 77 66 13,3 13 12 9,3  
Bảng 6. Sự phối hợp giữa các LLGD  
7,8  
9,3 22,7  
12 22,4  
11  
22  
Mức đánh giá (%)  
Tốt  
TT  
Quan hệ phối hợp  
Rất tốt  
GV  
Chưa tốt  
GV  
CBQL  
76,2  
PH  
66,5  
55,3  
33  
CBQL  
GV  
12,1  
21,2  
16,2  
PH  
CBQL  
8,7  
PH  
21,8  
10,8  
34  
1
2
3
Nhà trường với gia đình  
Nhà trường với xã hội  
Gia đình với xã hội  
77,1  
57  
15,1  
22,1  
15  
11,7  
34,9  
33  
10,8  
57,8  
30,1  
54,9  
21,8  
30,1  
35,7  
48,1  
Bảng 7. Kế hoạch GDĐĐ cho HS THPT  
Mức đánh giá (%)  
Tốt  
TT  
Xây dựng kế hoạch GDĐĐ của nhà trường  
Rất tốt  
Chưa tốt  
CBQL GV  
CBQL  
43,7  
43  
GV  
42,7  
40,2  
44  
CBQL  
15,8  
GV  
18,2  
20,3  
26,7  
1
2
3
Xác định mục tiêu kế hoạch GDĐĐ  
40,5  
31,9  
30,6  
39,1  
39,5  
29,3  
Xây dựng kế hoạch GDĐĐ cho năm học  
25,1  
Xây dựng kế hoạch GDĐĐ cho từng chủ điểm của  
năm học  
42,2  
27,2  
4
5
Xây dựng kế hoạch GDĐĐ cho từng tháng trong  
chủ điểm  
21,5  
22,3  
18,3  
22,5  
53,6  
51,9  
54,8  
52,5  
24,9  
25,8  
26,9  
25  
XâydựngkếhoạchGDĐĐchotừngtuầntrongchủđiểm  
có dấu hiệu chưa tốt. Đặc biệt, vấn đề xây dựng kế hoạch  
cho từng chủ điểm có và từng tháng, từng tuần chưa tốt  
chiếm các tỉ lệ khá cao.  
Sự phối hợp nhà trường với xã hội được đánh giá thấp  
hơn, sự phối hợp giữa gia đình với xã hội được đánh giá  
thấp hơn.  
2.2.5. Chỉ đạo thực hiện giáo dục đạo đức cho học sinh  
của nhà trường (xem bảng 8)  
2.2.4. Xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh  
trung học phổ thông (xem bảng 7)  
Bảng trên cho thấy, một điều đáng chú ý là các vấn  
Số liệu bảng trên cho thấy, thực trạng chỉ đạo thực  
đề liên quan đến việc xây dựng kế hoạch GDĐĐ cho HS hiện GDĐĐ cho HS của nhà trường của các đơn vị trong  
315  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 313-317  
Bảng 8.  
Mức đánh giá (%)  
TT  
Đơn vị chỉ đạo  
Rất tốt  
40,8  
35,2  
33,4  
29,7  
24,8  
Tốt  
44,1  
45  
Chưa tốt  
1
2
3
4
5
Ban Giám hiệu  
15,1  
19,8  
22,7  
25,2  
28  
Chi bộ Đảng  
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh  
Công đoàn nhà trường  
Các tổ chuyên môn  
44,9  
45,1  
47,2  
nhà trường nói chung là tốt, tuy nhiên vẫn còn một số có các giải pháp hữu hiệu thì sẽ có tác động tích cực tới  
đánh giá ở mức độ chưa tốt. Cụ thể: 15,1% đối với ban tâm lí của HS, giúp cho các em nhận thức đúng đắn cái  
giám hiệu; 19,8% đối với Chi bộ Đảng; 22,7% đối với đúng, ngăn chặn được những tác động tiêu cực của xã  
Đoàn Thanh niên; 25,2% đối với Công đoàn nhà trường hội, đồng thời phát huy được những mặt tốt, tích cực  
và 28% đối với các tổ chuyên môn.  
trong HS.  
Kết quả khảo sát về thực trạng quản lí hoạt động  
2.2.6. Nguyên nhân của hạn chế trong quản lí giáo dục  
đạo đức cho học sinh trung học phổ thông huyện Quỳ  
Hợp, tỉnh Nghệ An  
GDĐĐ cho HS các trường THPT huyện Quỳ Hợp, tỉnh  
Nghệ An cho thấy, trong các trường THPT hiện nay nói  
chung, chất lượng quản lí GDĐĐ chưa cao, các bộ phận  
chức năng trong nhà trường hoạt động chưa đồng đều,  
biểu hiện ở một số mặt như: - Nhận thức của một số  
CBQL, GV và phụ huynh về công tác GDĐĐ chưa tốt,  
nhất là ở một bộ phận GV và phụ huynh HS; - Sự tác  
động của LLGD đối với công tác GDĐĐ cho HS chưa  
đồng đều, kém hiệu quả; - Sự phối hợp giữa ba lực lượng  
GD: Nhà trường, gia đình và xã hội chưa đồng bộ; - Việc  
xây dựng kế hoạch GDĐĐ cho HS THPT chưa tốt, nhất  
là các kế hoạch ngắn hạn các chủ điểm, các tháng. Các  
trường chủ yếu coi trọng hoạt động bề nổi mà chưa đi  
vào chiều sâu của GDĐĐ cho HS; - Việc chỉ đạo thực  
hiện GDĐĐ cho HS của các trường chưa sát sao, chưa  
có sựliên kết chặt chẽ và thống nhất cao giữa các bộ phận  
chức năng trong nhà trường; LLGD cũng chưa dành sự  
quan tâm đúng mức cho hoạt động GDĐĐ cho HS. Đây  
là các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc kém hiệu quả  
trong GDĐĐ cho HS THPT của huyện Quỳ Hợp, tỉnh  
Nghệ An.  
- Nguyên nhân chủ quan: Sự biến đổi tâm sinh lí lứa  
tuổi, đó là sự thiếu ý thức, thiếu tự chủ, hay bị cám dỗ,  
lôi kéo từ các phần tử không tiến bộ. Đa số HS THPT  
đang ở lứa tuổi vị thành niên, lứa tuổi mới lớn, thích tìm  
tòi cái mới lạ nên hay bị sa ngã trước ma lực của những  
tệ nạn xã hội. Hơn nữa có những HS sống trong gia đình  
thiếu nền GD tốt, tạo cho họ những thói quen không tốt,  
không tự giác rèn luyện bản thân.  
- Nguyên nhân khách quan: Tác động tiêu cực của cơ  
chế thị trường và ảnh hưởng của xã hội; sự bùng nổ của  
thông tin văn hóa; đời sống hiện nay còn nhiều khó  
khăn,… đã ảnh hưởng đến HS rất nhiều. Thực tế, do sự  
phát triển của xã hội, do quá trình mở cửa và hội nhập,  
nên có nhiều luồng văn hóa xâm nhập vào nước ta nói  
chung và vào huyện Quỳ Hợp nói riêng, với tâm lí HS là  
thích cái mới, hay đua đòi, vì vậy, một bộ phận HS chạy  
theo cái mới một cách mù quáng mà không có sự định  
hướng nhận thức đúng đắn. Với sự phát triển công nghệ  
thông tin như hiện nay, những luồng văn hóa tiêu cực,  
không lành mạnh sẽ ảnh hưởng đến HS một cách dễ  
dàng. Vì vậy, vấn đề đặt ra ở chỗ phải GD ý thức tự giác,  
biết nhận thức vấn đề một cách đúng đắn để hành động  
chuꢀn xác.  
2.3. Đánh giá chung về thực trạng  
Đa số HS THPT huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An có  
nhận thức đúng về chuꢀn mực đạo đức, chủ yếu là các  
chuꢀn mực đạo đức truyền thống giữ vai trò nền tảng như  
lòng nhân ái, tình yêu quê hương đất nước, tình cảm gia  
đình, kính thầy yêu bạn, sẵn sàng giúp đỡ người khác,…  
Các em đã vươn lên tự khẳng định mình trong học tập và  
trong cuộc sống, có lối sống lành mạnh, có ước mơ, hoài  
bão cao đẹp. Nhiều HS đã không ngừng rèn luyện nâng  
cao phꢀm chất đạo đức, năng lực để phát triển toàn diện  
về đức, trí, thể, mĩ. Ban giám hiệu các trường THPT đã  
quan tâm và có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng  
- Nguyên nhân thuộc về quản lí xã hội và quản lí GD.  
Trong các trường THPT hiện nay, chất lượng GDĐĐ và  
quản lí GDĐĐ chưa cao, các bộ phận chức năng trong  
nhà trường hoạt động chưa đồng đều. Bên cạnh đó, các  
lực lượng xã hội cũng chưa dành sự quan tâm đúng mức  
cho hoạt động GDĐĐ cho HS. Đây là nguyên nhân chủ  
yếu dẫn đến các nguyên nhân chủ quan và khách quan.  
Bởi nếu trong môi trường xã hội và trong trường THPT  
316  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 313-317  
của GDĐĐ cho HS, đã có những giải pháp nhằm nâng nhất toàn xã hội. Vấn đề đặt ra là cần có một cơ chế phối  
cao chất lượng GDĐĐ cho HS.  
hợp để có thể khai thác được tiềm năng của xã hội trong  
việc quản lí GDĐĐ cho HS.  
Tuy nhiên, những năm gần đây, việc quản lí GDĐĐ  
cho HS THPT huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An chưa thật  
sự được chú trọng, mặc dù CBQL, GV đều nắm được  
tầm quan trọng của vấn đề này. Trên thực tế, nhiều GV  
khi lên lớp chỉ chú trọng đến việc truyền thụ kiến thức, ít  
quan tâm đến GD, rèn luyện đạo đức cho HS. Ngoài ra,  
việc xây dựng và triển khai kế hoạch, hoạt động GDĐĐ  
còn mang tính thụ động. Nhà trường chưa thực sự chủ  
động đề ra các chương trình, kế hoạch tổ chức GDĐĐ  
cho HS ở tầm vĩ mô, thường xuyên và liên tục, chỉ khi  
nào cấp trên phát động mới thực hiện, triển khai.  
Các hình thức, nội dung, giải pháp GDĐĐ cho HS  
còn mang nặng tính hình thức, nghèo nàn, chưa thu hút  
được HS, thiếu linh hoạt, các hoạt động chưa đan xen,  
lồng ghép với nhau. Công tác kiểm tra, đánh giá được  
tiến hành chưa thường xuyên, thiếu quy định cụ thể.  
Việc khen thưởng, kỉ luật chưa kịp thời, chưa đầu tư cơ  
sở vật chất và tài chính thỏa đáng đối với các hoạt động  
GDĐĐ cho HS, vì thế, chưa đủ mạnh để động viên,  
khuyến khích các lực lượng tham gia công tác quản lí  
GDĐĐ.  
Tómlại, để nâng cao được chất lượng đào tạo của nhà  
trường nói chung và chất lượng GDĐĐ nói riêng, cần  
phải khắc phục được những hạn chế nói trên. Muốn vậy,  
nhà trường phải có những giải pháp quản lí GDĐĐ đồng  
bộ, khoa học và phù hợp để giải quyết thực trạng GDĐĐ  
của các trường THPT huyện Quỳ Hợp tỉnh Nghệ An hiện  
nay.  
Các trường THPT còn tồn tại các hình thức, giải pháp  
GDĐĐ đơn điệu, chủ yếu là các bài giáo huấn về nội quy  
của nhà trường, kỉ cương nền nếp, nên kết quả GDĐĐ  
chưa cao. Một hạn chế nữa là sự kết hợp của ba môi  
trường giữa gia đình, nhà trường và xã hội thực hiện chưa  
tốt, thiếu tính đồng bộ. Việc kiểm tra, đánh giá quá trình  
rèn luyện GDĐĐ chưa thường xuyên, dẫn đến việc chưa  
khuyến khích được mọi lực lượng xã hội tham gia quản  
lí GDĐĐ cho HS THPT; đồng thời, kết quả tự GD của  
HS vẫn còn nhiều hạn chế.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Ban Chấp hành Trung ương (2013). Nghị quyết số  
29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn  
diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công  
nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị  
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập  
quốc tế.  
[2] Quốc hội (2005). Luật Giáo dục. Luật số  
38/2005/QH11 ngày 27/06/2005.  
[3] Phạm Thị Vui (2017). Một số biện pháp giáo dục  
đạo đức cho học sinh trung học phổ thông trong nhà  
trường hiện nay. Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt tháng  
7, tr 141-144.  
[4] Nguyễn Văn Hà - Trần Anh Toàn (2016). Quản lí  
giáo dục đạo đức học sinhtại Trường Trung học phổ  
thông Quan Lạn, Quảng Ninh. Tạp chí Giáo dục, số  
đặc biệt tháng 11, tr 41-45.  
[5] Lê Gia Thanh (2011). Vai trò của nhà trường trong  
việc phối hợp các lực lượng xã hội giáo dục đạo đức  
cho học sinh phổ thông hiện nay. Tạp chí Giáo dục,  
số 267, tr 53-54.  
[6] Lê Gia Thanh (2012). Đổi mới sinh hoạt tập thể đầu  
tuần để giáo dục đạo đức cho học sinh trung học  
phổ thông. Tạp chí Giáo dục, số 294, tr 18-19.  
[7] Trương Thị Phương Thảo (2016). Sự biến đổi giá trị  
đạo đức truyền thống trước tác động của nền kinh tế  
thị trường ở nước ta. Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt  
tháng 3, tr 158-160; 154.  
3. Kết luận  
GDĐĐ và quản lí GDĐĐ cho HS THPT huyện  
Quỳ Hợp, Nghệ An, bên cạnh những kết quả được xã  
hội ghi nhận, vẫn còn không ít những bất cập, yếu kém  
cần có những giải pháp khắc phục. Những phꢀm chất  
cần thiết trong công tác GD và rèn luyện đạo đức cho  
HS được trường THPT chú trọng nhưng chưa thực sự  
đầy đủ. Các trường THPT Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An đã  
có nhiều cố gắng củng cố bộ máy quản lí, cải tiến nội  
dung tuyên truyền GDĐĐ thông qua các hoạt động  
của Đoàn Thanh niên nhằm phát huy tính độc lập, sáng  
tạo, tự chủ của HS. Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ chuyên  
trách còn thiếu, chưa được thường xuyên bồi dưỡng  
chuyên môn, nghiệp vụ nên còn gặp khó khăn và lúng  
túng trong công việc là điều khó tránh khỏi.  
Khâu xây dựng và thực hiện kế hoạch GDĐĐ cho HS  
chưa sát thực tế, thiếu mục tiêu, nội dung, phương pháp  
cụthể, còn bị động trong khi triển khai và thực hiện; chưa  
phát huy sự phối kết hợp các LLGD trong và ngoài  
trường trong việc quản lí GDĐĐ cho HS. Nhiều lực  
lượng xã hội chưa chủ động, tích cực tham gia cùng nhà  
trường trong việc thực hiện mục tiêu GD thế hệ trẻ và  
yêu cầu GDĐĐ cho HS. Do đó, chưa tạo được sự thống  
317  
pdf 5 trang yennguyen 15140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_quan_li_hoat_dong_giao_duc_dao_duc_cho_hoc_sinh_t.pdf