Thực trạng kỹ năng thuyết trình của sinh viên sư phạm trường Đại học Đồng Nai

TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 - 2019  
ISSN 2354-1482  
THỰC TRẠNG KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH CỦA  
SINH VIÊN SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI  
Nguyễn Thị Thu Trang1  
TÓM TẮT  
Kỹ năng thuyết trình là một trong những kỹ năng cần thiết của sinh viên nói  
chung và đối với sinh viên sư phạm nói riêng. Theo kết quả điều tra 200 sinh viên  
K42 của khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non trường Đại học Đồng Nai cho thấy kỹ  
năng thuyết trình của sinh viên ở mức độ trung bình và yếu. Nguyên nhân chủ yếu là  
do bản thân sinh viên chưa tích cực, chủ động trong việc rèn luyện kỹ năng này.  
Từ khóa: Sinh viên, thuyết trình, kỹ năng thuyết trình, rèn luyện kỹ năng  
thuyết trình  
1. Đặt vấn đề  
luận chặt chẽ, tổng hợp, khái quát vấn  
đề và sáng tạo. Rèn cho sinh viên có  
khả năng nói lưu loát, thuyết phục và tự  
tin. Công trình của De Grez, L., Valcke,  
M., và Roozen, I. [3] nghiên cứu các  
cách thức và phương pháp giảng dạy  
nhằm phát triển kỹ năng thuyết trình  
cho sinh viên bằng cách phát triển các  
kỹ năng phản xạ trong môi trường học  
tập trực tuyến, thiết kế và phát triển các  
bài giảng đa phương tiện chuẩn, các  
hoạt động thực tế và các phản hồi của  
sinh viên.  
Kỹ năng thuyết trình là một trong  
những kỹ năng rất cần thiết để đem lại  
sự thành công cho mỗi người trong  
công việc học tập, nghiên cứu cũng như  
các hoạt động, giao tiếp xã hội. “Kỹ  
năng thuyết trình gây được sự chú ý  
trong giáo dục đại học và kinh doanh, vì  
nó chính là một trong các năng lực cốt  
lõi của một chuyên gia” [1].  
Công trình của Lytaeva, M. A., và  
Talalakina, E. V. [2] đã chỉ ra rằng kỹ  
năng thuyết trình cần có sự kết hợp việc  
đọc, viết và trình bày một cách khoa  
học. Trước tiên, sinh viên cần phải có  
kỹ năng đọc như lựa chọn thông tin và  
giải thích thông tin một cách tường  
minh. Tiếp theo, khi viết, sinh viên có  
kỹ năng xử lý thông tin, ghi chép, tổng  
hợp và khái quát. Sau khi làm chủ được  
hai giai đoạn đầu tiên, sinh viên có thể  
học cách trình bày kết quả bài viết của  
mình bằng miệng. Kỹ năng thuyết trình  
là sự kết hợp của kỹ năng ngôn ngữ, kỹ  
năng lập luận và kỹ năng trình bày. Do  
đó, qua việc rèn luyện kỹ năng này sinh  
viên sẽ có khả năng tư duy logic, lập  
Nghiên cứu của Hu nh Văn Sơn  
(2012) [4] đã đề cập đến thực trạng kỹ  
năng mềm của sinh viên đại học sư  
phạm. Nghiên cứu đã chỉ ra 20 kỹ năng  
mềm, như: kỹ năng tự đánh giá, kỹ  
năng hoạch định mục tiêu cuộc đời, kỹ  
năng thuyết trình… Kết quả cho thấy  
sinh viên khá thuần thục ở một vài kỹ  
năng nhưng đa phần sinh viên còn khó  
khăn, lúng túng khi thực hành các kỹ  
năng mềm. Nghiên cứu đã chỉ ra kỹ  
năng cần thiết trong quá trình thuyết  
trình đó là kỹ năng giao tiếp; kỹ năng tổ  
chức: n m rõ cấu trúc của một bài  
1Trường Đại học Đồng Nai  
9
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 - 2019  
ISSN 2354-1482  
thuyết trình để tổ chức s p xếp một bài  
thuyết trình logic, rõ ràng và mang tính  
thuyết phục cao; tư duy phản biện, khả  
năng thiết kế và sử dụng những dụng cụ  
trực quan hỗ trợ cho bài thuyết trình;  
khả năng sử dụng ngôn ngữ hình thể  
trong khi thuyết trình. Đặc biệt nghiên  
cứu đã chỉ ra những lỗi mà sinh viên  
thường m c phải khi thuyết trình đó là:  
tổ chức một bài thuyết trình; thiết kế và  
sử dụng dụng cụ trực quan hỗ trợ cho  
bài thuyết trình và khả năng sử dụng  
ngôn ngữ hình thể còn rất hạn chế.  
phạm Tiểu học - Mầm non trường Đại  
học Đồng Nai. Kết quả nghiên cứu cho  
thấy mức độ đạt được các tiêu chí trong  
kỹ năng thuyết trình của sinh viên sư  
phạm trường Đại học Đồng Nai còn  
yếu. Đa phần sinh viên chưa tự tin khi  
thuyết trình. Ngôn ngữ trình bày không  
có điểm nhấn, thiếu tính thuyết phục.  
Trên cơ sở những hạn chế trên, chúng  
tôi đưa ra những biện pháp hợp lý và  
khả thi giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng  
thuyết trình một cách tốt nhất.  
2. Nội dung  
Như vậy, các nghiên cứu trên đã đề  
2.1. Nhận thức của sinh viên về  
vai trò của việc rèn luyện kỹ năng  
thuyết trình  
cập đến kỹ năng thuyết trình nhưng  
chưa đưa ra được những tiêu chí cụ thể  
để đánh giá. Trong bài viết này, chúng  
tôi nghiên cứu các tiêu chí trong kỹ  
năng thuyết trình và mức độ đạt được  
các tiêu chí đó ở sinh viên. Mẫu nghiên  
cứu là 200 sinh viên K42 của khoa Sư  
Với nội dung này, sinh viên đã  
nhận thức được ý nghĩa quan trọng và  
cần thiết của việc rèn luyện kỹ năng  
thuyết trình. Kết quả được thể hiện ở  
bảng 1.  
Bảng 1: Nhận thức của sinh viên về vai trò của việc rèn luyện kỹ năng thuyết trình  
STT  
Nhận thức của sinh viên về vai  
trò của kỹ năng thuyết trình  
Tổng số  
Số lượng  
%
80  
20  
0
1
2
3
4
Rất cần thiết  
Cần thiết  
160  
40  
0
Ít cần thiết  
Không cần thiết  
0
0
Qua kết quả ở bảng trên cho thấy:  
Tất cả sinh viên đều nhận thức được sự  
cần thiết của kỹ năng thuyết trình.  
Trong đó có 80% sinh viên cho rằng là  
rất cần thiết, còn lại là 20% sinh viên  
cho rằng cần thiết. Qua trao đổi, sinh  
viên Nguyễn Văn Q. cho biết: “Kỹ năng  
này rất cần thiết với em, vì nếu em có  
được kỹ năng này thì em sẽ tự tin đứng  
trước bạn bè để nói, không còn ngại  
ngùng, xấu hổ nữa”. Còn sinh viên  
Nguyễn Thu L. cho rằng: “Sau này trở  
thành một giáo viên, kỹ năng thuyết  
trình sẽ giúp cho người giáo viên giảng  
bài hay hơn và hấp dẫn hơn”. Như vậy  
sự cần thiết của kỹ năng thuyết trình mà  
sinh viên đưa ra không chỉ giúp cho  
hoạt động giao tiếp mà còn giúp cho  
hoạt động giảng dạy sau này.  
10  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 - 2019  
ISSN 2354-1482  
2.2. Mức độ kỹ năng thuyết trình  
của sinh viên trước khi rèn luyện  
thuyết trình của bản thân. Ngoài sự tự  
đánh giá của sinh viên, giáo viên đánh  
giá kỹ năng thuyết trình qua sản phẩm  
của sinh viên với các tiêu chí ở bảng 2.  
Ở nội dung này, chúng tôi cho sinh  
viên tự đánh giá mức độ về kỹ năng  
Bảng 2: Các tiêu chí đánh giá sản phẩm thuyết trình  
STT Nội dung, tiêu chí đánh giá sản phẩm  
Điểm tối  
Điểm  
đa  
thực tế  
1
2
Giới thiệu bản thân (họ tên, khóa/đơn vị) và chủ đề bài  
thi nói/thuyết trình  
10  
Nội dung bài thi nói/thuyết trình (có tính khoa học, giáo  
dục, cấu trúc logic, lập luận chặt chẽ…)  
25  
30  
3
4
5
Ngôn ngữ nói/thuyết trình (âm lượng, kiểm soát tốc độ,  
điểm nhấn, phát âm chuẩn…)  
Trang phục và ngôn ngữ cơ thể (ánh m t, cử chỉ, biểu lộ  
cảm xúc, sự di chuyển…)  
25  
Phương pháp thuyết trình (kết hợp sử dụng phương tiện,  
hình ảnh...)  
10  
Tổng điểm (tính theo thang điểm 100, lấy tổng số điểm chia  
cho các nội dung và làm tròn đến hai số thập phân)  
100  
Kết quả tự đánh giá của sinh viên và đánh giá của giáo viên về kỹ năng thuyết  
trình được thể hiện ở bảng 3.  
Bảng 3: Mức độ kỹ năng thuyết trình của sinh viên trước khi rèn luyện  
STT  
Mức độ kỹ năng thuyết trình  
của sinh viên trước khi rèn  
Sinh viên tự  
đánh giá  
Đánh giá của giáo  
viên  
luyện  
SL  
%
SL  
%
1
2
3
4
5
Rất tốt  
Tốt  
2
4
1,0  
2,0  
0
0
0,0  
0,0  
17,5  
21,5  
61,0  
Khá  
42  
57  
95  
21,0  
28,5  
47,5  
35  
43  
Trung bình  
Yếu  
122  
Kết quả bảng 3 cho thấy, kỹ năng  
thuyết trình của sinh viên là chưa tốt.  
Tuy nhiên đánh giá về kỹ năng thuyết  
trình của sinh viên cao hơn so với đánh  
giá của giáo viên. Cụ thể: sinh viên tự  
đánh giá ở mức Rất tốt là 1,0%, còn  
giáo viên đánh giá là 0%; sinh viên tự  
đánh giá ở mức Tốt là 2,0%, còn giáo  
viên đánh giá là 0%; mức độ Khá sinh  
viên tự đánh giá là 21%, trong khi đó  
giáo viên đánh giá các em đạt ở mức  
này là 17,5%; đánh giá ở mức độ Trung  
11  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 - 2019  
ISSN 2354-1482  
bình thì sinh viên tự đánh giá là 28,5%,  
giáo viên đánh giá là 21,5%; và ở mức  
độ Yếu thì sinh viên tự đánh giá là  
47,5%, trong khi đó con số này ở giáo  
viên là khá cao 61,0%. Qua quan sát các  
em thuyết trình, chúng tôi nhận thấy đa  
phần các em còn yếu kỹ năng này. Nội  
dung thuyết trình thiếu sâu s c, khả  
năng lập luận chưa chặt chẽ và không  
gây ấn tượng, bài viết lan man, không  
có trọng tâm. Phong cách trình bày thì  
lúng túng, cứng nh c, thiếu tự tin. Ngôn  
ngữ chưa lưu loát, thiếu ngữ điệu, giọng  
đều đều, không có điểm nhấn. Thậm chí  
có em khi đứng lên thuyết trình chỉ đọc.  
Qua trao đổi, sinh viên Trần Ngọc H.  
cho biết: “Em chưa bao giờ đứng lên  
trước lớp để thuyết trình nên em run  
l m, không biết phải thể hiện như thế  
nào nữa”. Qua đây cho thấy, kỹ năng  
này của các em còn rất hạn chế.  
2.3. Mức độ biểu hiện các kỹ năng  
thuyết trình của sinh viên  
2.3.1. Mức độ đạt được các tiêu chí  
trong kỹ năng thuyết trình của sinh viên  
Ở nội dung này, chúng tôi đánh giá  
kỹ năng thuyết trình của sinh viên theo  
những tiêu chí như: nội dung thuyết  
trình, ngôn ngữ khi thuyết trình và  
phong cách khi thuyết trình. Kết quả  
được thể hiện ở bảng 4.  
Bảng 4: Mức độ đạt được các tiêu chí trong kỹ năng thuyết trình của sinh viên  
STT  
Các tiêu chí  
Mức độ  
Trung bình  
Thứ bậc  
1
2
Nội dung bài thuyết trình  
Ngôn ngữ thuyết trình  
2,61  
2,83  
2
1
3
4
Ngôn ngữ cơ thể  
2,42  
2,38  
3
4
Phương pháp và phương tiện  
thuyết trình  
Kết quả bảng 4 cho thấy, mức độ  
đạt được các tiêu chí trong kỹ năng  
thuyết trình của sinh viên chỉ ở mức  
trung bình, xếp vị trí thứ 1 là Ngôn ngữ  
thuyết trình là cao hơn cả (ĐTB = 2,83),  
tiếp đó đến tiêu chí Nội dung bài thuyết  
trình với ĐTB = 2,61, xếp ở vị trí thứ 3  
là Ngôn ngữ cơ thể với điểm TB = 2,42  
và cuối cùng là Phương pháp và phương  
tiện thuyết trình với ĐTB = 2,38. Như  
vậy, với mức độ các tiêu chí của kỹ  
năng thuyết trình ở trên sinh viên cần  
phải tích cực rèn luyện mới có thể viết  
tốt và nói thuyết phục được.  
2.3.2. Mức độ biểu hiện các tiêu chí  
trong kỹ năng thuyết trình của sinh viên  
Ở nội dung này, chúng tôi đánh giá  
các mức độ biểu hiện về kỹ năng thuyết  
trình trong từng tiêu chí. Kết quả được  
thể hiện ở bảng 5.  
12  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 - 2019  
ISSN 2354-1482  
Bảng 5: Mức độ biểu hiện các tiêu chí trong kỹ năng thuyết trình của sinh viên  
Mức độ  
Mức độ  
Tổng Trung Thứ  
Các biểu hiện  
điểm bình  
bậc  
1. Nội dung bài thuyết trình  
1.1. Chủ đề phù hợp, mang tính thực tiễn cao  
1.2. Đặt vấn đề hay, hấp dẫn, gây ấn tượng  
1.3. Lập luận chặt chẽ, logic  
300  
232  
251  
252  
258  
293  
255  
3,00  
2,32  
2,51  
2,52  
2,58  
2,93  
2,55  
1
16  
9
1.4. Phong phú, sáng tạo  
8
1.5. Thể hiện tính giáo dục  
5
1.6. Đưa ra được nhiều minh hoạ thuyết phục  
1.7. Đưa ra được thông điệp của chủ đề  
2
6
2. Ngôn ngữ thuyết trình  
2.1. Phát âm chuẩn  
347  
3,47  
3,48  
2,32  
2,40  
2,69  
3,41  
11  
10  
16  
15  
3
2.2. Rõ ràng, lưu loát  
348  
232  
240  
269  
341  
2.3. Ngữ điệu trầm bổng theo nội dung thuyết trình  
2.4. Biết nhấn mạnh những điểm quan trọng  
2.5. Âm lượng phù hợp với nội dung thuyết trình  
2.6. Tốc độ nói phù hợp  
15  
3. Ngôn ngữ cơ thể  
3.1. Ánh m t bao quát khán giả tốt  
3.2. Sử dụng cử chỉ tay, chân hợp lý  
3.3. Sử dụng ngôn ngữ cơ thể phù hợp  
3.4. Khuôn mặt tươi t n khi thuyết trình  
3.5. Cảm xúc phù hợp với nội dung thuyết trình  
3.6. Linh hoạt di chuyển khi thuyết trình  
253  
252  
244  
236  
241  
224  
2,53  
2,52  
2,44  
2,36  
2,41  
2,24  
7
8
12  
13  
14  
18  
4. Phương pháp và phương tiện thuyết trình  
4.1. Tự tin khi thuyết trình  
236  
228  
261  
228  
2,36  
2,28  
2,61  
2,28  
13  
17  
4
4.2. Phối hợp linh hoạt giữa ngôn ngữ nói và phi ngôn ngữ  
4.3. Biết tương tác với người nghe bằng những câu hỏi  
4.4. Phối hợp linh hoạt các phương pháp và phương tiện  
17  
g n liền với niềm đam mê, yêu thích  
của các em như: Bạo lực học đường,  
tình yêu tuổi học trò, bệnh vô cảm…  
Về nội dung thuyết trình, kết quả ở  
bảng 5 cho thấy: Thứ nhất, việc chọn  
chủ đề thuyết trình đối với sinh viên là  
không khó (ĐTB = 3,0), đa phần sinh  
viên lựa chọn những vấn đề mang tính  
thời sự, nóng hổi hoặc những chủ đề  
Thứ hai, khả năng đặt vấn đề của  
sinh viên không tốt, không gây được ấn  
tượng, không gây được sự chú ý của  
13  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 - 2019  
ISSN 2354-1482  
người nghe (ĐTB=2,33). Có những sinh  
viên lúng túng không biết đặt vấn đề  
như thế nào, chỉ viết đúng được một câu  
về chủ đề cần trình bày, mở bài chưa  
thâu tóm được nội dung bài.  
nội dung mà các em đã viết, chúng tôi  
nhận thấy rằng hiểu biết về xã hội của  
các em còn rất nhiều hạn chế.  
Về ngôn ngữ trình bày, kết quả ở  
bảng 5 cho thấy, ngoài việc phát âm  
chuẩn, âm lượng đạt ở mức độ trên  
trung bình, còn lại các biểu hiện khác  
đều ở mức độ thấp. Cụ thể như sau:  
Phát âm chuẩn (ĐTB = 3,47), ở  
biểu hiện này thì đa phần sinh viên phát  
âm đúng, tuy nhiên vẫn có một số em  
nói ngọng đặc biệt là ngọng giữa “n” và  
“l”, một số em phát âm theo vùng, miền  
nên đôi khi tiếng không tròn, không rõ.  
Âm lượng phù hợp (ĐTB= 2,69),  
hơn một nửa sinh viên được điều tra đã  
đạt được mức độ phù hợp, không to quá  
mà cũng không nhỏ quá. Số sinh viên  
còn lại thì thuyết trình với giọng nói  
nhỏ. Qua quan sát và rèn luyện cho sinh  
viên, chúng tôi thấy có những em nói  
nhỏ, giáo viên thường xuyên phải nh c  
là cần phải nói to lên. Qua giọng nói  
cũng biết được mức độ tự tin của các  
em. Những em nói nhỏ là những em  
thiếu tự tin vào chính bản thân mình,  
vào bài thuyết trình của mình.  
Thứ ba, khả năng lập luận, giải  
quyết vấn đề thiếu tính logic, chặt chẽ  
(ĐTB=2,51). Qua quá trình quan sát,  
chúng tôi nhận thấy sinh viên nghĩ được  
câu gì thì viết câu đó, chưa biết cách  
viết và giải quyết một vấn đề như thế  
nào cho phù hợp. Nội dung bài thuyết  
trình thường thiếu tính chặt chẽ và  
thuyết phục. Sinh viên thường không  
biết viết ý khái quát, mổ xẻ những ý  
nhỏ và phân tích sâu s c vấn đề.  
Thứ tư, yêu cầu về sự phong phú,  
sáng tạo của nội dung (ĐTB=,93). Một  
bài viết vừa ng n gọn, vừa đầy đủ về  
nội dung lại còn phải sáng tạo thì điều  
này rất khó đối với sinh viên, chính vì  
yêu cầu như vậy nên đa phần sinh viên  
không đáp ứng được yêu cầu này.  
Phần kết cũng có tầm quan trọng  
không kém, một bài thuyết trình hay và  
hấp dẫn được thể hiện từ lúc mở đầu  
cho đến kết luận. Dù nội dung hay đến  
đâu mà phần kết không gây được ấn  
tượng thì toàn bộ bài viết sẽ trở nên vô  
nghĩa. Chúng tôi thường yêu cầu các em  
đưa ra thông điệp cuối cùng cho chủ đề,  
tuy nhiên hầu hết sinh viên chưa làm  
được, các em chỉ viết được một vài câu  
kết luận. Như vậy, có thể thấy rằng khả  
năng viết của sinh viên còn rất hạn chế.  
Qua quan sát quá trình rèn kỹ năng  
thuyết trình cho sinh viên, qua những  
Tốc độ nói phù hợp (ĐTB= 3,41).  
Đa phần sinh viên thực hiện tốc độ nói  
phù hợp, số sinh viên còn lại thường nói  
chậm, giống như giảng bài. Mặc dù vậy  
sinh viên chưa biết tốc độ chuẩn khi  
thuyết trình là như thế nào. Các em  
thường thuyết trình theo thói quen của  
bản thân, nói như thế nào thì thuyết  
trình như vậy.  
14  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 - 2019  
ISSN 2354-1482  
Ngữ điệu trầm bổng (ĐTB=2,32),  
thể hiện sự lên cao hay xuống thấp của  
giọng nói. Khi sinh viên đứng lên  
thuyết trình, đa phần các em đọc hoặc  
học thuộc nội dung đã viết để trình bày  
lại nội dung đã nhớ được chứ không  
phải là thuyết trình. Giọng đều đều,  
những nội dung vui hoặc buồn hoặc thể  
hiện sự cấp thiết thì các em không thể  
hiện được thông qua giọng nói.  
lên thuyết trình đều nhìn vào một điểm,  
ít có sự di chuyển ánh m t từ chỗ này  
sang chỗ khác. Có sinh viên khi thuyết  
trình thì cứ nhìn ra ngoài cửa sổ, do vậy  
không làm cho người nghe hứng thú.  
Sử dụng cử chỉ tay, chân (ĐTB=2,52)  
cũng ở mức độ trung bình. Khi thuyết  
trình, sinh viên đứng im một chỗ, từ lúc  
b t đầu cho đến khi kết thúc bài thuyết  
trình, tay buông thõng, hoặc lúng túng,  
không biểu đạt được nội dung thuyết  
trình. Sinh viên không biểu đạt được  
khi nào cần đưa tay lên cao hoặc hạ tay  
xuống hoặc di chuyển bước chân từ trái  
sang phải như thế nào cho hợp lý. Điều  
này cho thấy dù bài thuyết trình có hay  
đến mấy mà không thể hiện được qua  
ngôn ngữ cử chi thì cũng không hấp dẫn  
người nghe.  
Biết nhấn mạnh những điểm quan  
trọng (ĐTB=2,40). Như đã phân tích ở  
trên, sinh viên thể hiện bài thuyết trình  
với giọng đều đều, những nội dung nổi  
bật hoặc quan trọng thì sinh viên không  
diễn đạt được bằng ngôn ngữ của mình  
để người nghe thấy được tầm quan  
trọng của vấn đề.  
Thực trạng trên cho thấy sinh viên  
khi thuyết trình thiếu cảm xúc, do vậy  
không đem lại cảm hứng cho người  
nghe. Như vậy, ngôn ngữ nói có vai trò  
cực k  quan trọng, là công cụ truyển tải  
thông tin, đồng thời là công cụ biểu  
cảm, gợi cảm. Sau này, các sinh viên sư  
phạm sẽ trở thành giáo viên, nếu sử  
dụng ngôn ngữ nói có hồn thì sẽ đem lại  
hiệu quả cao trong quá trình giảng dạy.  
Về ngôn ngữ cử chỉ, hành vi, kết  
quả ở bảng 5 cho thấy, khả năng thể  
hiện cử chỉ phi ngôn ngữ của sinh viên  
còn rất hạn chế. Khả năng thể hiện cảm  
xúc, thái độ, phong thái khi thuyết trình  
còn ở mức độ thấp. Cụ thể:  
Bên cạnh đó, s c thái khuôn mặt  
cũng rất quan trọng. Khi thuyết trình  
phải thể hiện được sự tươi t n trên  
khuôn mặt. Thể hiện được sự tự tin, bộc  
lộ được cảm xúc thông qua từng nội  
dung của bài thuyết trình. Tuy nhiên  
trong quá trình quan sát, chúng tôi nhận  
thấy sinh viên rất căng thẳng khi thuyết  
trình, vẻ mặt lo l ng, lúng túng. Khuôn  
mặt của sinh viên thể hiện sự căng  
thẳng, do vậy các em không thể hiện  
được những cảm xúc vui, buồn trong  
nội dung bài nói, bài thuyết trình thiếu  
sự sống động.  
Về phương pháp và phương tiện khi  
thuyết trình, sự thể hiện của sinh viên  
cũng chỉ ở mức độ thấp hoặc trung  
bình. Cụ thể:  
Ánh m t bao quát khán giả ở mức  
độ trung bình (ĐTB=2,53). Qua quan  
sát cho thấy, đa phần sinh viên khi đứng  
15  
pdf 7 trang yennguyen 25880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng kỹ năng thuyết trình của sinh viên sư phạm trường Đại học Đồng Nai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_ky_nang_thuyet_trinh_cua_sinh_vien_su_pham_truong.pdf