Release kinetics of lime essential oil (Citrus aurantifolia) from beads microencapsulated through ion-gel method

58  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
Release kinetics of lime essential oil (Citrus aurantifolia) from beads  
microencapsulated through ion-gel method  
Vinh Truong∗, Phuong T. Nguyen, Nhung T. C. Pham, & Phuong T. Nguyen  
Department of Chemical Engineering, Nong Lam University, Ho Chi Minh City, Vietnam  
ARTICLE INFO  
Research Paper  
ABSTRACT  
Ca-Alginate beads for microencapsulation of lime oil (Citrus aurantifolia)  
by ion-gel method was manufactured and then soaked in Chitosan solution  
to obtain Ca-Alginate-Chitosan beads. Increased CaCl2 concentrations  
reduced lime essential oil release. The alginate concentration (2 to 3%)  
and water temperature affected significantly the release of oil (P < 0.05).  
The higher temperatures, the higher the release rate. The oil release at  
75oC was twice as much as at 45oC. At 45oC, the difference in the release  
rate among the alginate concentrations of 2%, 2.5% and 3% was clear and  
statistically significant (P < 0.05). However, at 60oC and 75oC, there was  
no significant difference in release between the alginate concentration of  
2.5% and 3% (P > 0.05). In the storage of beads in 1% CaCl2 solution  
at normal temperature, after the first 15 days, Ca-Alginate-Chitosan  
system released about 3% slower than Ca-Alginate system, but there was  
no difference between the two systems after 45 days. This shows that if  
prolonged for a long time, the ion-gelation of Ca-Alginate prevails over  
the Alginate-Chitosan cross-link.  
Received: November 15, 2020  
Revised: February 12, 2021  
Accepted: February 23, 2021  
Keywords  
Ca-Alginate  
Ion-gel method  
Lime oil  
Microencapsulation  
Release kinetic  
∗Corresponding author  
Truong Vinh  
Email: [email protected].vn  
Cited as: Truong, V., Nguyen, P. T., Pham, N. T. C., & Nguyen, P. T. (2021). Release kinetics  
of lime essential oil (Citrus aurantifolia) from beads microencapsulated through ion-gel method.  
The Journal of Agriculture and Development 20(1), 58-66.  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(1)  
 
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
59  
Nghiên cứu động học phóng thích của tinh dầu chanh từ hạt vi bọc bằng phương pháp  
ion-gel  
Trương Vĩnh∗, Nguyễn Thành Phương, Phạm Thị Cẩm Nhung & Nguyễn Thanh Phương  
Bộ Môn Công Nghệ Hóa Học, Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM, TP. Hồ Chí Minh  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
TÓM TẮT  
Bài báo khoa học  
Hạt Ca-Alginate vi bọc tinh dầu chanh bằng phương pháp ion-gel được  
thực hiện và sau đó ngâm trong dịch Chitosan để có hạt Ca-Alginate-  
Chitosan. Nồng độ CaCl2 tăng làm giảm sự phóng thích tinh dầu chanh.  
Nồng độ alginate (2 - 3%) và nhiệt độ nước ngâm ảnh hưởng đến sự phóng  
Ngày nhận: 15/11/2020  
Ngày chỉnh sửa: 12/02/2021  
Ngày chấp nhận: 23/02/2021  
thích tinh dầu chanh (P < 0,05). Ở nhiệt độ càng cao, tốc độ phóng thích  
càng lớn. Độ phóng thích tinh dầu ở nhiệt độ 75oC cao hơn hai lần ở nhiệt  
độ 45oC. Ở nhiệt độ 45oC, sự khác biệt tốc độ phóng thích giữa 3 nồng độ  
alginate 2%; 2,5% và 3% rõ ràng và có ý nghĩa thống kê (P < 0,05). Tuy  
nhiên, ở nhiệt độ 60oC và 75oC, không có sự khác biệt về độ phóng thích  
giữa nồng độ alginate 2,5% và 3% (P > 0,05). Trong quá trình bảo quản  
hạt vi bọc trong môi trường CaCl2 1% ở nhiệt độ thường, sau thời gian 15  
ngày đầu hệ Ca-Alginate-Chitosan phóng thích chậm hơn hệ Ca-Alginate  
khoảng 3% nhưng không khác biệt giữa hai hệ sau 45 ngày. Điều này cho  
thấy nếu kéo dài thời gian lâu thì liên kết Ca-Alginate chiếm ưu thế so  
với liên kết Alginate-Chitosan.  
Từ khóa  
Ca-alginate  
Động học phóng thích  
Phương pháp ion-gel  
Tinh dầu chanh  
Vi bọc  
∗Tác giả liên hệ  
Trương Vĩnh  
Email: [email protected].vn  
1. Đặt Vấn Đề  
diệt khuẩn và có thể ứng dụng trong thuốc bảo  
vệ thực vật (Anitha & ctv., 2011), mỹ phẩm  
Công nghệ vi bọc hoạt chất được ứng dụng (Martins & ctv., 2014). Soliman & ctv. (2013)  
nhiều trong các lĩnh vực dược phẩm để kiểm soát đã nghiên cứu vi bọc tinh dầu quế (Cinnamon),  
tốc độ phóng thích thuốc, làm giàu dưỡng chất đinh hương (Clove) và húng tây (Thyme) với hiệu  
cho thực phẩm, để tránh oxy hóa hoạt chất trong suất vi bọc 90 - 94% và khả năng tải 22 - 24%  
mỹ phẩm. Ngoài ra, vi bọc còn giúp kiểm soát bằng phương pháp ion-gel hệ Alginate-Ca dùng  
tốc độ phóng thích hoạt chất theo mong muốn. vòi phun khuếch tán để tạo giọt.  
Công nghệ vi bọc được áp dụng rộng rãi trong  
các lĩnh vực dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm,  
thuốc bảo vệ thực vật, phân bón. Các chất xúc  
tác như enzyme, vi khuẩn, nấm, xúc tác hóa học  
(sinh học) khi được vi bọc có thể tái sử dụng  
nhiều lần. Các hoạt chất như chất chống oxy hóa,  
hương liệu, dầu thực vật, vitamin, amino acid,  
chất màu, thuốc nhuộm, dễ bị hư hỏng do sự tác  
động của môi trường bên ngoài như ánh sáng, ẩm  
độ, nhiệt độ, oxygen, hoặc do phản ứng với các  
hóa chất khác, sẽ được tránh khỏi khi các vật liệu  
đó được chế tạo dưới dạng vi nang.  
Tinh dầu chanh được vi bọc bằng nhiều phương  
pháp như trùng hợp (polymerization) sử dụng  
urea-formaldehyde (Park & ctv., 2001), kết tụ  
phức (complex coacervation) sử dụng hai poly-  
mer là whey protein và gum arabic (Weinbreck  
& ctv., 2004) và bằng sấy phun với khả năng  
tải tinh dầu là 10% (Kausadikar & ctv., 2015).  
Việc kiểm soát tốc độ phóng thích hoạt chất sẽ  
giúp chọn lựa trong ứng dụng thực tiễn (Peng  
& ctv., 2010; Silva & ctv., 2015). Tính chất của  
hạt Alginate-Ca2+ như bề mặt nhẵn, đồng đều  
cao (Fundueanu & ctv., 1999) nên là phương pháp  
Các tinh dầu đã được chứng minh là có tính được ứng dụng rộng rãi để kiểm soát tốc độ phóng  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(1)  
60  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
thích hoạt chất. Liên kết chéo Alginate-Chitosan  
bằng phương pháp ion-gel đã được nhiều nghiên  
cứu ứng dụng để vi bọc thuốc, protein, tế bào  
(Douglas, 2005). Vi bọc tinh dầu chanh bằng  
phương pháp ion-gel hệ Ca-Alginate chỉ mới được  
nghiên cứu gần đây (Trương, 2020; Truong & ctv.,  
2020) nhưng chưa có báo cáo về động học phóng  
thích. Do vậy, trong nghiên cứu này sẽ khảo sát  
ảnh hưởng của nồng độ alginate lên động học  
phóng thích tinh dầu chanh của hệ Ca-Alginate  
và so sánh với hệ Ca-Alginate-Chitosan.  
2. Vật Liệu và Phương Pháp Nghiên Cứu  
2.1. Vật liệu  
Tinh dầu chanh có nguồn gốc chiết xuất tự  
nhiên từ vỏ chanh tươi (chanh sần, citrus auran-  
tifolia) và cung cấp bởi công ty Tinh dầu Thiên  
nhiên, Việt nam, ở địa chỉ 51/4 Phú Mỹ, Q. Bình  
Thạnh, TP.HCM. Sodium Alginate của Trung  
Quốc (Yantai Zhouji Marine Biotechnology Co.,  
Ltd., có màu trắng, ẩm 9%, protein 2,4%, độ nhớt  
cao). Chitosan, Sodium citrate, CaCl2 và hexan  
của Trung Quốc.  
Hình 1. Thiết bị đùn dịch qua kim tiêm điều khiển  
bằng động cơ servo.  
2.2. Phương pháp tiến hành  
Tạo hạt vi bọc Ca-Alginate: Dùng kỹ thuật  
đùn nhũ tương theo phương pháp dòng tia-giọt  
(Trương, 2020). Pha 100 mL Alginate trong nước  
cất có nồng độ cho trước đã hòa tan Tween 80  
theo 1% tinh dầu. Cho tinh dầu từ từ vào bình  
alginate có khuấy từ 300 v/p. Lượng tinh dầu  
cho vào được cố định ở năng suất tải lý thuyết  
(LClt = tinh dầu/(tinh dầu + Alginate + CaCl2  
+ Tween) là 22%. Hệ nhũ tương được đồng hóa  
13500 v/p bằng máy khuấy từ cơ học (Phillips  
HR1607) 3 phút.  
WeM/OhM)  
Khi WeM/OhM  
ln(WeM/OhM) - 7,265  
>
7,53: Hopt  
=
6,42  
Trong đó, (OhM) và (WeM) tính theo các công  
thức (1) và (2).  
νρ  
OhM  
=
(1)  
1
2
(ρdTδ)  
V20ρdT  
WeM  
=
(2)  
δ
Bơm nhũ tương Alginate-tinh dầu vào bình 250  
mL chứa CaCl2 0,5% (15 mM) bằng kim tiêm có  
kích thước 0,26/0,51 mm (ID/OD) với lưu lượng  
điều khiển bằng động cơ servo sao cho đầu kim  
tạo ra dòng tia và hình thành giọt nhờ xung động  
(thiết bị của đề tài cấp Bộ B2018-NLS13 - Hình  
1). Khuấy từ dịch CaCl2 liên tục, thời gian phản  
ứng 25 phút. Cho hạt ra vợt để trên giấy thấm  
10 phút để xác định kích thước, hiệu suất vi bọc.  
Với dT là đường kính vòi (m), δ, ρ, ν lần lượt  
là sức căng bề mặt, khối lượng riêng, và độ nhớt  
động học của dịch tham khảo từ Truong & ctv.  
(2020).  
Tạo hạt vi bọc Ca-Aginate-Chitosan: Ngâm  
hạt Ca-Alginate ở trên vào 0,08% Chitosan với  
thời gian phản ứng 60 phút.  
Phân tích tinh dầu chanh bằng quang phổ: pha  
tinh dầu chanh trong hexan theo các nồng độ  
khác nhau. Để tìm bước sóng cho độ hấp thu cực  
đại, mẫu pha 0,1 g tinh dầu/10 mL hexan được  
quét ở các bước từ 290 đến 315 nm. Thiết bị sử  
dụng là máy quang phổ Hewlett Packard UV-Vis.  
Độ cao kim tối ưu (Hopt) đến bề mặt dịch  
CaCl2 được tính toán theo các phương trình sau  
(Trương, 2020):  
Khi WeM/OhM < 7,53: Hopt = 257 exp(-0,506  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(1)  
 
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
61  
Sau đó dựng đường chuẩn hấp thu tinh dầu chanh 3. Kết Quả và Thảo Luận  
ở bước sóng hấp thu cực đại.  
Chọn bước sóng và dựng đường chuẩn: Độ hấp  
thu cực đại tại 295 nm và đường chuẩn khảo sát  
trong Truong & ctv. (2020) được chọn để phân  
tích tinh dầu trong mẫu hạt vi bọc.  
Xác định hiệu suất vi bọc (MEY): Cân 1 g hạt  
tươi (khoảng 1 g), cho vào dịch citrate 0,055 M,  
votex đến tan, cho 10 mL hexan vào và votex  
trong 3 phút. Ly tâm 6000 v/p trong 10 phút  
tách lớp, lấy hexan ở trên đo quang phổ, tính  
được lượng tinh dầu vi bọc m0. Hiệu suất vi bọc  
tính theo công thức sau, với m2 là lượng tinh dầu  
ban đầu trong nhũ tương Alginate-CaCl2.  
Ảnh hưởng của nồng độ CaCl2 lên động học  
phóng thích tinh dầu chanh: Hình 2 cho thấy ảnh  
hưởng của nồng độ CaCl2 lên động học phóng  
thích của tinh dầu chanh ở nhiệt độ thường. Nồng  
độ CaCl2 càng cao thì tinh dầu phóng thích càng  
chậm. Trong thí nghiệm này, ở CaCl2 0% tức môi  
trường nước có ý nghĩa ứng dụng trong các sản  
phẩm dạng lỏng. Ở các môi trường CaCl2 cao hơn  
cho thấy tiềm năng bảo quản hạt vi bọc sau khi  
sản xuất. Tinh dầu còn trong hạt đến 68% sau  
60 ngày bảo quản ở CaCl2 0,75%. Tương tự, tinh  
dầu còn 57% sau 90 ngày bảo quản ở CaCl2 1%.  
Trong lúc đó, ở trong môi trường nước thì sau 4  
ngày tinh dầu còn 66%.  
MEY(%) = m0/m2 × 100  
(3)  
Hàm lượng dầu tương đối (AR): Hàm lượng  
dầu tương đối tính theo công thức (4) được khảo  
sát theo thời gian ngâm hạt vi bọc trong môi  
trường nghiên cứu. Trong đó m0(t) là lượng tinh  
dầu vi bọc trong hạt tại thời điểm t.  
AR = m0(t)/m2  
(4)  
Thí nghiệm phóng thích: Động học phóng thích  
Áp dụng mô hình phóng thích tinh dầu bậc 1  
được nghiên cứu trong môi trường bảo quản hạt như phương trình (5), trong đó A là hàm lượng  
(dịch CaCl2) ở nhiệt độ phòng và môi trường ứng tinh dầu ở trong hạt tại thời điểm t, và k là động  
dụng là nước ở các nhiệt độ 45oC, 60oC và 75oC học phóng thích, từ đó suy ra hàm lượng tinh  
để từ đó suy rộng kết quả cho các nhiệt độ thấp dầu A tại thời điểm t theo hàm lượng tinh dầu  
hơn và cao hơn, dự kiến ứng dụng trong các điều ban đầu (Ao) trong hạt vi bọc theo (6), hoặc hàm  
kiện chế biến (nấu, hấp, sấy, xử lý nhiệt) và bảo lượng dầu tương đối AR = A/Ao (7), với k cho  
quản sản phẩm. Thí nghiệm bảo quản hạt vi bọc trên Bảng 1.  
ở nhiệt độ phòng tiến hành trong thời gian dài  
d(A)/dt = -kA  
(5)  
đến 90 ngày trên một số dịch có nồng độ CaCl2  
khác nhau. Thí nghiệm phóng thích ở nhiệt độ 45  
- 75oC thực hiện trong 1 tuần để rút ngắn thời  
gian khảo sát nhằm có kết quả nhanh. Có các thí  
nghiệm sau đây.  
ln(A) = -kt + ln(Ao)  
ln(AR) = -kt  
(6)  
(7)  
Ảnh hưởng của nồng độ CaCl2 lên sự phóng  
thích tinh dầu của hệ Ca-Alginate: Cố định nồng  
độ alginate 1,5%, thay đổi nồng độ CaCl2 từ 0%  
đến 1%, nhiệt độ môi trường.  
Sự giảm tốc độ phóng thích thể hiện bằng sự  
giảm hằng số động học k khi tăng nồng độ CaCl2  
như ở Bảng 1. Mặc dầu sự tương quan chưa chặt  
chẽ, nhưng độ dốc tương đối có xu hướng giảm  
liên tục khi tăng nồng độ CaCl2.  
Ảnh hưởng của nồng độ alginate và nhiệt độ  
nước lên sự phóng thích tinh dầu của hệ Ca-  
Alginate: thay đổi nồng độ alginate 2% - 3%.  
Nhiệt độ nước 45oC, 60oC và 75oC.  
Bảng 1. Hằng số động học k ở các nồng độ CaCl2  
khác nhau  
So sánh hệ Ca-Alginate và Ca-Alginate-  
Chitosan: Cố định nồng độ alginate 2,5%, dịch  
CaCl2 1%, nhiệt độ môi trường.  
CaCl2 0%  
k
0,25% 0,5% 0,75%  
0,091 0,035 0,008 0,007 0,006  
1%  
2.3. Phân tích thống kê  
Ảnh hưởng nồng độ alginate lên động học  
phóng thích tinh dầu chanh trong môi trường  
nước ở nhiệt độ 45oC - 75oC: Hiệu suất vi bọc  
tinh dầu chanh tăng dần (79 - 86%) khi nồng độ  
Phân tích hồi qui bằng phần mềm Excel, phân  
tích ANOVA bằng phần mềm Statgraphics cen-  
turion v15.1.  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(1)  
 
62  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
Hình 2. Ảnh hưởng của nồng độ CaCl2 lên động học phóng thích tinh dầu chanh.  
Bảng 2. Sự phóng thích tinh dầu tương đối ở các nồng độ alginate khác nhau trong  
môi trường nhiệt độ nước khác nhau  
45oC  
2,50% 3%  
60oC  
2% 2,50% 3%  
75oC  
2% 2,50% 3%  
Ngày  
2%  
1
0,95  
0
1
2
3
4
7
1
1
1
1
0,96  
1
1
1
0,96  
0,92  
1
0,96  
0,91  
0,96  
0,96  
0,86  
0,98 0,93  
0,97 0,92  
0,84  
0,92 0,93  
0,81  
0,89 0,93  
0,86 0,91  
0,89  
0,93  
0,91  
alginate tăng dần từ 2% - 3%. Ở 45oC, tinh dầu  
phóng thích 20%, 15% và 12% cho các nồng độ 2;  
2,5 và 3% sau 7 ngày bảo quản trong môi trường  
nước ở 45oC (Hình 3). Sự phóng thích tương đối  
của tinh dầu so với ban đầu cho trên Bảng 2. Kết  
quả cho thấy sau 1 ngày, nồng độ 3% alginate còn  
giữ 96 - 98% trong khoảng nhiệt độ 45o - 75oC.  
thì hầu như tinh dầu không mất đi. Nồng độ algi-  
nate càng cao thì tốc độ phóng thích càng giảm.  
Kết quả hồi qui ở các Hình 4, 5 và 6 cho thấy  
đa số tương quan khá chặt với hệ số R2 trên 0,98  
ngoại trừ trường hợp ở 60oC có lẽ do sự biến động  
của số liệu lúc phân tích mẫu.  
Tương tự như vậy là 96% và 92 - 95% cho al-  
ginate 2,5% và 2%. Điều này chứng tỏ rằng, khi  
sử dụng hạt vi bọc trong các sản phẩm có quá  
trình thanh trùng ở khoảng nhiệt độ 45o - 75oC  
Bảng 3 và 4 cho thấy nhiệt độ càng cao thì hệ  
số k càng lớn tức phóng thích càng nhanh. Điều  
này cũng tương tự kết quả của Peng & ctv. (2010)  
ở nhiệt độ khác nhau. Ở nhiệt độ 45oC cần 23 - 40  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(1)  
   
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
63  
Hình 3. Sự phóng thích tinh dầu sau 7 ngày trong nước ở nhiệt độ 45oC thể hiện qua độ giảm hiệu suất vi  
bọc. Các kí tự khác nhau thể hiện sự khác biệt thống kê (P < 0,05).  
ngày mới giảm 50% nồng độ tinh dầu trong hạt ginate rất khó đạt 92%, trong lúc ở 2,5% alginate  
ứng với alginate 2 - 3%. Động học phóng thích của có thể đạt 95%. Như vậy có thể chọn alginate 2  
alginate 2,5% và 3% hầu như không khác nhau ở - 2,5% là nồng độ tối ưu khi muốn bảo quản lâu  
nhiệt độ 60o - 75oC.  
dài và phóng thích chậm, hoặc trong điều kiện  
chế biến nhiệt độ cao.  
Bảng 3. Tổng kết động học phóng thích k của tinh  
dầu chanh trong hạt vi bọc  
So sánh hệ Ca-Alginate và Ca-Alginate-  
Chitosan: Định hướng trong sản xuất công  
nghiệp, hạt vi bọc sẽ được sản xuất hàng loạt  
và bảo quản trong môi trường CaCl2 ở nhiệt độ  
phòng (25 - 30oC) trước khi được sử dụng trong  
các sản phẩm cụ thể. Khi bảo quản trong môi  
trường CaCl2 1%, sự phóng thích tinh dầu sẽ  
chậm hơn (Hình 7).  
Nồng độ alginate, %  
o
Nhiệt độ nước, C  
2,0  
2,5  
3,0  
45  
60  
75  
0,0298 0,0213 0,0172  
0,0351 0,0220 0,0223  
0,0855 0,0425 0,0481  
Với hệ Ca-Alginate, từ ngày 0 đến ngày 3 hàm  
lượng tinh dầu phóng thích ra nhiều (khoảng 6%  
so với ban đầu) do lớp vỏ vi bọc chưa dày vì thời  
gian phản ứng giữa Aglinate và CaCl2 chỉ khởi  
đầu 25 phút và kéo dài 3 ngày. Bắt đầu từ ngày 3  
đến ngày 45 thì lớp vỏ vi bọc đủ dày để ngăn cản  
sự phóng thích tinh dầu vì vậy hàm lượng tinh  
dầu giảm nhẹ không đáng kể (rõ rệt nhất là từ  
ngày 30 đến ngày 45 hàm lượng tinh dầu giảm  
khoảng 1%). Sau 45 ngày, hàm lượng tinh dầu  
chỉ giảm 10% so với ban đầu. Với hệ Ca-alginate-  
Bảng 4. Thời gian (ngày) giảm 50% tinh dầu (t50  
của hạt vi bọc khi bảo quản trong nước tính từ các  
mô hình hồi qui  
)
Nồng độ alginate, %  
o
Nhiệt độ nước, C  
2,0  
2,5  
3,0  
45  
60  
75  
23,3 32,5  
19,8 31,6  
8,1 16,3  
40,3  
31,1  
14,4  
Theo Trương (2020), khi sản xuất hạt vi bọc  
theo phương pháp dòng tia-giọt, độ cầu ở 3% al-  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(1)  
     
64  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
Hình 4. Ảnh hưởng của nồng độ alginate lên động học phóng thích tinh dầu ở 45oC.  
Hình 5. Ảnh hưởng của nồng độ alginate lên động học phóng thích tinh dầu ở 60oC.  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(1)  
   
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
65  
Hình 6. Ảnh hưởng của nồng độ alginate lên động học phóng thích tinh dầu ở 75oC.  
Hình 7. So sánh độ phóng thích tinh dầu chanh của hạt vi bọc Ca-alginate và Ca-alginate-Chitosan của  
alginate 2,5% ở trong môi trường CaCl2 1%.  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(1)  
   
66  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
Chitosan thì để giảm 6% cần tới 15 ngày nói lên Fundueanu, G., Nastruzzi, C., Carpov, A., Desbrieres, J.,  
& Rinaudo, M. (1999). Physico-chemical characteriza-  
tion of Ca-alginate microparticles produced with dif-  
ferent methods. Biomaterials 20(15), 1427-35.  
tốc độ phóng thích chậm hơn hệ Ca-alginate do  
lớp Chitosan. Hai hệ vi bọc Ca-alginate và Ca-  
alginate-Chitosan có khác nhau về hiệu suất vi  
bọc và độ phóng thích ở giai đoạn 15 ngày đầu  
nhưng không khác biệt sau thời gian dài. Điều này  
chứng tỏ nếu bảo quản trong môi trường CaCl2  
Kausadikar, S., Ashish, D. G., & Jyotsna, W. (2015). Mi-  
croencapsulation of lemon oil by spray drying and its  
application in flavour tea. Advances in Applied Science  
Research 6(4), 69-78.  
1% thì liên kết Ca-Alginate chiếm ưu thế nên ảnh  
hưởng của Chitosan không đáng kể. Tuy nhiên,  
thí nghiệm chỉ thử ở 0,08% Chitosan với thời gian  
Martins, I. M., Maria, F. B., Manuel, C., & Alírio, E.  
R. (2014). Microencapsulation of essential oils with  
biodegradable polymeric carriers for cosmetic applica-  
phản ứng 60 phút nên không thấy ảnh hưởng của  
tions. Chemical Engineering Journal 245, 191-200.  
Chitosan ở thời gian bảo quản trên 45 ngày. Cần  
thí nghiệm thêm với các nồng độ và thời gian  
Park, S. J., Shin, Y. S., & Lee, J. R. (2001). Prepara-  
tion and characterization of microcapsules containing  
khác.  
lemon oil. Journal of Colloid and Interface Science  
241(2), 502-508.  
4. Kết Luận  
Peng, H., Xiong, H., Li, J., Xie, M., Liu,Y., Bai,C., &  
Chen, L. (2010). Vanillin cross-linked chitosan mi-  
crospheres for controlled release of resveratrol. Food  
Chemistry 121(1), 23-28.  
Tinh dầu chanh vi bọc bằng phương pháp ion-  
gel tạo hạt bằng kỹ thuật dòng tia-giọt có độ  
phóng thích trong nước tùy thuộc nồng độ al-  
ginate và nhiệt độ nước. Alginate được sử dụng  
làm polymer có ion âm để liên kết với ion dương  
Silva, E. K., Giovani, L. Z., Angela, M., & Meireles, A.  
(2015). Ultrasound-assisted encapsulation of annatto  
seed oil: Retention and release of a bioactive compound  
with functional activities. Food Research International  
78, 159-168.  
của calcium. Nồng độ CaCl2 có ảnh hưởng đến  
sự phóng thích tinh dầu chanh. Ở nhiệt độ 45oC,  
Soliman, E. A., El-Moghazy, A. Y., Mohy El-Din, M. S.,  
sự phóng thích tinh dầu trong nước phụ thuộc  
& Massoud, A. M. (2013). Microencapsulation of es-  
sential oils within alginate: Formulation and in vitro  
evaluation of antifungal activity. Journal of Encapsu-  
lation and Adsorption Sciences 3(1), 48-55.  
rõ ràng vào nồng độ Alginate từ 2 đến 3%. Tuy  
nhiên, không có sự khác biệt của sự phóng thích  
tinh dầu giữa 2 nồng độ alginate 2,5% và 3% khi  
nhiệt độ trên 60oC. Chitosan có điện tích dương  
Truong, V. (2020). Effectiveness of liquid jet breakup and  
cũng tham gia liên kết chéo với alginate làm giảm  
độ phóng thích tinh dầu so với chỉ có liên kết  
Ca-alginate. Khi bảo quản trong môi trường dịch  
CaCl2, sự liên kết Ca-Alginate tiếp tục xảy ra và  
jet cutting systems used in microencapsulation pro-  
cesses of cosmetics, pharmaceuticals and foods (Re-  
port of Project B2018-NLS13 funded by the Ministry  
of Education and Training of Vietnam). Nong Lam  
University, Ho Chi Minh City, Vietnam.  
chiếm ưu thế so với liên kết Alginate-Chitosan.  
Truong, V., Nguyen, P. T., Ta, P. N. M., Nguyen, P. T., &  
Pham, N. T. C. (2020). Effects of type and concentra-  
tion of alginate on microencapsulation characteristics  
Tài Liệu Tham Khảo (References)  
of lime essential oil (Citrus aurantifolia) produced by  
Anitha, K., Ramachandran, T., Rajendran, R., & Maha-  
lakshmi, M. (2011). Microencapsulation of lemon grass  
oil for mosquito repellent finishes in polyester textiles.  
Elixir International Journal 40, 5196-5200.  
extrusion-dripping methods. The Journal of Agricul-  
ture and Development 19(1), 65-76.  
Weinbreck, F., Minor, M., & De Kruif, C. G. (2004). Mi-  
croencapsulation of oils using whey protein/gum ara-  
bic coacervates. Journal of Microencapsulation 21(6),  
667-679.  
Douglas, K. L.,  
& Tabrizian, M. (2005). Effect of  
experimental parameters on the formation of algi-  
nate–chitosan nanoparticles and evaluation of their  
potential application as DNA carrier. Journal of  
Biomaterials Science, Polymer Edition 16(1), 43-56.  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(1)  
 
pdf 9 trang yennguyen 10500 Free
Bạn đang xem tài liệu "Release kinetics of lime essential oil (Citrus aurantifolia) from beads microencapsulated through ion-gel method", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfrelease_kinetics_of_lime_essential_oil_citrus_aurantifolia_f.pdf