Phủ định và tiêu điểm trong tiếng Việt

Kỷ yếu điện tử Hội thảo Quốc gia Nghiên cứu liên ngành về Ngôn ngữ và Giảng dạy  
ngôn ngữ lần thứ VI  
PHỦ ĐỊNH VÀ TIÊU ĐIỂM TRONG TIẾNG VIỆT  
Nguyễn Thuỳ Nƣơng  
Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh  
Tóm tắt  
Bài báo nghiên cứu về hiện tƣợng phủ định và tiêu điểm cùng sự tƣơng tác của chúng  
trong ngữ liệu tự nhiên của tiếng Việt. Qua tìm hiểu những mẫu câu phủ định trong thực  
tế, chúng tôi tập trung làm rõ sự phân biệt giữa phủ định logic và phủ định siêu ngôn ngữ;  
trình bày sự kết hợp giữa phủ định và tiêu điểm trên bình diện ngữ dụng học. Bên cạnh  
đó, chúng tôi cũng phân tích các chỉ tố đánh dấu tiêu điểm phủ định, phạm vi tác động  
của một số tác tử phiếm định trỏ tiêu điểm trong câu phủ định tiếng Việt (nhƣ ―đâu‖, ―đâu  
có‖, ―đâu còn‖, ―không‖, ―không phải‖,…). Từ các phát hiện trong nghiên cứu, chúng tôi  
đúc kết một số vấn đề đặc trƣng của hiện tƣợng phủ định và tiêu điểm trong tiếng Việt  
trên các bình diện cú pháp và ngữ dụng.  
Từ khóa  
phủ định logic, phủ định siêu ngôn ngữ, tiêu điểm, chỉ tố tiêu điểm phủ định, phạm vi tác  
động  
1. Mở đầu  
Trong logic, phủ định là một thao tác cơ bản, để nhờ đó mà từ một phán đoán này ngƣời ta sẽ  
tạo ra một phán đoán mới sao cho nếu phán đoán xuất phát là chân lí thì sự phủ định ấy sai,  
còn nếu phán đoán xuất phát sai thì sự phủ định là chân lí. Sự phủ định phán đoán đƣợc xác  
định trên một quy tắc duy nhất: nếu phán đoán (P) là đúng thì phán đoán (~P) là sai và ngƣợc  
lại.  
Trong ngôn ngữ, phủ định và khẳng định là các hành vi nhận thức tình thái của con  
ngƣời đối với hiện thực cũng nhƣ đối với những điều đƣợc nói ra. Chính vì thế, phủ định  
đƣợc coi là một hiện tƣợng ngôn ngữ phổ quát trên thế giới. Phủ định trong ngôn ngữ đƣợc dễ  
dàng xác định thông qua các phƣơng tiện biểu đạt là những từ/cụm từ mang nghĩa phủ định.  
Những phƣơng tiện này đƣợc gọi là tác tử phủ định.  
Trong khi đó, tiêu điểm thông tin (focus) là một khái niệm quan trọng thuộc địa hạt lý  
thuyết thông tin/ phân đoạn thực tại câu trên bình diện ngữ dụng học. Tiêu điểm là phần thông  
tin đƣợc đánh dấu là phần thông tin điểm nhấn hoặc phần thông tin mới trong câu.  
Đề tài này đƣợc thực hiện nhằm mục đích tìm hiểu sự kết hợp giữa phủ định và tiêu  
điểm trong một số khuôn câu tiếng Việt khi hành chức trên bình diện cú pháp và ngữ dụng.  
Từ đó, xem xét các phƣơng diện tƣơng tác giữa phủ định và tiêu điểm trong các câu phủ định,  
tầm tác động, và các phƣơng diện hành chức ngữ dụng của chúng.  
Nghiên cứu này tập trung tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi:  
(a) Phủ định và tiêu điểm kết hợp nhƣ thế nào trong các câu phủ định tiếng Việt?  
Các tác tử/chỉ tố đặc thù nào tham gia vào quá trình kết hợp giữa phủ định và tiêu điểm  
265  
Kỷ yếu điện tử Hội thảo Quốc gia Nghiên cứu liên ngành về Ngôn ngữ và Giảng dạy  
ngôn ngữ lần thứ VI  
2. Cơ sở lý luận  
2.1. Phủ định và phủ định siêu ngôn ngữ  
Phủ định là một phạm trù cơ bản của tƣ duy và của logic hình thức, đƣợc dùng với tƣ  
cách là phạm trù đối lập với khẳng định. Vì thế, từ thời Aristotle, đây là một đối tƣợng nghiên  
cứu của cả logic học và ngôn ngữ học. Nguyễn Đức Dân (1987) có bàn về hiện tƣợng phủ  
định trong logic và phủ định trong ngôn ngữ. Theo đó, ông thuật lại sự đối lập giữa phán đoán  
khẳng định và phán đoán phủ định là trung tâm trong logic cổ điển, hai phán đoán này có mối  
quan hệ chặt chẽ về giá trị chân lí. Theo nhận thức luận của Aristotle, con ngƣời nhận thức thế  
giới và biểu hiện nó qua phán đoán khẳng định P và phán đoán phủ định nó ―không P‖ luôn  
trái ngƣợc nhau về giá trị chân lí. Từ phạm trù của tƣ duy và logic, các nhà ngôn ngữ học đã  
nhanh chóng nhận ra vai trò của phán đoán phủ định và câu phủ định trong hệ thống ngôn  
ngữ. Công trình tiêu biểu của Jesperson (1917, 1924), công trình của Panfilov (1982) đều là  
những nghiên cứu cổ điển về câu phủ định trên thế giới. Trong Việt ngữ học, các công trình  
ngữ pháp đều đề cập đến câu phủ định ở mức độ khác nhau nhƣ Trần Trọng Kim (1939), Lê  
Văn Lý (1948), Hoàng Tuệ (1962), Trƣơng Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963), Nguyễn  
Kim Thản (1964), Hoàng Trọng Phiến (1980),…  
Khái niệm ―phủ định siêu ngôn ngữ‖ đƣợc đề xuất đầu tiên bởi Ducrot (1972, 1973) khi  
ông phân biệt phủ định miêu tả và phủ định siêu ngôn ngữ. Sau đó, Horn (1985, 1989) đã phát  
triển nghiên cứu về phủ định trong ngôn ngữ tự nhiên và ông cho rằng có thể chia nhỏ phủ  
định miêu tả và phủ định siêu ngôn ngữ. Trƣờng phái nghiên cứu của Horn đã phân tích sâu  
hiện tƣợng phủ định siêu ngôn ngữ trên nhiều khía cạnh.  
Trọng tâm trong lí thuyết của Horn là ý niệm cho rằng các tiểu từ phủ định không chỉ  
luôn lấp đầy chức năng tƣơng tự nhau trong sử dụng ngôn ngữ. Ông xác nhận với cùng một ý  
tƣởng, trong một hay vài hình thái khác có đề xuất bởi Ducrot (1972) Grice (1967) Horn  
(1989, tr. 377).  
Phủ định siêu ngôn ngữ chuẩn thể hiện ―một phát ngôn phủ định hình thức mà thƣờng  
đƣợc dùng để phản đối lại phát ngôn trƣớc đó trên bất cứ cơ sở lý lẽ gì bao gồm cả cách nó  
đƣợc phát âm‖ (Horn 1989, 2001, tr. 374). Nó hiệu chỉnh phần phát âm của từ ngữ, bản chất/  
cấu tạo hình thái học của nó (cấu tạo) nhƣ (b), tính ngôn ngữ học xã hội (a, c), tác động ngữ  
dụng (d, e).  
a. They don‘t have kids, they have children.  
b. She‘s not interesting, she‘s interested.  
c. I don‘t want to buy pants, but trousers.  
d. He isn‘t a proto-fascist demagogue, he‘s a POTUS.  
e. She hasn‘t seen many of Murnau‘s films, she‘s seen all of them.  
Hiện tƣợng này hiện nay đang đƣợc các công trình quốc tế xem xét ở nhiều khía cạnh  
khác nhau, từ cú pháp, ngữ nghĩa, phạm vi tác động, hành vi ngôn ngữ, mơ hồ ngữ dụng,…  
Phủ định trong trƣờng hợp này là một công cụ siêu ngôn ngữ rất đặc thù.  
266  
Kỷ yếu điện tử Hội thảo Quốc gia Nghiên cứu liên ngành về Ngôn ngữ và Giảng dạy  
ngôn ngữ lần thứ VI  
2.2. Tiêu điểm, tác tử tiêu điểm thông tin  
Thuật ngữ Tiêu điểm (Focus) cùng với Cơ sở/Nền (Background) - Cái cho sẵn  
(Givenness) và Đề (Topic) là những định nghĩa cơ bản trong phạm trù IS (Information  
Structure). Tiêu điểm đƣợc coi là trung tâm đầu mối của một loạt các hiện tƣợng ngữ nghĩa và  
ngữ dụng trong lí thuyết IS. Và một hiểu biết vững vàng về Tiêu điểm sẽ chỉ dẫn tới những  
thấu hiểu sâu sắc về các địa hạt phức tạp trong IS. Jackendoff (1972, tr. 230) đã cho rằng Tiêu  
điểm thông tin của câu là ―phần thông tin trong câu mà người nói giả định rằng nó không  
được người nói và người nghe cùng chia sẻ‖, hay cũng chính là phần thông tin chênh lệch  
giữa ngƣời cung cấp và ngƣời tiếp nhận.  
Tác tử tiêu điểm thông tin là phạm trù thuộc về lí thuyết Cấu trúc thông tin  
(Information Structure - IS) hay Phân đoạn thực tại câu - còn gọi là ―sự phân đoạn thực tại  
của câu‖ (actual division of the sentence). Với định hƣớng khảo cứu các tác tử tham gia đánh  
dấu cấu trúc tiêu điểm và cấu trúc thông tin của câu trên cứ liệu ngôn ngữ đơn lập điển hình là  
tiếng Việt, nhà ngữ học ngƣời Đức - Daniel Hole (2008, 2013) đã tập trung làm rõ hệ thống  
tiểu từ tiêu điểm (focus particle) và tiểu từ nền (background particle) với ý nghĩa là các ―tiểu  
từ đánh dấu tiêu điểm‖ (focus sensitive particle/operator) – (FSP/FSO).  
3. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu này đƣợc thực hiện với phƣơng pháp miêu tả và phƣơng pháp phân tích;  
nhằm làm rõ đặc điểm lý thuyết về cấu trúc thông tin của tiêu điểm và phủ định trong các mẫu  
cú pháp cụ thể. Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp miêu tả trong bƣớc đầu tiên là quan sát các  
khuôn mẫu câu phủ định khác nhau trong tiếng Việt. Tiếp theo đó, chúng tôi sử dụng phƣơng  
pháp phân tích trong bƣớc nghiên cứu về các đặc trƣng cú pháp, ngữ nghĩa – logic trong các  
mẫu câu tìm đƣợc. Bài viết cũng sử dụng một số thủ pháp phân tích cú pháp nhƣ tỉnh lƣợc,  
chuyển vị, thay thế, cải biến,… khi diễn giải các mô hình câu phủ định nhằm làm rõ tầm tác  
động của các tác tử phủ định tại từng vị trí cú pháp. Trong đó, chúng tôi có sử dụng thủ pháp  
phóng chiếu phủ định (the Neg-projection) là một thủ pháp cú pháp đặc thù, cũng là một áp  
dụng từ phóng chiếu tham tố (the projection arguments) trong phân tích cú pháp – ngữ nghĩa  
trên thế giới.  
Nguồn ngữ liệu mà chúng tôi tìm kiếm là ngữ liệu ngôn ngữ tự nhiên trong tiếng Việt,  
chúng tồn tại trong các văn bản nhƣ khẩu ngữ, tác phẩm văn học, diễn ngôn quảng cáo, truyền  
hình,… từ đó đảm bảo tính khách quan khi phân tích các chức năng ngôn ngữ học.  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Phủ định logic và phủ định siêu ngôn ngữ  
Khi bàn về hiện tƣợng phổ quát phủ định, Horn (1989) đã phân biệt hai hiện tƣợng gọi là  
―phủ định logic‖ và ―phủ định siêu ngôn ngữ‖ trong công trình A nature history of negation.  
Chúng ta có thể xem xét hai ví dụ sau đây:  
(4.1.1) Tính tình cô ấy không (+neg) XẤU_Foc. Mà là TỐT_Foc.  
(4.1.2) Tính tình cô ấy không (+neg) XẤU_Foc. Mà là RẤT XẤU_Foc.  
267  
Kỷ yếu điện tử Hội thảo Quốc gia Nghiên cứu liên ngành về Ngôn ngữ và Giảng dạy  
ngôn ngữ lần thứ VI  
Có thể nói cả (4.1.1) và (4.1.2) đều có sự tƣơng phản đối với miêu tả ―tính tình cô ấy  
không xấu‖, tuy nhiên chức năng của chúng lại khác nhau. Trong (4.1.1), sự phủ định là sự  
bác bỏ chân trị của ―tính tình cô ấy xấu‖, biểu đạt tính tình của cô ấy thực ra là trái ngƣợc với  
―xấu‖. Đây là loại đƣợc gọi là ―phủ định logic‖. Trong khi đó, (4.1.2) lại sử dụng phủ định để  
bác bỏ ẩn ý của việc sử dụng từ ―xấu‖ với thang độ ngữ nghĩa của nó. Phân tích theo nguyên  
tắc cộng tác hội thoại của Grice (1975), ta thấy chúng ta khi xây dựng cuộc thoại thì cần làm  
rõ lƣợng thông tin, nếu nhƣ từ đƣợc miêu tả ―rất xấu‖ có lƣợng thông tin tốt hơn thì việc dùng  
từ ―xấu‖ có lƣợng thông tin ít hơn sẽ không đƣợc sử dụng. Hơn nữa xét về mặt hành động  
ngôn từ, loại (4.1.2) có thể xem là một hành vi hiệu chỉnh về cấu trúc thông tin của câu. Kiểu  
loại phủ định nhƣ (4.1.2) ta gọi là ―phủ định siêu ngôn ngữ‖.  
Bản chất ngữ nghĩa của phủ định là một vấn đề rất cần đƣợc thảo luận, khi mà cặp  
lƣỡng phân ―khẳng định - phủ định‖ trong logic còn có thể chuyển tải một ý nghĩa khác, ví dụ  
nhƣ là các yếu tố của cặp ―đây là phía tây – đây không phải là phía tây‖ thì không đối lập với  
cách diễn đạt tƣơng tự là ―đây là phía tây – đây là phía đông‖. Vấn đề này cũng là vấn đề  
đƣợc đặt ra để giải quyết từ thời Aristotle khi ông phác thảo hình vuông trong tam đoạn luận  
của sự trái nghĩa và sự mâu thuẫn (1938, 1939). Tam đoạn luận minh hoạ cho hệ thống đối lập  
ngữ nghĩa đã đƣợc ghi lại rất thành công bởi Horn (1989) khi ông đề cập tới ngữ nghĩa của  
phủ định, và sự bất đối xứng cú pháp trong tƣơng quan với chức năng ngữ dụng học của  
chúng. Ở công trình này, ông loại bỏ tƣ cách ―luật phủ định kép‖ theo ý một phủ định của một  
phủ định thì cân bằng với một thành phần khẳng định tƣơng ứng. Vì thế, xét ở bình diện ngữ  
dụng, phủ định kép ―tôi không phải không thích ăn phở‖ không cân bằng chính xác với ―tôi  
thích ăn phở‖. Đối lập với cách diễn đạt ―tôi không phải không thích ăn phở‖ thực ra có nhiều  
cách phức tạp hơn là giải mã đối lập của một phủ định đơn giản là ―tôi không thích‖, ngƣời  
nghe có thể hiểu là ―tôi thích‖. Cũng nhƣ thế, phủ định kép ―I don‘t refuse‖ (tôi không từ  
chối) không có giống với cách nói ―I want‖ (tôi muốn); trong khi câu phủ định ―tôi không  
muốn‖ lại có thể tƣơng đƣơng nhiều hơn với ―tôi từ chối‖ (Horn 1989).  
Horn (1989) cũng đã trình bày sâu sắc về ‗luật phi mâu thuẫn‘ (law of non-contradiction)  
(nếu P là đúng thì (not –P) là sai) và luật triệt tam/ luật bài trung, đề cập tới nguyên tắc logic  
phƣơng Tây là mệnh đề chỉ hoặc đúng hoặc sai và rằng không có gì/ không có trung gian - ở  
giữa chúng. Theo quan điểm này, một ngữ đoạn nhƣ ―Anh ấy vui và anh ấy không vui‖ hoặc  
―Anh ấy hoặc là vui hoặc là không vui‖ sẽ không thể đối lập; mặc dù chúng ta có thể hoàn  
toàn sử dụng những câu này và hiểu đƣợc chúng. Kết quả của luật logic là mặc dù nội dung  
phủ định có thể không bao giờ khoả lấp hoàn toàn các trƣờng hợp; thực tế thì địa hạt và số  
lƣợng đơn vị ngôn ngữ học hoạt động trong một câu phủ định mở rộng độ phức tạp về nghĩa  
của nó và các khuôn cú pháp (vấn đề lƣợng từ, thang độ, phủ định kép, những vấn đề của  
phạm vi tác động và tiêu điểm hoá). Sự khó xử của luật triệt tam đƣợc thể hiện rõ khi xét  
nhiều ngữ cảnh sử dụng phủ định trong diễn ngôn. Điều đó khiến chúng tôi chú ý tới hiện  
tƣợng ―phủ định siêu ngôn ngữ‖, khi xét kĩ phủ định về mặt chức năng ngữ dụng của chúng.  
(4.1.3) Cô ấy không (+neg) có đi làm (TRỄ)_Foc. Cô ấy đi (ĐÚNG GIỜ)_Foc đó.  
268  
Kỷ yếu điện tử Hội thảo Quốc gia Nghiên cứu liên ngành về Ngôn ngữ và Giảng dạy  
ngôn ngữ lần thứ VI  
(4.1.4) Cô ấy không (+neg) có đi làm (TRỄ)_Foc. Cô ấy đi (TRỄ cả (BA TIẾNG đồng  
hồ)_Foc)_FocP.  
Chúng tôi quan sát các trƣờng hợp câu có tiêu điểm bộ phận nhƣ trên, có thể thấy cả  
trƣờng hợp phủ định logic và phủ định siêu ngôn ngữ đều có sự kết hợp đƣợc với thành tố  
đƣợc tiêu điểm hoá.  
Trong (4.1.3), phủ định đã kết hợp với thành tố đƣợc tiêu điểm hoá, và nó bác bỏ sự thật  
của sự tình ―cô ấy đi làm trễ‖, và khẳng định lại bằng vế đối lập. Ở đây, cả hai trƣờng hợp  
thành tố phủ định ―không‖ kết hợp với tiêu điểm thành phần ―trễ‖. Tuy nhiên, trƣờng hợp  
(4.1.4) là bác bỏ ngụ ý việc sử dụng từ ―trễ‖, tiêu điểm mang trọng âm câu và nó gánh vác  
chức năng siêu ngôn ngữ khi từ ―trễ‖ không đủ lƣợng thông tin mà phải hiệu chỉnh bằng ―trễ  
cả ba tiếng đồng hồ‖.  
Phủ định siêu ngôn ngữ dƣới bình diện ngữ dụng đƣợc xác định là một hành động ngôn  
từ hiệu chỉnh (corrective speech-act), trong một số hành động ngôn từ nhƣ phủ định, chất vấn,  
bác bỏ lại phát ngôn trƣớc của chúng lại có chức năng đặc thù.  
Pierre Larrivée (2018) có nhắc tới cấu trúc tƣơng phản ―Not X but Y‖ mà Horn (1989, tr.  
402) đã trình bày nhƣ là một điển hình của phủ định siêu ngôn ngữ, trong đó Y hành động  
nhƣ một trả lời tƣơng thích; chủ yếu biểu hiện bản chất siêu ngôn ngữ - đƣợc đánh dấu của  
phủ định. Horn giải thích cho trƣờng hợp câu phủ định siêu ngôn ngữ nhƣ là áp dụng tính siêu  
ngôn ngữ cho chức năng diễn giải một phát ngôn đằng trƣớc trong ngữ cảnh đã cho. Trong  
tiếng Việt, các câu phủ định siêu ngôn ngữ thƣờng chứa cấu trúc tƣơng phản ―không (phải) A  
mà (là/lại) B‖, ―không chỉ A mà còn B‖:  
(4.1.5) Em thấy anh có phiền không?  
- Không phải (PHIỀN). Mà là (RẤT PHIỀN). (Phim Hoa hồng trên ngực trái, tập 40)  
(4.1.6) Tại sao con không ăn rau?  
- Con không có KHÔNG (ĂN). Con chỉ KHÔNG (ĂN ÍT) thôi.  
(4.1.7) Ôi, chiếc bánh này to quá ạ!  
- Không chỉ (TO). Mà còn (SIÊU TO khổng lồ).  
Horn (1989) biểu thị rằng ý nghĩa miêu tả của một cú phủ định tiêu biểu dùng cho một  
đƣờng nét ngôn điệu (tone) trần thuật với trọng âm bình thƣờng và đi xuống ở đoạn cuối cùng  
(nhƣ hình ảnh 1); tại nơi mà ý nghĩa siêu ngôn ngữ có sự xuất hiện rõ ràng hơn nếu nó dùng  
cho một đƣờng nét tƣơng phản – với một trọng âm tiêu điểm trên một điểm vi phạm và một  
đoạn đi lên nhỏ tại đƣờng biên ngôn điệu (tone) (nhƣ hình ảnh 2).  
269  
Kỷ yếu điện tử Hội thảo Quốc gia Nghiên cứu liên ngành về Ngôn ngữ và Giảng dạy  
ngôn ngữ lần thứ VI  
L%  
H%  
Cô ấy không đi làm trễ  
Cô ấy không đi làm trễ  
Hình 1: Trần thuật  
Hình 2: Tƣơng phản  
4.2. Phân biệt tác tử “không” và “không phải”  
―Không phải‖ là một tác tử phủ định trong logic. Vị trí của nó là đặt trƣớc một mệnh đề.  
Trong trƣờng hợp này, ―không phải‖ là yếu tố tác tử siêu ngôn ngữ.  
Còn ―không‖ là tác tử phủ định ngôn ngữ, vị trí của nó đặt trƣớc một từ. Ví dụ:  
(4.2.1) Có quan hệ đồng nhất ―A là B‖. Khi cần phủ định nó thì sử dụng (1) ―Không phải  
A là B‖, nhƣng không thể sử dụng ―*Không A là B‖.  
(4.2.2) Có sự tình S = ―Ba mua chiếc áo này ở Huế‖. Phủ định nó thì sử dụng (2) ―Không  
phải Ba mua chiếc áo này ở Huế‖, nhƣng không thể sử dụng ―*Không Ba mua chiếc áo này ở  
Huế‖.  
Nhƣng ―không phải‖ cũng là một cụm từ tiếng Việt, với cƣơng vị này ta thấy có sự  
chuyển đổi vị trí để tạo ra điểm nhấn tiêu điểm (focus) nhƣ sau:  
(4.2.3) Không phải A là B =>A không phải là B. Lúc này A trở thành tiêu điểm (focus).  
(4.2.4) Không phải NP – VP =>NP – không phải – VP. Lúc này NP (Noun Phrase) trở  
thành tiêu điểm (focus).  
Không phải Ba mua chiếc áo này ở Huế => BA không phải mua chiếc áo này ở Huế.  
Lúc này BA trở thành tiêu điểm. Và những từ còn lại (―mua‖, ―chiếc áo này‖, ―ở Huế‖) không  
thể là tiêu điểm đƣợc nữa. Chúng có thể đƣợc hiểu theo cách diễn giải phạm vi tác động ―ràng  
buộc‖ mà chúng tôi sẽ trình bày dƣới đây.  
Bình thƣờng chúng ta có thể sử dụng ―Ba không mua chiếc áo này ở Huế‖ chứ không nói  
―Ba không phải mua chiếc áo này ở Huế‖, trừ phi muốn nhấn mạnh vào từ Ba, lúc này (BA)  
là một tiêu điểm hẹp.  
(4.2.5) Không có kính không phải vì xe không có kính/ Bom giật bom rung kính vỡ đi  
rồi. (Thơ Phạm Tiến Duật)  
Trong trƣờng hợp này, ―không có kính‖ trở thành tiêu điểm, và những từ còn lại không thể  
thành điểm nhấn đƣợc nữa. Trƣờng hợp này cho thấy tiêu điểm sau ―không phải‖ có thể là cụm  
từ.  
4.3. Phủ định, tiêu điểm và phạm vi tác động  
Với bài viết này, chúng tôi quan tâm là làm rõ vấn đề sự tƣơng tác giữa phủ định và  
thành tố tiêu điểm, kết hợp của tiêu điểm (Association with Focus) trong tiếng Việt. Khái  
270  
Kỷ yếu điện tử Hội thảo Quốc gia Nghiên cứu liên ngành về Ngôn ngữ và Giảng dạy  
ngôn ngữ lần thứ VI  
niệm ―sự tương tác phạm vi‖ (scope interaction) hay ―sự mơ hồ phạm vi‖ (scope ambuiguity)  
là những điều đƣợc nhắc tới khi bàn về mối quan hệ giữa phủ định và tiêu điểm.  
Trong công trình Negation, Matti Miestamo (2017) nhận định rằng các ngôn ngữ có  
nhiều cách khác nhau để biểu diễn phạm vi tác động của phủ định, và giới hạn nó với những  
thành tố đặc thù. Ông cho rằng điều này liên hệ rất gần với đánh dấu tiêu điểm trong một  
ngôn ngữ: phủ định có xu hƣớng tƣơng tác với tiêu điểm, và khi một thành tố đƣợc tiêu điểm  
hoá xuất hiện trong một sự phủ định, kết quả là thƣờng có một phạm vi hẹp với thành tố đƣợc  
tiêu điểm hoá đơn độc trong phạm vi của phủ định. Sự kết hợp giữa phủ định và tiêu điểm có  
nhiều vấn đề nảy sinh: trong tiêu điểm lệ thuộc vào vị trí phủ định, phủ định tố đóng tại vị trí  
có liên quan tới thành tố trong tiểu điểm, trong khi đó trong vị từ lệ thuộc vị trí phủ định, phủ  
định tố đƣợc đặt ở vị trí có liên quan tới vị từ và tiêu điểm đƣợc biểu hiện theo những cách  
khác, chẳng hạn nhƣ với sự điệu tính hay các trợ từ tiêu điểm.  
Khi bàn đến vấn đề kết hợp của tiêu điểm trong câu phủ định, chúng tôi chú ý tới hiện  
tƣợng thành tố tiêu điểm sẽ mơ hồ (ambiguity) với phủ định, đây cũng là điều mà Jackendoff  
(1972) đã từng đề cập tới.  
Xem xét câu phủ định:  
(4.3.1) Không phải tôi mua chiếc xe này ở Huế.  
(4.3.1a) Không phải tôi (mua chiếc xe này ở Huế)_FocP.  
(4.3.1b) Không phải tôi (MUA)_Foc chiếc xe này ở Huế.  
(4.3.1c) Không phải tôi mua (CHIẾC XE NÀY)_Foc ở Huế.  
(4.3.1d) Không phải tôi mua chiếc xe này (Ở HUẾ)_Foc.  
Sở dĩ có hiện tƣợng mơ hồ giữa tác tử phủ định và thành tố tiêu điểm nhƣ diễn giải nhƣ  
các trƣờng hợp ở trên là do phạm vi hoạt động của ―không phải‖ quá rộng – chính xác hơn là  
bị hạn chế phạm vi tác động (scope) của từ phủ định, với vị trí phát triển trƣớc ngữ tiêu điểm  
(FocP) thì nó có thể tác động đến từng thành phần khác nhau trong ngữ tiêu điểm nhƣ (4.3.1b)  
(4.3.1c) (4.3.1d). Lúc này, ngữ nghĩa phủ định trong câu bị mơ hồ là do phủ định đã không  
kết hợp chặt đƣợc với tiêu điểm, tạo ra sự diễn giải ―tự do‖ đối lập với diễn giải ―ràng buộc‖.  
Tức là, nếu sự phủ định đƣợc thể hiện trong vùng phạm vi tác động của tác tử phủ định thì nó  
tạo ra diễn giải ―ràng buộc‖, còn nếu phủ định nằm trong vùng hạn chế của các tác tử thì nó  
tạo ra diễn giải ―tự do‖. Khi muốn xác định tiêu điểm ràng buộc, chúng ta có thể dùng sự lên  
– xuống đƣờng nét ngôn điệu để nhấn mạnh tiêu điểm.  
(4.3.1b*) không phải~(MUA)_Foc chiếc xe này ở Huế. (~tôi bán)  
(4.3.1c*) không phải mua ~(CHIẾC XE NÀY)_Foc ở Huế. (~chiếc xe khác)  
(4.3.1d*) không phải mua chiếc xe này ~(Ở HUẾ)_Foc. (~ở Hà Nội)  
Giải thích cách diễn giải ―tự do‖ và ―ràng buộc‖ trong các câu mơ hồ phủ định, chúng ta  
có thể dùng sơ đồ phóng chiếu vị trí cú pháp của phủ định (neg-projection). Với cách diễn giải  
―tự do‖, nó sẽ tƣơng ứng với các cấu trúc cú pháp mơ hồ phủ định. Theo đó, yếu tố phủ định  
271  
Kỷ yếu điện tử Hội thảo Quốc gia Nghiên cứu liên ngành về Ngôn ngữ và Giảng dạy  
ngôn ngữ lần thứ VI  
(+neg) sẽ xuất hiện ở vị trí trung tâm của phủ định (Neg-head), tại ngay nơi bắt đầu ngữ phủ  
định. Theo Tomoko Kawamura (2007), vị trí biểu diễn của đặc trƣng (+neg) quyết định vị trí  
phạm vi (scope) của phủ định, theo đó nếu đặc trƣng phủ định (+neg) xuất hiện tại vị trí trung  
tâm tiêu điểm (Foc-head) thì sẽ có diễn giải ―ràng buộc‖, trong khi đó nếu nó xuất hiện tại vị  
trí trung tâm phủ định (Neg-head) nằm trong ngữ phủ định (NegP) thì sẽ có diễn giải ―tự do‖.  
Hình 1: Cách diễn giải ―tự do‖ về vị trí thành tố phủ định  
Trong khi đó, với trƣờng hợp (4.1.3) và (4.1.4) ở trên, phân tích cách diễn giải ―ràng  
buộc‖ là thể hiện ở vị trí của tác tử phủ định (+neg) sẽ xuất hiện ở vị trí trung tâm tiêu điểm  
(Foc-head) thông qua thao tác chuyển vị chỉ tố phủ định ―không‖.  
Hình 2: Cách diễn giải ―ràng buộc‖ vị trí của tác tử phủ định  
Trong các diễn ngôn quảng cáo, chúng tôi cũng thấy hiện tƣợng sự phủ định không có sự  
tƣơng hợp với các tiêu điểm câu, dẫn đến hiện tƣợng mơ hồ ngữ nghĩa phủ định.  
(4.3.2) Không chỉ_(+neg) (LÀM SẠCH VÀ CHĂM SÓC)_Foc nhƣ kem đánh răng thông  
thƣờng. (Quảng cáo kem đánh răng Ngọc Châu).  
(4.3.2*) Không chỉ_(+neg) làm sạch và chăm sóc (NHƯ KEM ĐÁNH RĂNG THÔNG  
THƯỜNG)_Foc.  
272  
Kỷ yếu điện tử Hội thảo Quốc gia Nghiên cứu liên ngành về Ngôn ngữ và Giảng dạy  
ngôn ngữ lần thứ VI  
(4.3.3) POND‘S MEN mới không chỉ (+neg) (là sữa rửa mặt THÔNG THƢỜNG)_Foc,  
chứa chiết xuất từ hạt cà phê, giúp da sáng, trông đầy năng lƣợng. (Quảng cáo POND‘S MEN  
energy charge).  
4.4. Tác tử phiếm định trỏ tiêu điểm  
Trong tiếng Việt, các tác tử phủ định siêu ngôn ngữ đƣợc hình thành do hành vi chất vấn  
– bác bỏ những yếu tố ―phiếm định‖ nhƣ ―ai, gì, nào, đâu, sao, bao giờ, bao nhiêu…‖.  
―Đâu‖ là một đại từ phiếm định có phạm vi hoạt động rất rộng trong tiếng Việt, chúng  
cũng có phạm vi tác động (scope) cú pháp rộng với tiêu điểm trong câu phủ định. Có những  
tác tử nhƣ đâu còn, còn đâu, đâu có, có đâu, đâu phải…+P (P là một cụm từ, một mệnh đề  
bất kỳ). Khi khảo sát các trƣờng hợp ―đâu còn p‖, ―còn P đâu‖, ―còn đâu P‖ trong các câu  
phủ định, chúng tôi thấy chúng khác nhau bởi sự phát triển ý nghĩa vị trí và phạm vi tác động  
(scope).  
(4.4.1) Vắng tuyển Anh, Euro 2008 đâu còn (+neg) (HẤP DẪN)_Foc (Báo VnExpress)  
(4.4.2) Thời buổi này đâu còn (+neg) (CẢNH ―CHỒNG CHÚA VỢ TÔI‖)_Foc... (Báo  
Lao Động)  
(4.4.3) Tiêu chuẩn Ramsar thế giới là bảo vệ tính toàn vẹn, nay mình không quản lý, bảo  
vệ nổi thì đâu còn (+neg) (LÀ DI SẢN)_Foc? (Báo Lao Động)  
(4.4.4) Sáng cà phê, chiều nhậu, tối lƣớt Facebook - còn đâu (+neg) (THỜI GIAN TẬP  
THỂ DỤC)_Foc (Báo VnExpress)  
(4.4.5) Còn đâu (+neg) (năm mùi khó chịu). (Quảng cáo Comfort)  
(4.4.5*) Đâu còn (+neg) (năm mùi khó chịu).  
Xét về ngữ nghĩa, cách dùng ―còn đâu‖ và ―đâu còn‖ khác nhau bởi ý nghĩa vị trí của tác  
tử phủ định ―đâu‖, vị từ tồn tại ―còn‖ đứng trƣớc tác tử phủ định ―đâu‖ thì nghĩa là xác định  
sự tồn tại của một điều phủ định, từ đó có hàm ý ―nuối tiếc‖; trong khi đảo lại trật tự, tác tử  
phủ định ―đâu‖ đứng trƣớc vị từ tồn tại ―còn‖ thì không còn hàm ý ―nuối tiếc‖ nữa mà chỉ là  
một ngữ phủ định ―không còn năm mùi khó chịu‖, ―không còn hấp dẫn‖,…  
Chúng ta có thể thấy rằng sự khác biệt về phạm vi tác động (scope) của phủ định trong  
các trƣờng hợp trên là đến từ việc khác nhau về vị trí cú pháp của phủ định. Thủ pháp biểu  
diễn phóng chiếu phủ định (the Neg-projection) có thể giúp xác định phạm vi tác động  
(scope) của phủ định.  
273  
Kỷ yếu điện tử Hội thảo Quốc gia Nghiên cứu liên ngành về Ngôn ngữ và Giảng dạy  
ngôn ngữ lần thứ VI  
Hình 3: Sơ đồ cú pháp của vị trí ―còn đâu‖ trong câu 4.4.5  
Hình 4: Sơ đồ cú pháp của vị trí ―đâu còn‖ trong câu 4.4.5*  
5. Thảo luận và đề xuất  
Kết quả từ nghiên cứu về phủ định và tiêu điểm cùng sự tƣơng tác của chúng trong các mẫu  
câu phủ định tiếng Việt đã xác định đƣợc ý nghĩa của chúng trên bình diện cú pháp và ngữ dụng  
học.  
Thứ nhất, sự tƣơng tác giữa chúng thể hiện rõ phạm vi tác động (scope) của các tác tử  
phủ định trong câu có tiêu điểm. Bên cạnh đó là sự mơ hồ về phạm vi tác động trong các tác  
tử phủ định này trong từng vị trí mà nó tham gia cấu trúc phủ định. Từ đó khi tìm cách triển  
khai câu phủ định cần chú ý hiện tƣợng mơ hồ này.  
Thứ hai, cần chú ý giá trị sử dụng của các tác tử phủ định nhƣ ―không‖, ―không phải‖,  
―đâu‖. Trong tiếng Việt, chẳng hạn chúng ta có thể tạo ra hai chiều nghĩa khẳng định và phủ  
định khi chúng đƣợc dùng trong các kết hợp (nhƣ ―đâu còn‖, ―còn đâu‖, ―đâu có‖, ―có đâu‖,  
―đâu phải‖, ―đâu đến‖, ―đâu nhƣ‖, v.v…) ở các câu chất vấn hay câu bác bỏ. Với sự khác biệt  
về chức năng siêu ngôn ngữ của tác tử phủ định trên bình diện miêu tả của chúng nhƣ điều  
kiện chân trị, chân giá trị, bài viết này đã phân tích sự mơ hồ trong một số trƣờng hợp với  
những thử nghiệm về cấu trúc phủ định, cấu trúc bác bỏ, các khái niệm ngữ nghĩa và ngữ  
dụng trong các câu phủ định, câu bác bỏ tiếng Việt. Các khía cạnh trên sẽ đƣợc dùng để giải  
274  
Kỷ yếu điện tử Hội thảo Quốc gia Nghiên cứu liên ngành về Ngôn ngữ và Giảng dạy  
ngôn ngữ lần thứ VI  
thích các chức năng của phủ định siêu ngôn ngữ và hành vi ngôn ngữ siêu phủ định trong  
tiếng Việt.  
Thứ ba, hành vi phản hồi, hiệu chỉnh thông tin hay bác bỏ chất vấn của một số mẫu câu  
phủ định siêu ngôn ngữ trong tiếng Việt chƣa đƣợc chú ý nhiều. Theo chúng tôi, đây là hiện  
tƣợng thú vị và có nhiều thách thức trong nghiên cứu lý luận ngôn ngữ học.  
6. Kết luận  
Nghiên cứu của chúng tôi dựa trên việc tìm kiếm các mẫu câu phủ định trong thực tế  
ngôn ngữ tự nhiên của tiếng Việt (sách, báo, tác phẩm văn học, quảng cáo,…). Kết quả nghiên  
cứu là những đặc trƣng khi sử dụng câu phủ định trong tiếng Việt với nhiều chức năng ngữ  
pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng; nhất là chức năng ―siêu ngôn ngữ‖ của nó. Trong khi đó, tiêu  
điểm là một đơn vị thông tin có phạm vi hành chức và tƣơng tác khác nhau với từng tác tử  
phủ định và vị trí cú pháp của nó trong câu. Vì thế, theo chúng tôi, mối quan hệ cú pháp –  
chức năng giữa tiêu điểm, phủ định và phạm vi tác động trong các khuôn câu trong bài này là  
những câu tiếng Việt tự nhiên và đặc trƣng. Chúng ta có thể áp dụng các khuôn câu phủ định  
và phủ định siêu ngôn ngữ trong nghiên cứu hành vi ngôn ngữ ở cấp bậc diễn ngôn văn bản,  
hoặc lƣu ý về cách sử dụng chúng trong giảng dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài.  
Tài liệu tham khảo  
Hole, D. (2008). Even, also and only in Vietnamese. In interdisciplinary studies on information  
structure. Vol 11. Germany: Postdam University Press.  
Hole, D., & Lobel, E. (2013). Linguistics of Vietnamese. De Gruyter Mouton, Germany.  
Horn, L.R. (1989). A natural history of negation. Chicago: University of Chicago Press.  
Jackendoff, R.S. (1972). Semantic interpretation in generative grammar. Cambridge: MIT Press.  
Larrivée, P. (2018). Metalinguistic negation from an informational perspective. Glossa: A journal of  
general linguistic, 3(1), 1-22.  
Miestamo, M. (2017). Negation. In Aikhenvald and Dixon (Eds). The Cambrige handbook of  
Linguistic typology.  
Tomoko, K. (2007). Some interaction of focus and focus sensitive elements. Stony Brook University.  
Nguyễn Đức Dân (1987). Lô gích – ngữ nghĩa – cú pháp. Hà Nội: Nxb ĐH&THCN.  
Nguyễn Thùy Nƣơng (2018). Tiểu từ và tiểu từ tiêu điểm trong tiếng Việt. Tạp chí Ngôn ngữ & Đời  
sống, 8(275).  
Nguyễn Thùy Nƣơng (2018). Tiêu điểm và kết hợp của tiêu điểm trong tiếng Việt. Kỷ yếu ―Một số  
vấn đề Khoa học xã hội và Nhân văn‖, Hội thảo khoa học Sau đại học. Nxb ĐHQG TP. HCM.  
NEGATION AND FOCUS IN VIETNAMESE  
Abstract  
This paper reports on the negation and focus phenomena in natural Vietnamese sentences.  
Base on negative sentences in written and spoken Vietnamese, we focus on the distinction  
275  
Kỷ yếu điện tử Hội thảo Quốc gia Nghiên cứu liên ngành về Ngôn ngữ và Giảng dạy  
ngôn ngữ lần thứ VI  
between logic and meta-linguistic negation, the interaction between negation and focus in  
pragmatics. Besides, the analysis of collected data helped find out some negative focus  
marker and their scope in negative sentences in Vietnamese (e.g. ―đâu‖, ―đâu có‖, ―đâu  
còn‖, ―không‖, ―không phải‖). The findings result in this paper, we showed that some  
issues of negation and focus in Vietnamese in syntax and pragmatics aspects.  
Keywords  
Logic negation, meta-linguistic negation, focus, negative focus marker, scope  
276  
pdf 12 trang yennguyen 12000 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phủ định và tiêu điểm trong tiếng Việt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphu_dinh_va_tieu_diem_trong_tieng_viet.pdf