Kiều Thanh Quế với những công trình ra đời trong thời gian bị quản thúc ở Cần Thơ

TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (259) 2020  
23  
KIỀU THANH QUẾ VỚI NHỮNG CÔNG TRÌNH RA ĐỜI  
TRONG THỜI GIAN BỊ QUẢN THÚC Ở CẦN THƠ  
HUỲNH THỊ LAN PHƢƠNG*  
NGUYỄN VĂN NỞ**  
Kiều Thanh Quế là nhà phê bình, nghiên cứu văn học tiêu biểu ở Nam Bộ vào  
những năm đầu thế kỷ XX. Ông là một người yêu nước, từng tham gia các hoạt  
động cứu nước, có thái độ căm ghét cường quyền và từng bị quản thúc tại Cần  
Thơ. Cần Thơ đã trở thành vùng đất nặng ân tình với ông. Trên xứ sở Cầm Thi,  
trong những ngày bị chính quyền đương thời theo dõi, kìm kẹp ông đã đạt được  
nhiều thành tựu trong sự nghiệp cầm bút. Đất, người Cần Thơ đã lưu dấu ấn  
trong các công trình nghiên cứu của ông.  
Những công trình, bài báo ra đời trong thời gian Kiều Thanh Quế ở Cần Thơ đã  
thể hiện tấm lòng, tài năng của một người say mê văn học, miệt mài cống hiến  
vì sự nghiệp phát triển văn hóa dân tộc. Tuy vẫn còn đâu đó hạn chế nhất định,  
nhưng các công trình ấy vẫn đủ để chứng minh thời gian ở Cần Thơ là thời gian  
Kiều Thanh Quế viết sung sức nhất và có nhiều đóng góp cho sự nghiệp nghiên  
cứu, phê bình ở buổi bình minh của văn học quốc ngữ.  
Từ khóa: Kiều Thanh Quế, Tây Đô văn đoàn, quản thúc, văn học quốc ngữ  
Nhận bài ngày: 12/12/2019; đưa vào biên tập: 15/12/2019; phản biện: 20/1/2020;  
duyệt đăng: 15/3/2020  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
báo chí phù du. Đôi khi ngƣời ta có  
những sáng kiến, đi những bƣớc tiên  
phong táo bạo, nhƣng mà thiếu tiềm  
lực ở giới viết cũng nhƣ giới đọc để  
nuôi dƣỡng cho thành phong trào phát  
tỏa ra toàn quốc” (Phạm Thế Ngũ  
1965: 629), Kiều Thanh Quế đã xuất  
hiện nhƣ một ngôi sao sáng của văn  
học Nam Bộ. Ông trở thành “nhà phê  
bình văn học hiếm có của Nam Bộ”  
(Hoài Anh, 2001: 923-939). Sự nghiệp  
viết văn của Kiều Thanh Quế song  
hành cùng những biến thiên của lịch  
sử dân tộc, có những khúc quanh  
nhƣng đã lên đƣợc đỉnh cao. Ông trở  
Phê bình, khảo cứu, nghiên cứu văn  
học là những hoạt động không thể  
thiếu trong lịch sử phát triển văn học  
của mọi quốc gia trên thế giới. Văn  
học Việt Nam không ngoại lệ. Vào thời  
kỳ đầu của văn học hiện đại, Nam Bộ  
đi tiên phong trong lĩnh vực sáng tác  
nhƣng chƣa có thành tựu cao về  
nghiên cứu, phê bình văn học. Trong  
bối cảnh văn học Nam Bộ bị cho là:  
“thƣờng chỉ nở ra bề mặt, trên một  
*, ** Trƣờng Đại học Cần Thơ.  
HUỲNH THỊ LAN PHƢƠNG - NGUYỄN VĂN NỞ – KIỀU THANH QUẾ…  
24  
thành ngƣời “có công đối với sự phát Câu ca dao quen thuộc ấy, theo thời  
triển của phê bình văn học Việt Nam gian đã đi vào tâm thức ngƣời Việt,  
đầu thế kỷ XX” (Nguyễn Hữu Sơn - nhƣ chào mời, vẫy gọi những ai chƣa  
Phan Mạnh Hùng, 2009: 3).  
từng đến vùng đất này. Chắc hẳn,  
Cần Thơ có sức mời gọi lớn, mà cũng  
rất biết lƣu tình. Và năm 1940, Kiều  
Thanh Quế đã đến, nhƣng không vì  
nhu cầu để đƣợc khám phá vẻ đẹp  
sông nƣớc miền Tây, hay tìm cảm  
hứng sáng tác. Ông đã bị nhà cầm  
quyền Pháp cƣỡng bức đến đây, phải  
chịu sự quản thúc gắt gao của kẻ thù.  
Vốn sinh trƣởng trong một gia đình  
giàu lòng yêu nƣớc, có nhiều ngƣời  
tham gia cứu nƣớc, ở Bà Rịa - Vũng  
Tàu, bản thân ông cũng từng tham gia  
các tổ chức yêu nƣớc trong thời gian  
học ở Sài Gòn. Tuổi trẻ, tính cƣơng  
trực, nỗi bất bình về những chuyện  
phi lý trong xã hội đã dẫn ông đến chỗ  
xích mích với tên sếp chợ ngƣời Ấn,  
quốc tịch Pháp, khiến nhà chức trách  
đƣơng thời phải tìm cách đối phó.  
Nào ngờ đó lại là cái “duyên”, đƣa đẩy  
ông đến với đất và ngƣời Cần Thơ.  
Cái “duyên” bất đắc dĩ ấy lại tạo nên  
những kỷ niệm đẹp, những ấn tƣợng  
sâu sắc trong cuộc đời viết văn của  
ông.  
2. CƠ DUYÊN VỚI CẦN THƠ VÀ  
TÂM TÀI CỦA KIỀU THANH QUẾ  
“Hoàn cảnh và phong thổ đào tạo nên  
một thiên tài”, một tiêu đề trong “Thi  
hào Tagore” của Kiều Thanh Quế có  
ghi nhƣ thế. Đúng nhƣ vậy. Không chỉ  
với trƣờng hợp của Tagore, mà còn là  
của nhiều ngƣời. Biết rằng chƣa thể  
nói Kiều Thanh Quế là thiên tài nhƣng  
vẫn phải thừa nhận năng lực ngòi bút  
của ông. Hoàn cảnh, môi trƣờng  
khách quan cũng đã tác động nhiều  
đến sự thành ông của Kiều Thanh  
Quế. Bị cƣỡng bức xuống Cần Thơ,  
sống trong vòng quản thúc của chính  
quyền Pháp, phải chăng đã làm nên  
một “hoàn cảnh” đặc biệt! Đất và  
ngƣời Cần Thơ đã giúp ông phát triển  
văn tài. Những “hạt giống” ý tƣởng đã  
gặp “phong thổ” thích hợp, nhanh  
chóng nảy mầm, từ đó tạo nên nhiều  
công trình có đóng góp lớn cho văn  
học Nam Bộ. Cần Thơ với cuộc đời  
cầm bút của Kiều Thanh Quế chắc  
hẳn rất nhiều ân tình, kỷ niệm khó  
phai, là nơi đã đem lại cho ông “thời  
kỳ viết sung sức nhất trong quãng đời  
sáng tạo ngắn ngủi của mình”  
(Nguyễn Hữu Sơn - Phan Mạnh Hùng,  
2009: 3).  
Những năm đầu của thập niên 40, ở  
thế kỷ trƣớc, không khí chính trị có  
nhiều phức tạp nhƣng lại hâm nóng  
đƣợc ý thức dân tộc ở tầng lớp trí  
thức Việt Nam, trong đó có trí thức  
Nam Bộ, đặc biệt là những ngƣời cầm  
bút. Họ xông xáo lao vào nhiều hoạt  
động văn hóa, xã hội, muốn góp sức  
cho sự phát triển văn hóa dân tộc, vì  
lợi ích quốc gia.  
2.1. “Duyên tình” của đất và ngƣời  
Cần Thơ đối với Kiều Thanh Quế  
Cần Thơ gạo trắng nước trong  
Ai đi đến đó lòng không muốn về.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (259) 2020  
25  
Nhiều sinh hoạt văn hóa, văn học diễn xuất hiện trong thời gian này. Đây là  
ra trong thời gian này, nhƣ tuần lễ một tổ chức tập hợp đƣợc nhiều trí  
triển lãm sách báo ở Sài Gòn, năm  
1942, do nhà sách Nguyễn Khánh  
Đàm tổ chức, có bình chọn 10 quyển  
sách quốc văn có giá trị nhất (Nho  
giáo của Trần Trọng Kim đƣợc xếp  
hạng nhất, Truyện Kiều đứng thứ hai).  
Báo Tri Tân tổ chức thi về sử khảo.  
Giải nhất thuộc về Trần Văn Hai với  
bài Lãnh sự Việt Nam ở Sài Gòn.  
thức nặng tình với quê hƣơng, chân  
tâm với văn học nƣớc nhà và có trách  
nhiệm lớn với văn hóa dân tộc. Theo  
nguồn tƣ liệu từ Nam Phong tạp chí,  
số 141, tháng 8/1929, buổi đầu, hội  
chỉ là hội học, hội viên đƣợc 20 ngƣời.  
Về sau, từ khi bác sĩ Lê Văn Ngôn làm  
Hội trƣởng, số hội viên tăng lên đƣợc  
123 ngƣời. Hội đã quy tụ đƣợc nhiều  
ngƣời tài năng nhƣ giáo sƣ Nguyễn  
Văn Kiết (tức Tây Đô cát sĩ), Trực  
Thần, Lê Đằng Côn, họa sĩ Nguyễn  
Văn Mƣời… Hội đã lập nhóm Tây Đô  
văn đoàn có sự tham gia của các  
thành viên nhƣ Tố Phang (tức Thuần  
Phong), Khuông Việt, Trúc Đình. Năm  
1941, nhóm đã tổ chức quyên tiền xây  
mộ cụ Thủ khoa Nghĩa ở Bình Thủy  
(Cần Thơ), tổ chức giải thƣởng Thủ  
khoa Nghĩa. Ngày 24/6/1944 phát giải  
thƣởng hạng nhất cho tác phẩm Đồng  
quê của Phi Vân và truyện Năm người  
thanh niên của Nguyễn Ngọc Tân.  
Sinh hoạt văn học ở Nam Bộ lúc đó  
trở nên khởi sắc. Đấy là nhờ sự hỗ trợ,  
khích lệ của các hội Khuyến học.  
Những tổ chức mang tính chính quy,  
hợp pháp thời bấy giờ có chức năng  
điều hành nhiều sinh hoạt văn hóa.  
Đáng chú ý là những ngƣời đứng đầu  
của tổ chức ấy thƣờng quan tâm đến  
hoạt động văn học nghệ thuật. Họ  
mong muốn làm gì đó để thúc đẩy văn  
học nƣớc nhà phát triển mạnh. Hội  
Khuyến học trung ƣơng, dƣới sự điều  
hành của giáo sƣ Đoàn Quang Tấn,  
treo giải thƣởng cho sáng tác văn  
chƣơng hàng năm. Đầu năm 1942 có  
phát giải và giải nhất dành cho tiểu  
thuyết Chổng con của Trần Tiêu.  
Nhiều lễ kỷ niệm về các nhà thơ lớn  
nhƣ Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu  
đƣợc tổ chức long trọng, trong tình  
cảm dạt dào, mang đến cho mọi  
ngƣời những niềm xúc động khó tả.  
Thời gian bị quản thúc ở Cần Thơ,  
Kiều Thanh Quế có thể bức bối vì  
hoàn cảnh bị kẻ thù o ép, nhƣng đây  
là thời điểm ông đƣợc sống với không  
khí của “sự trỗi dậy của văn học miền  
Nam” (Phạm Thế Ngũ 1965: 629).  
Ông đã không đứng ngoài cuộc các  
phong trào. Ông là thành viên của Tây  
Đô văn đoàn. Tháng ngày “nhàn hạ  
bất đắc dĩ” (từ dùng của Bằng Giang  
Không khí văn chƣơng, học thuật sôi  
nổi ấy lan tỏa xuống tận Cần Thơ. Xứ  
sở đó, với dòng sông Hậu hiền hòa, 1974: 177) ở Cần Thơ đã đƣa ông  
đã nuôi dƣỡng đƣợc bao tâm hồn thơ, đến với những cuộc diện kiến, làm  
rèn đúc nên nhiều cây bút văn tài quen, rồi thân thiết với nhiều trí thức,  
năng. Hội Khuyến học Cần Thơ đã  
học giả Tây Đô. Giáo sƣ Nguyễn Văn  
HUỲNH THỊ LAN PHƢƠNG - NGUYỄN VĂN NỞ – KIỀU THANH QUẾ…  
26  
Kiết, cũng là thành viên của nhóm Tây thức khá ấu trĩ hoặc ở tác phẩm tiểu  
Đô văn đoàn, là một trong những thuyết cho một công chúng hạ lƣu dễ  
ngƣời hỗ trợ ông đắc lực, giúp ông dãi. Những ngƣời thức giả lƣu tâm  
nhập cuộc với những sinh hoạt văn đến quốc văn sau đó lại phải quay ra  
học sôi nổi ở Cần Thơ bấy giờ. Sống miền Bắc để đón tiếp những sáng tác  
trong vòng kiểm soát gắt gao của kẻ mới cũng nhƣ phong trào văn học  
thù, không thể nào yêu nƣớc bằng mới” (Phạm Thế Ngũ, 1965: 85). Sống  
các hoạt động chính trị, cũng nhƣ giữa những ngày tháng Nam Bộ khởi  
nhiều nhà yêu nƣớc khác cùng thời, sắc hoạt động văn học, thời gian ở  
ông quay sang hoạt động văn hóa, Cần Thơ có lẽ cũng là những ngày  
học thuật, luôn dõi theo thời sự văn Kiều Thanh Quế phấn chấn, hào hứng  
học nƣớc nhà.  
nhất, tràn ngập niềm tin vào tƣơng lai  
của văn học nƣớc nhà. Để rồi sau đó,  
khi nhìn lại, tổng kết thành tựu đã đạt,  
Kiều Thanh Quế vui sƣớng reo lên  
trên báo Tri Tân, số Xuân Giáp Thân:  
“Thật là những bƣớc đầu khả quan,  
những ngày tới có thể đầy hứa hẹn  
xán lạn” (dẫn theo Phạm Thế Ngũ  
1965: 631). Những ngày bị quản thúc,  
mỗi bƣớc chân đều có mật thám theo  
dõi, nhƣng hình nhƣ, sự kiềm tỏa của  
kẻ thù không làm tắt đƣợc ngọn lửa  
đam mê nghiên cứu trong Kiều Thanh  
Quế. Nặng nợ văn chƣơng từ trƣớc,  
có sẵn một tấm lòng với nền văn hóa,  
văn học nƣớc nhà, đƣợc sự hỗ trợ  
của bao bạn bè thân quen, đặc biệt là  
nhóm Văn đoàn Tây Đô, đến Cần  
Thơ, Kiều Thanh Quế nhƣ “Tái ông  
thất mã”, đƣợc tận dụng nhiều cơ hội.  
Ngƣời cung cấp tƣ liệu quý, có cả tƣ  
liệu từ nƣớc ngoài mang về, theo  
Bằng Giang đó là Tây Đô Cát Sĩ, tức  
giáo sƣ Nguyễn Văn Kiết. Ông đã cho  
Kiều Thanh Quế mƣợn tất cả tài liệu  
nƣớc ngoài viết về Tagore, đồng thời  
cũng là ngƣời chở che, bảo bọc trong  
sinh hoạt đời thƣờng. Lúc mới đến  
Tây Đô văn đoàn tạo nhiều thuận lợi  
để ngòi bút của ông thả sức. Tài năng  
Kiều Thanh Quế đƣợc phát tiết mạnh  
nhất vào lúc này. Ông trở thành cộng  
tác viên Nam Bộ nổi bật nhất của báo  
Tri Tân cũng từ thời gian đó. Đến nhƣ  
Phạm Thế Ngũ, một ngƣời ít có  
những đánh giá cao về văn học Nam  
Bô, nhất là văn học trong buổi đầu  
hình thành văn học quốc ngữ, còn  
phải thốt lên rằng: “ngay từ năm 1941,  
miền Nam đã cung cấp cho Tạp chí  
Tri Tân những cây bút khảo luận xuất  
sắc: Lê Thọ Xuân, Tố Phang, Kiều  
Thanh Quế” (Phạm Thế Ngũ, 1965:  
630). Nói điều này vì Phạm Thế Ngũ  
từng nhận định: “Gia Định là đất mới.  
Dân chúng vừa thƣa ít, vừa chƣa  
đƣợc thuần nhất. Luống cày Nho gia  
chƣa đào xới đƣợc sâu thì ngƣời  
Pháp đến. Sự sáng tác văn học, sự  
ƣa chuộng văn chƣơng, sự trồng trọt thi  
văn ở đây chƣa có truyền thống sâu  
xa, nên kém tiềm lực, kém khả năng…  
Quốc văn do đó trong nhiều năm về  
sau ở Nam Kỳ chỉ bày tỏ trong hình  
thức báo chí phổ thông, với trình độ trí  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (259) 2020  
27  
Cần Thơ, Kiều Thanh Quế phải ở trọ nhà đại thi hào Tagore, ngƣời duy  
nhà ngƣời quen, nhiều bất tiện, vất nhất ở Ấn Độ bấy giờ đƣợc giải Nobel  
vả. Ông Ôn Văn Hy, làm việc tại Ty Y văn chƣơng. Lúc Kiều Thanh Quế ở  
tế Cần Thơ, hiểu rõ hoàn cảnh của Cần Thơ, thi hào Tagore qua đời  
Kiều Thanh Quế, cảm kích chàng (tháng 8/1941). Sự kiện đó đã khơi  
thanh niên khí khái, đã đƣa ông về nhà  
dậy cảm hứng cho Kiều Thanh Quế.  
ở, để đƣợc rộng rãi thoải mái hơn. Thi hào Tagore từng đƣợc Mạnh  
Đất, ngƣời Cần Thơ hiền hòa, chân Phan đánh giá cao: “Sách viết rất  
tình, không chỉ chở che mà còn hỗ  
trợ, kích thích tài năng cùng niềm đam  
mê của Kiều Thanh Quế. Tài năng và  
niềm đam mê ấy cứ lớn mãi trong  
hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, bởi sự  
kiềm kẹp của kẻ thù. Để rồi, vừa thoát  
khỏi sự quản thúc, về Sài Gòn, nó đã  
nhanh chóng kết thành “hoa trái”. Kiều  
Thanh Quế đƣợc xuất bản liên tục các  
công trình lớn, mang tính chuyên sâu  
nhƣ: Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam  
(1943), Thi hào Tagore (1943), Học  
thuyết Freud (1943)… Riêng Thi hào  
Tagore đƣợc biết chắc chắn là đã viết  
tại Cần Thơ nhƣng lên Sài Gòn, năm  
1943 ông mới cho xuất bản.  
công phu và dày công khảo cứu: đáng  
khen. Tác giả đã dùng một phƣơng  
pháp rành mạch phân tích thơ Tagore  
để cố hiểu nhà đại thi hào ấy của Ấn  
Độ. Nhiều tài liệu của tác giả phần  
nhiều chƣa ai nói đến bằng Quốc văn.  
Tác giả đã đọc đƣợc nhiều bản dịch  
thơ Tagore bằng Pháp văn nên  
thƣờng dẫn chứng để độc giả dễ hiểu.  
Thật là một cuốn sách dày có thể  
khiến độc giả thấu rõ tâm hồn huyền  
bí và cao cả của Tagore…” (dẫn theo  
Nguyễn Hữu Sơn - Phan Mạnh Hùng,  
2009: 23). Thi hào Tagore của Kiều  
Thanh Quế quả là một đóng góp đáng  
ghi nhận trong lịch sử nghiên cứu, phê  
bình, khảo cứu lúc bấy giờ, nhất là  
trên vùng đất Nam Bộ, nơi chƣa có đủ  
thời gian để làm nên bề dày văn hóa,  
truyền thống văn học. Nơi từng bị coi  
là không có đƣợc “hoàn cảnh thuận  
lợi cho sự phát triển của văn học, nhất  
là văn học quốc gia”, “sự trồng trọt thi  
văn ở đây chƣa có truyền thống sâu  
xa, nên kém tiềm lực, kém khả năng”  
(Phạm Thế Ngũ, 1965: 85).  
Ân tình với ngƣời Cần Thơ rất sâu  
đậm. Tác phẩm Thi hào Tagore đƣợc  
ký tên Nguyễn Văn Hai. Đƣợc biết là  
tên con trai của vị ân nhân đã cƣu  
mang tác giả trong thời gian sống  
cảnh cá chậu chim lồng (Tây Đô cát sĩ  
Nguyễn Văn Kiết). Nguyễn Văn Hai  
cũng là ngƣời giúp Kiều Thanh Quế  
rất nhiều trong việc dịch các tài liệu về  
Tagore. Đây có thể coi là món quà tri  
ân vô giá dành cho ngƣời nghĩa. Bởi Cần Thơ lƣu giữ bƣớc chân Kiều  
Thi hào Tagore đã đƣợc Kiều Thanh  
Thanh Quế không quá lâu. Ông bị đƣa  
Quế dụng công nghiên cứu. Những về đây từ năm 1940. Đến cuối năm  
dòng chữ đƣợc tuôn ra từ trái tim tràn 1942, đƣợc miễn quản thúc, ông lên  
đầy tình cảm yêu thƣơng, mến mộ  
Sài Gòn. Cần Thơ đã tạo cơ hội tốt để  
HUỲNH THỊ LAN PHƢƠNG - NGUYỄN VĂN NỞ – KIỀU THANH QUẾ…  
28  
ông ấp ủ nhiều ý tƣởng, dõi theo từng “tâm hồn” bình thƣờng, mà là tâm hồn  
bƣớc đi của văn học nƣớc nhà. Cần lớn. Tâm hồn của nhà phê bình tài  
Thơ đã có “duyên”, đƣợc che chở bảo năng nhiều tâm huyết của ngƣời trí  
bọc ngƣời tài. Và Kiều Thanh Quế lại thức yêu nƣớc chân chính.  
có “tình” nên mãi vƣơng vấn về Cần  
2.2. Tâm và tài của Kiều Thanh Quế  
Thơ. Ngoài trƣờng hợp Thi hào  
qua những công trình đƣợc xuất  
Tagore, khi cho xuất bản Học thuyết  
bản lúc tác giả ở Cần Thơ  
Freud, nhà xuất bản Tân Việt Hà Nội,  
Nhƣ đã trình bày ở phần trên, căn cứ  
năm 1943, lại một lần nữa ông bày tỏ  
vào nguồn tƣ liệu đƣợc sƣu tầm và  
tình cảm với Cần Thơ. Dòng cuối của  
giới thiệu trong quyển Cuộc tiến hóa  
quyển sách, ông có ghi: “Can Tho-  
văn học Việt Nam do Nguyễn Hữu  
BaRia”. Chỉ là mấy từ ngắn ngủi thôi  
Sơn, Phan Mạnh Hùng biên soạn  
nhƣng nó chứa đựng bao điều sâu xa.  
(Nhà xuất bản Thanh niên xuất bản  
Cần Thơ đƣợc đặt ngang với Bà Rịa  
năm 2009), bên cạnh sự ra đời của  
là nơi chôn nhau cắt rốn của ông. Dấu  
Thi hào Tagore, các chuyên khảo  
gạch nối đầy ý nghĩa nhƣ muốn thay  
khác nhƣ: Ba mươi năm văn học  
lời Kiều Thanh Quế cảm ơn Cần Thơ,  
(1941), Phê bình văn học (1942) cũng  
tri ân Cần Thơ. Không “sinh” nhƣng  
đƣợc xuất bản trong khoảng thời gian  
Cần Thơ đã “dƣỡng” cả thể xác và  
Kiều Thanh Quế ở Cần Thơ. Có thể,  
tâm hồn con ngƣời yêu nƣớc, nặng  
những tác phẩm nói trên đã đƣợc viết  
tình với văn chƣơng. “Nƣớc trong”  
từ trƣớc đó nhƣng đến thời gian này  
của Cần Thơ đã làm trôi đi mọi bức  
mới đƣợc xuất bản. Dù thế nào đi  
bối do kẻ thù mang đến, đƣa ông về  
chăng nữa, thành tựu kể trên đã đến  
với niềm đam mê hoạt động học thuật.  
với Kiều Thanh Quế lúc đang ở Cần  
“Gạo trắng” Cần Thơ tiếp sức cho  
Thơ. Chắc chắn, kết quả ấy đã tạo  
khát vọng đóng góp vì sự nghiệp văn  
học nƣớc nhà. Ân tình ấy Kiều Thanh  
Quế không thể nào quên! Lấy tên một  
ngƣời Cần Thơ để ký khi viết Thi hào  
Tagore chỉ là trả ân ngƣời nghĩa.  
Ghép chung hai địa danh Cantho-  
Baria thành một dòng mới là khắc sâu  
ân tình với vùng đất, đã từng cƣu  
mang ông lúc hoạn nạn, tiếp nguồn  
cảm hứng ông trong cảnh nguy nan.  
Đúng nhƣ điều mà Chế Lan Viên đã  
nên những dấu ấn kỷ niệm khó phai  
trong ông, lúc sinh thời, khi nhớ về  
Cần Thơ. Chúng tôi không xem đây là  
công trình đƣợc ra đời khi Kiều Thanh  
Quế ở Cần Thơ. Chỉ muốn nhắc đến  
những thành tựu mà Kiều Thanh Quế  
đón nhận đƣợc trong những ngày bị  
quản thúc, để nhân đó, bàn đến tâm  
và tài của ông. Sáng tác trƣớc, trong  
hay sau khi rời khỏi Cần Thơ không  
phải là yếu tố quan trọng làm nên tâm,  
chiêm nghiệm: “Khi ta ở, chỉ là nơi đất tài của Kiều Thanh Quế. Bởi cái tâm,  
ở. Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”. Với cái tài đƣợc thể hiện xuyên suốt trong  
mọi công trình của tác giả. Vì thế,  
Kiều Thanh Quế, không chỉ là một  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (259) 2020  
29  
chọn một vài công trình tiêu biểu, có nên chất tài hoa cho ngƣời cầm bút.  
những liên hệ với thời gian và không  
gian đặc biệt, những ngày tháng sống  
tại Cần Thơ, để cảm nhận đóng góp  
quý báu của Kiều Thanh Quế là  
chuyện khả dĩ. Mặt khác, việc làm này  
còn góp phần khơi rõ hơn dấu ấn Cần  
Thơ trên những công trình nghiên cứu  
văn học của Kiều Thanh Quế.  
Nhƣng chính cái tâm mới xui khiến  
đƣợc lòng nhiệt thành, cống hiến hết  
mình cho sự nghiệp chung. Kiều  
Thanh Quế đọc rất nhiều sách, báo.  
Từ thơ đến văn xuôi; từ văn chƣơng  
nghệ thuật đến báo chí, biên khảo; từ  
tác phẩm văn học Việt Nam đến văn  
học Trung Quốc, văn học của nhiều  
nƣớc phƣơng Tây, đặc biệt là văn học  
Pháp. Dƣờng nhƣ ông không muốn  
bỏ qua một tiếng động nhẹ nào trong  
từng bƣớc đi của văn học nƣớc nhà.  
Không chỉ đọc mà Kiều Thanh Quế  
Duyên, tình với đất Cần Thơ, qua hai  
trƣờng hợp trình bày trong mục trên  
đã đủ để ghi nhận. Một lần nữa, có  
thể khẳng định rằng: đất và ngƣời  
Cần Thơ đã trực tiếp hoặc gián tiếp  
hỗ trợ Kiều Thanh Quế giữ đƣợc ngọn còn có đƣợc những cảm nhận tinh tế,  
lửa đam mê nghiên cứu không bị gián những đánh giá khá xác thực. Cái tâm  
đoạn. Cho nên, dù ở trong Nam xa xôi,  
có nhiều trở ngại, Kiều Thanh Quế  
vẫn cộng tác đắc lực cho báo Tri Tân  
(ông bắt đầu tham gia báo Tri Tân từ  
số 23, ngày 14/11/1941), có thêm  
nhiều bài nghiên cứu, phê bình, góp  
tiếng nói thể hiện quan điểm, tƣ tƣởng,  
cách cảm nhận về văn học nƣớc nhà  
và văn học của nhiều nƣớc khác.  
của ông là cái tâm của nhà phê bình  
không chỉ say mê mà còn có trách  
nhiệm lớn với nền văn học dân tộc.  
Với ý thức trách nhiệm, ông mong  
muốn lƣu giữ những thông tin để đời  
sau có cơ sở nghiên cứu văn học sử.  
Ông đã bỏ nhiều công sức để làm một  
cuộc “tính sổ văn học”, cho ra đời Ba  
mươi năm văn học, vì nghĩ rằng “sẽ  
khó khăn biết bao nhiêu sau này cho  
nhà văn học sử, nếu ông ta muốn tìm  
mà không ra một bản thống kê văn  
học quốc ngữ trong vòng ba mƣơi  
năm nay” (dẫn theo Nguyễn Hữu Sơn -  
Phan Mạnh Hùng, 2009: 174). Kiều  
Thanh Quế cũng quan niệm cái tâm  
của ngƣời cầm bút là rất quan trọng.  
Không chỉ đối với nhà phê bình, mà cả  
ở ngƣời sáng tác. Theo ông, “không  
có văn tâm thời không thể nào làm  
đƣợc một bài đoản thiên tiểu thuyết  
đúng điệu và hay đƣợc, dẫu cho  
chuyện có hay đi mấy cũng mặc” (dẫn  
Muốn hiểu nỗi lòng ngƣời nghệ sĩ  
sáng tác hãy đi vào thế giới ngôn từ,  
thế giới hình tƣợng trong tác phẩm.  
Muốn biết rõ tâm tình nhà phê bình  
hãy bắt đầu từ những trang văn của  
họ. Cũng nhƣ ngƣời sáng tác, nhà  
phê bình chân chính khi cầm bút, ắt  
không khỏi ký ngụ tâm chí, hoài bão,  
ƣớc mơ. Kiều Thanh Quế là nhà phê  
bình nhƣ thế. Những công trình  
nghiên cứu của ông thể hiện niềm say  
mê văn chƣơng, say mê nghiên cứu,  
tìm tòi, nhạy bén với mọi biến thiên  
của văn học. Niềm say mê có thể làm  
HUỲNH THỊ LAN PHƢƠNG - NGUYỄN VĂN NỞ – KIỀU THANH QUẾ…  
30  
theo Nguyễn Hữu Sơn - Phan Mạnh Đối với những ngƣời nhạy cảm, biết  
yêu cái đẹp trong cuộc sống, có niềm  
đam mê cống hiến, chỉ cần một tiếng  
thở nhẹ của cuộc đời cũng đủ làm bật  
dậy nguồn cảm hứng trào dâng. Với  
Kiều Thanh Quế, một nhà nghiên cứu,  
phê bình văn học rất có tâm, thì chỉ  
một bƣớc khẽ trong chuyển động của  
văn học cũng làm ông chú ý, quan  
tâm, trăn trở. Để rồi nhanh chóng trở  
thành bao đề tài thiết thực cho những  
công trình nghiên cứu đáng ghi nhận.  
Vì lẽ đó, chúng ta không khó lý giải tại  
sao trong một thời gian ngắn, sống  
với cảnh bị quản thúc, xa quê nhà, đối  
mặt với nhiều khó khăn, Kiều Thanh  
Quế vẫn có thể viết thật nhiều, khai  
thác thật nhiều vấn đề của văn học  
đƣơng thời và trƣớc đó.  
Hùng, 2009: 216). Chính vì thế, ông  
dành cả một phần đầu của chuyên  
luận Phê bình văn học để bàn về “văn  
tâm”. Văn tâm mà Kiều Thanh Quế  
muốn nhấn mạnh ở đây, xét cho cùng,  
chính là trách nhiệm lớn lao của  
ngƣời cầm bút đối với công việc mình  
đang làm. Vì thế, ngƣời cầm bút cần  
có đủ “văn tâm, văn học và văn tài”.  
Kiều Thanh Quế còn mong muốn  
những cống hiến của các nhà văn  
đƣợc đánh giá đúng mực, công bằng.  
Ông đặt kỳ vọng ở những nhà phê  
bình chân chính, mong mỏi họ sẽ là  
ngƣời có đủ tài, lực, tâm huyết để đƣa  
các nhân tài bị lãng quên hay bị vùi  
lấp trong định kiến, thoát ra khỏi bóng  
tối, giúp họ khẳng định đƣợc đóng  
góp vốn có. Tấm lòng của ông luôn  
hƣớng về sự thịnh vƣợng của nền  
văn học Việt Nam. Vì thế, theo Kiều  
Thanh Quế, nhà phê bình phải giữ vai  
trò hƣớng đạo viên, là chất xúc tác  
mạnh mẽ, khích lệ ngƣời sáng tác.  
Cốt sao cho nền văn học nƣớc nhà có  
nhiều viên ngọc lấp lánh.  
Kiều Thanh Quế còn luôn ƣớc ao  
sách bằng chữ quốc ngữ phổ biến, để  
tất cả ngƣời Việt đều có thể đọc đƣợc.  
Ông cũng mong muốn văn học dịch  
phát triển để tinh hoa văn học nƣớc  
ngoài đến với ngƣời Việt sâu rộng  
hơn, văn học Việt Nam phát triển  
mạnh hơn. Ông tin tƣởng: “Nƣớc ta  
sau này hay dở thế nào đều nhờ ở  
sách dịch, và sự phiên dịch nó là nòng  
cốt khả dĩ đƣa văn học quốc ngữ đến  
cõi hoàn mỹ” (dẫn theo Nguyễn Hữu  
Sơn - Phan Mạnh Hùng, 2009: 207).  
Là ngƣời chân tâm với văn học, Kiều  
Thanh Quế rất lo lắng trƣớc bao biểu  
hiện xấu, có thể làm cản trở sự phát  
triển chung của văn học Việt Nam.  
Ông ái ngại trƣớc “cái lối văn chƣơng  
rƣờm rà mà trống rỗng đang nhiễu hại  
xứ này” (dẫn theo Nguyễn Hữu Sơn -  
Phê bình cũng là một hoạt động tiếp  
nhận. Kiều Thanh Quế là nhà phê  
Phan Mạnh Hùng, 2009: 213). Ông bình có cách tiếp nhận vừa tinh tế,  
băn khoăn, trăn trở vì “cái thói nhân vừa khách quan. Ông luôn xem xét  
vấn đề của văn học trong hoàn cảnh  
nó ra đời và cũng biết đứng trên quan  
điểm thời đại với một thái độ trung  
tuần nó nhiễu hại dƣờng kia” (dẫn  
theo Nguyễn Hữu Sơn - Phan Mạnh  
Hùng, 2009: 214).  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (259) 2020  
31  
hòa, để đánh giá sao cho công bằng. chí Trung Kỳ: “Thật là buồn!” (dẫn  
Ông cho rằng: “quan niệm về đẹp, về theo Nguyễn Hữu Sơn - Phan Mạnh  
Hùng, 2009: 179). Không riêng gì thời  
gian ở Cần Thơ, mà cả cuộc đời ngắn  
ngủi gắn bó với sự nghiệp nghiên cứu,  
phê bình văn học, Kiều Thanh Quế đã  
vui, buồn, sƣớng, khổ cùng với những  
thăng trầm của văn học nƣớc nhà.  
Tâm hồn ông nhƣ hòa nhập vào số  
phận chung của văn học nƣớc nhà.  
nghệ thuật, tùy mỗi thời đại, mỗi xã  
hội, mỗi cái khác nhau” (dẫn theo  
Nguyễn Hữu Sơn - Phan Mạnh Hùng,  
2009: 213). Có lẽ nhờ thế và cùng với  
cái tâm thiện, Kiều Thanh Quế thƣờng  
có cách phê bình rất ôn hòa, khách  
quan. Bao giờ ông cũng có khen chê  
rạch ròi, đúng mực. Hiếm thấy hiện  
tƣợng hạ bệ, chỉ trích nặng nề hay đả  
phá cay nghiệt nhƣ một số nhà phê  
bình khác từng làm. Bởi thâm tâm ông  
luôn hƣớng vào mục đích cuối cùng là  
nghiên cứu, phê bình để đƣa nền văn  
học Việt Nam đến sự phát triển một  
cách hoàn mỹ. Đôi khi, ông cũng  
buông lời trách móc: “Tự lực văn  
đoàn mỗi năm có phát giải thƣởng  
văn chƣơng khuyến khích nhân tài.  
Nhƣng rất tiếc giải thƣởng Tự lực  
văn đoàn chỉ là một giải tặng ròng  
Nguyễn Du từng cho rằng “chữ tâm  
kia mới bằng ba chữ tài”, nhƣng phải  
có tài, tâm mới thỏa. Kiều Thanh Quế  
vừa có tâm lại có tài. Cái tài của nhà  
phê bình không từng “học nghề”  
nhƣng lại rất chuyên nghiệp. Ở vào  
cái thời mà hoạt động phê bình còn  
hết sức non trẻ, Nam Bộ lại là nơi  
hiếm hoi ngƣời đặt chân vào địa hạt  
vừa mới mẻ, vừa phức tạp này, Kiều  
Thanh Quế đã rất vững bƣớc trên  
hành trình gian nan, nhiều thách thức,  
cho các loại tiểu thuyết, phóng sự, chính là nhờ vào tài năng nhƣ là thiên  
thơ ca, kịch bản, chớ chẳng hề có bẩm. Ông nhƣ một tay lái tài hoa, nắm  
tặng cho một tập văn nghị luận, khảo vững quy luật sông nƣớc, biết rõ cách  
chèo chống. Cho nên dù có phong ba,  
vẫn đƣa thuyền băng băng lƣớt sóng,  
chẳng hề biết sợ gì cả. Các công trình  
nghiên cứu của Kiều Thanh Quế đã  
chứng minh ông là một nhà phê bình  
có kiến thức uyên bác. Ông nắm rõ  
văn học trong và ngoài nƣớc. Để  
nghiên cứu thành công văn học, Kiều  
Thanh Quế còn ý thức trau dồi kiến  
thức của nhiều lĩnh vực khác. Nhờ thế,  
ông rất am hiểu lịch sử, địa lý, văn  
hóa. Đặc biệt, Kiều Thanh Quế có  
trình độ ngoại ngữ đáng ngƣỡng mộ.  
Ông đã vận dụng tài tình vốn ngoại  
ngữ vào việc nghiên cứu, phê bình.  
cứu phê bình nào! Phạm vi một giải  
thƣởng văn chƣơng mà chật hẹp nhƣ  
thế, thật đáng phiền hà lắm” (dẫn theo  
Nguyễn Hữu Sơn - Phan Mạnh Hùng,  
2009: 178). Cũng có lần, xuất phát từ  
sự lo lắng cho cái chung, Kiều Thanh  
Quế không kiềm nén đƣợc cảm xúc,  
trở nên cay cú, bực dọc: “trình độ thấp  
kém của độc giả nƣớc ta đã giết chết  
bao nhiêu tạp chí, tuần báo giá trị rồi?”  
(dẫn theo Nguyễn Hữu Sơn - Phan  
Mạnh Hùng, 2009: 179). Con ngƣời  
nặng tình với văn chƣơng và trách  
nhiệm lớn với văn hóa dân tộc ấy, lắm  
lúc phải xót xa trƣớc thất bại của báo  
HUỲNH THỊ LAN PHƢƠNG - NGUYỄN VĂN NỞ – KIỀU THANH QUẾ…  
32  
Nhất là với công trình Thi hào Tagore. Quế thƣờng rất ngắn nhƣng không vì  
Ông có kỹ năng đọc sách rất tốt. Sự thế mà thiếu ý. Giọng văn đặc sệt  
thông minh, nhạy bén giúp ông đọc Nam Bộ nhƣng không có vẻ quê mùa,  
nhanh nên tiếp cận rất nhiều sách lƣợm thƣợm nhƣ một số tác giả cùng  
Đông Tây, thâu tóm đúng những gì thời. Kiều Thanh Quế thích dùng từ  
cần thiết để đem ra bàn.  
Hán Việt vì thế câu văn tự nhiên mà  
vẫn trang trọng, mực thƣớc. Trong  
diễn đạt, ông có những liên tƣởng  
sinh động. Bàn về cách kết cấu trong  
đoản thiên tiểu thuyết, để nhấn mạnh  
tính chặt chẽ của nó, ông đã có một  
liên tƣởng khá thú vị: “Đoản thiên tiểu  
thuyết trọng nhất ở chỗ kết cấu. Nếu  
kết cấu làm sao khi đọc dứt bài rồi  
ngƣời ta mới thấy manh mối đầu đuôi  
và chừng ấy manh mối đầu đuôi mới  
càng ngày càng tỏ rõ thêm mãi, thời là  
một bài đoản thiên tiểu thuyết hay.  
Làm sao cho ngƣời đọc càng nhớ trở  
lại câu chuyện, càng thấy mỗi câu mỗi  
lời, có ý nghĩa thâm trầm thấm thía  
hơn hồi đƣơng đọc; càng thấy mỗi  
câu mỗi lời ở đúng vào chỗ của nó,  
càng thấy rút ra câu nào, lời nào, thời  
bài không còn vững nữa, cũng nhƣ  
trong một cái khung cửa vòng nguyệt  
xây bằng gạch không rút đƣợc viên  
nào ra mà không làm sập khung cửa  
vậy” (dẫn theo Nguyễn Hữu Sơn -  
Phan Mạnh Hùng, 2009: 216). Ngƣời  
đọc thời nay, tiếp nhận trang văn của  
Kiều Thanh Quế không cảm thấy quá  
xa cách, chuyện nói ở thế kỷ trƣớc mà  
cứ ngỡ nhƣ mới đây.  
Dù chƣa qua trƣờng lớp đào tạo,  
chƣa đƣợc trang bị một cách bài bản  
về phƣơng pháp nghiên cứu khoa học  
nhƣng các công trình nghiên cứu của  
Kiều Thanh Quế đã thể hiện tính khoa  
học khá cao. Các bài báo của Kiều  
Thanh Quế thƣờng ngắn gọn, đi thẳng  
vào vấn đề muốn nói, không biện giải  
dài dòng nhƣng vẫn cung cấp đủ  
lƣợng thông tin cho ngƣời đọc tiếp  
nhận đúng vấn đề. Công trình Ba  
mươi năm văn học dù đƣợc hoàn  
thành vào buổi bình minh của văn học  
quốc ngữ, công việc biên soạn văn  
học sử chƣa có nhiều thành tựu, Kiều  
Thanh Quế vẫn có đƣợc cách trình  
bày khoa học, rõ ràng, theo một quan  
điểm riêng, phác họa gƣơng mặt mới  
của văn học Việt Nam qua từng thể  
loại. Cách làm này, giúp ngƣời đời  
sau có thể nhận diện sự thịnh vƣợng  
hoặc chậm tiến của từng thể loại.  
Đồng thời, hình dung đƣợc tính đa  
dạng, phong phú của văn học quốc  
ngữ trong buổi đầu mới hình thành.  
Lập luận của Kiều Thanh Quế trong  
phê bình rất súc tích và chắc, mà  
cũng rất sinh động, dẫn dắt ngƣời đọc  
đi vào sự chú ý, cuốn hút theo dõi đến  
cùng. Văn phê bình của Kiều Thanh  
Quế gãy gọn, mộc mạc, chân tình.  
Một nét đặc biệt là đoạn văn trong bài  
báo hay chuyên khảo của Kiều Thanh  
Ngƣời Việt có câu tục ngữ rất hay:  
“Ngọc lành hay có tỳ vết”, ở đời không  
có gì là toàn vẹn cả! Thậm chí ngƣời  
tài còn dễ lắm tật. Kiều Thanh Quế  
không lắm tật nhƣ thói thƣờng của  
ngƣời đời. Và các công trình nghiên  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (259) 2020  
33  
cứu, phê bình của ông không sao Mạnh Hùng, 2009: 209). Một điều thật  
đáng tiếc, Kiều Thanh Quế còn giữ  
khoảng cách khá xa với công chúng.  
Ông xem họ là những ngƣời ít học,  
kém hiểu biết, trình độ thấp. Không ít  
lần, trong các bài viết của mình, Kiều  
Thanh Quế cho rằng: “trình độ độc giả  
lúc bấy giờ thấp kém lắm” (dẫn theo  
Nguyễn Hữu Sơn - Phan Mạnh Hùng,  
2009: 208). Và chính “trình độ thấp  
kém của độc giả nƣớc ta đã giết chết  
bao nhiêu tạp chí, tuần báo giá trị”  
(dẫn theo Nguyễn Hữu Sơn - Phan  
Mạnh Hùng, 2009: 179).  
tránh khỏi những hạn chế. Đọc tác  
phẩm của Kiều Thanh Quế, ta nhƣ  
đang ăn một bát cơm gạo mới thơm  
lừng, bất chợt chạm phải vài hạt sạn li  
ti, khiến ta ngậm ngùi tiếc nuối. Ngoài  
cái văn phong “còn khá luộm thuộm,  
cũ kỹ” (Nguyễn Thị Thanh Xuân 2004:  
358), ông còn có những quan niệm,  
kiến giải chƣa chuẩn xác, thể hiện sự  
chủ quan nhất định. Trong Ba mươi  
năm văn học, Kiều Thanh Quế chọn  
mốc thời gian năm 1914 - 1941 để  
tính sổ ba mƣơi năm của văn học  
quốc ngữ trong buổi đầu là thiếu hợp  
lý, không dựa trên một cơ sở nào  
mang tính thuyết phục. Do vậy, công  
trình nghiên cứu, giới thiệu của ông  
chƣa thể khái quát đƣợc đặc trƣng  
của văn học quốc ngữ trong chặng  
đƣờng đầu.  
Văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ là bộ  
phận đi tiên phong trong quá trình  
hiện đại hóa văn học Việt Nam. Nhiều  
cây bút tiểu thuyết, truyện ngắn ở  
Nam Bộ đã làm nên thành tựu xuất  
sắc trong giai đoạn mở đƣờng của  
văn học quốc ngữ. Thế mà, dƣờng  
nhƣ chƣa đƣợc Kiều Thanh Quế đánh  
giá cao và ghi nhận đúng mực. Nhất  
là vai trò đi tiên phong của văn xuôi  
quốc ngữ Nam Bộ. Khi đề cập đến  
những tác phẩm tiểu thuyết quốc ngữ  
trong thời kỳ đầu, ông chỉ bàn đến Tố  
Tâm của Hoàng Ngọc Phách. Kiều  
Thanh Quế nhấn mạnh: “Tiểu thuyết  
quốc ngữ bắt đầu thạnh hành từ năm  
1924, phát đạt vào năm 1932” và  
“1924: Tố Tâm ra đời” (Dẫn theo  
Nguyễn Hữu Sơn - Phan Mạnh Hùng,  
2009: 186). Thực tế, trƣớc đó, từ năm  
1910, Nam Bộ đã xuất hiện hàng loạt  
tiểu thuyết, đánh dấu giai đoạn thịnh  
hành của tiểu thuyết quốc ngữ, nhƣ:  
Hoàng Tố Anh hàm oan (1910) của  
Trần Thiên Trung, Ai làm được (1912)  
của Hồ Biểu Chánh, Hà Hương phong  
Là một cây bút tiêu biểu nhất của Nam  
Bộ thời bấy giờ, sinh ra, lớn lên và  
viết văn trên vùng đất này nhƣng Kiều  
Thanh Quế tỏ ra chƣa tin tƣởng nhiều  
vào văn học và các sinh hoạt văn hóa  
của Nam Bộ. Ông cộng tác đắc lực  
cho báo Tri Tân ở Hà Nội. Trong khi,  
báo chí Nam Bộ thời đó phát triển rất  
mạnh. Ở bài phụ lục “Chuyện buồn  
cười ở làng báo Nam Kỳ ngày xưa”,  
Kiều Thanh Quế tích cực khai thác  
mặt trái của giới báo chí Nam Bộ.  
Trong cái nhìn của ông, họ rất thực  
dụng, thiếu tƣ cách của ngƣời làm  
văn hóa: “hết công kích vị chủ bút nầy,  
lại chỉ trích ông đầu bút kia”, đến mức  
“phong trào cãi lộn ở làng báo Nam  
Kỳ bấy giờ ngày một thêm kịch liệt”  
(dẫn theo Nguyễn Hữu Sơn - Phan  
HUỲNH THỊ LAN PHƢƠNG - NGUYỄN VĂN NỞ – KIỀU THANH QUẾ…  
34  
nguyệt (1912) của Lê Hoằng Mƣu, Kiều Thanh Quế đã sớm về với đất  
Kim thời dị sử - Ba Lâu ròng nghề đạo mẹ. Sự ra đi của ông là niềm tiếc nuối  
tặc (1917) của Biến Ngũ Nhy, Nghĩa lớn lao. Với tài năng ấy, tâm chí ấy lẽ  
hiệp kỳ duyên (1920) của Nguyễn ra nền phê bình, nghiên cứu văn học  
Chánh Sắt…  
Việt Nam còn đƣợc đón nhận nhiều  
công trình xuất sắc hơn nữa. Mặc dù  
thời gian cống hiến quá ngắn ngủi  
nhƣng Kiều Thanh Quế đã cung cấp  
cho những ngƣời nghiên cứu về sau  
một nguồn tƣ liệu văn học sử vô cùng  
quý giá. Giới nghiên cứu học đƣợc ở  
ông rất nhiều, về phƣơng pháp, cách  
lập luận, cũng nhƣ cách cấu trúc cho  
một bài phê bình. Đặc biệt, phong  
cách phê bình mạnh dạn, dứt khoát,  
thẳng thắn mà ân cần, thành thật và  
chân tình của ông luôn tạo đƣợc ấn  
tƣợng đẹp trong lòng ngƣời đọc.  
Những gì Kiều Thanh Quế đã làm  
đƣợc hôm qua, ngày nay các thế hệ  
tiếp nối đang ghi nhận. Đặt trong bối  
cảnh nửa đầu thế kỷ XX, những công  
trình của Kiều Thanh Quế rất đáng  
ngƣỡng mộ, tôn vinh. Ông xứng đáng  
là niềm tự hào của văn học Nam Bộ.  
Trong đó, đất và ngƣời Cần Thơ đã  
đóng góp ít nhiều cho sự phát triển  
văn tài Kiều Thanh Quế.  
Ông chủ trƣơng phát triển văn học  
dịch, đề cao các thành tựu văn học  
nƣớc ngoài, nhằm hƣớng đến kích  
thích sự phát triển văn học nƣớc nhà.  
Đó là tấm lòng đáng ghi nhận ở Kiều  
Thanh Quế. Tuy nhiên, đôi khi ông  
quá đề cao nƣớc ngƣời, lại có phần  
tự ti về nƣớc mình: “tủ sách dịch của  
văn học quốc ngữ hãy còn kém tủ  
sách dịch ở các nƣớc lân bang nhiều  
lắm – nhƣ ở Tàu và Nhật chẳng hạn”  
(dẫn theo Nguyễn Hữu Sơn - Phan  
Mạnh Hùng, 2009: 204).  
Tuy nhiên, những hạn chế nói trên  
không hề làm lu mờ đóng góp đáng  
trân trọng của Kiều Thanh Quế đối với  
sự nghiệp nghiên cứu, phê bình và  
khảo cứu văn học. Chỉ là một chút tiếc  
nuối! Cái tâm, cái tài của Kiều Thanh  
Quế vẫn luôn ngời sáng trong lịch sử  
văn học nƣớc nhà.  
3. KẾT LUẬN  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Hoài Anh. 2001. Kiều Thanh Quế - nhà phê bình văn học hiếm có của Nam Bộ, in  
trong Chân dung văn học. Hà Nội: Nxb. Hội Nhà văn.  
2. Bằng Giang. 1974. Mảnh vụn văn học sử. Sài Gòn: Nxb. Chân Lƣu.  
2. Phạm Thế Ngũ. 1965. Việt Nam văn học sử giản ước tân biên. Sài Gòn: Nxb. Quốc  
học Tùng thƣ.  
3. Nguyễn Hữu Sơn - Phan Mạnh Hùng. 2009. Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam - Tuyển  
tập khảo cứu phê bình. Hà Nội: Nxb. Thanh niên.  
4. Nguyễn Thị Thanh Xuân. 2004. Phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.  
TPHCM. Nxb. Đại học Quốc gia TPHCM.  
pdf 12 trang yennguyen 12820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kiều Thanh Quế với những công trình ra đời trong thời gian bị quản thúc ở Cần Thơ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkieu_thanh_que_voi_nhung_cong_trinh_ra_doi_trong_thoi_gian_b.pdf