Liên kí hiệu trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái

UED Journal of Social Sciences, Humanities & Education, ISSN: 1859 - 4603  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC  
LIÊN KÍ HIỆU TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI  
Lê Thị Hường  
Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế, Việt Nam  
Tác giả liên hệ: Lê Thị Hường - Email: lethihuongsph@gmail.com  
Ngày nhận bài: 21-5-2021; ngày nhận bài sửa: 15-6-2021; ngày duyệt đăng: 17-6-2021  
Tóm tắt: Liên kí hiệu là một trong những thuật ngữ liên quan đến kí hiệu học văn học. Hiện nay, lí thuyết về kí hiệu học/kí hiệu  
học văn hóa đã trở thành phổ biến và được vận dụng như một khung tri thức để tham chiếu, giải mã văn bản nghệ thuật. Hồ Anh  
Thái được xem là “một nhà văn đang viết” với hàng chục cuốn tiểu thuyết. Mỗi tác phẩm của Hồ Anh Thái đều có sự va đập, sự  
lặp lại chuỗi kí hiệu thẩm mỹ. Tầm khái quát trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái cao, nhờ hệ thống liên kí hiệu. Tiếng nói bên trong văn  
bản nằm ở sự tương hỗ, tương tác giữa huyền thoại, cổ mẫu, biểu tượng. Sự liên kết chuỗi kí hiệu thẩm mỹ nằm trong chiến lược  
trần thuật của nhà văn.  
Từ khóa: kí hiệu; kí hiệu học văn hóa; liên kí hiệu; Hồ Anh Thái; tiểu thuyết; huyền thoại; tôn giáo; biểu tượng; chiêm bao; thiện  
và ác.  
hậu quyển” của văn bản nghệ thuật. Tính lặp lại các kí  
hiệu này có khả năng tạo nghĩa và các lớp nghĩa phái  
sinh. Theo Lê Huy Bắc: “Nói liên kí hiệu thực chất là nói  
1. Mở đầu  
Dẫu kí hiệu học hiện đại “đang trải qua giai đoạn buộc  
phải xét lại một số khái niệm cơ bản” (Lotman, 2015,  
đến khả năng tạo nghĩa của kí hiệu trên cơ sở các quan hệ  
88), nhưng hiện nay, lí thuyết về kí hiệu học đã trở thành  
tương tác” (Le, 2018, 137).  
phổ biến và được vận dụng như một khung tri thức để  
Từ góc nhìn kí hiệu học văn hóa, nếu xem tác phẩm  
tham chiếu, giải mã văn bản nghệ thuật. Các khái niệm  
văn học là một “kí hiệu đa văn hóa” thì trong tiểu thuyết  
liên quan đến kí hiệu học đã được đối thoại, giới thuyết,  
Hồ Anh Thái, đa văn hóa, liên văn hóa gắn liền với liên  
xác lập trong hầu hết các công trình về kí hiệu học văn  
kí hiệu. Mỗi tác phẩm của Hồ Anh Thái đều có sự va  
học/văn hóa (lí thuyết lẫn ứng dụng). Riêng về khái niệm  
đập các kí hiệu thẩm mỹ. Sự liên kết chuỗi kí hiệu nằm  
liên kí hiệu, cho đến nay vẫn còn là một thuật ngữ chưa  
trong chiến lược trần thuật của nhà văn.  
thông dụng và chưa có một định nghĩa thật xác thực. Iu.  
M. Lotman, một trong những nhà kí hiệu học hàng đầu  
của thế kỉ XX, đồng thời cũng là người đặt nền tảng cho  
2. Nội dung  
2.1. Liên kí hiệu – một mô thức kiến tạo văn bản  
lí thuyết kí hiệu học văn hóa, khẳng định: “Không một cơ  
chế kí hiệu học nào có thể hoạt động như một hệ thống  
biệt lập, trong môi trường chân không. Điều kiện hoạt  
động chủ yếu của nó là đầm mình vào kí hiệu quyển- vào  
không gian kí hiệu học” (Lotman, 2015, 89). Sự gắn kết,  
tương hỗ giữa các kí hiệu (có tính lặp lại), làm nên “khí  
Với chủ trương lấy văn bản làm trung tâm, trong  
công trình Kí hiệu học văn hóa, Iu. M. Lotman khẳng  
định: “Văn bản mới bao giờ cũng gắn với các văn bản  
cũ bằng những quan hệ đối thoại, nó bảo tồn các văn  
bản ấy trong kí ức của mình”; “Các kí hiệu tạo thành  
văn bản, các văn bản tạo thành văn hóa, các văn bản tạo  
thành kí hiệu quyển” (Lotman, 2015, 59). Theo nghĩa  
đó, kí hiệu tồn tại trong tác phẩm văn học như một công  
cụ kiến tạo văn bản nghệ thuật. Mô thức kiến tạo này rõ  
nét trong một kiểu tác giả mà tiêu biểu là Hồ Anh Thái.  
Tạo mã với các chuỗi kí hiệu đặc thù (lặp lại trong một  
Cite this article as: Le, T. H. (2021). Inter-symbol in Ho Anh  
Thai's novels. UED Journal of Social Sciences, Humanities  
and Education, 11(1), 172-178.  
172 | Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 11, Số 1 (2021), 172-178  
ISSN: 1859 - 4603, UED Journal of Social Sciences, Humanities and Education, Vol. 11, No. 1 (2021), 172-178  
và nhiều tiểu thuyết) chính là một chiến lược trần thuật  
của Hồ Anh Thái, với lối tự sự đa thanh, nhiều gợi mở.  
Trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái tính liên kí hiệu biểu  
hiện ở hai mối quan hệ. Một là, sự tương tác giữa các kí  
hiệu trong một văn bản tiểu thuyết. Hai là, chuỗi kí hiệu  
xuyên suốt nhiều tiểu thuyết với các nghĩa phái sinh.  
Trường hợp thứ hai, nhìn một cách hệ thống, có thể  
thấy tính lặp lại trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái qua  
chuỗi kí hiệu xuyên văn bản. Tác phẩm phái sinh có mối  
quan hệ với tác phẩm gốc, có khi trùng một mẫu đề, có  
lúc trùng lặp một phần, một chương, một nhân vật…  
của tác phẩm gốc. Nói cách khác, cuốn tiểu thuyết này  
dung chứa một phần của tiểu thuyết khác qua sự trùng  
lặp kí hiệu, hoặc tái hiện nguyên văn như một dụng ý  
nghệ thuật của tác giả. Tính phái sinh rõ nhất là ở hai  
tác phẩm Đức Phật, nàng Savitri và tôi và Tranh Van  
Gogh mua để đốt. Cả hai tiểu thuyết đều gây ấn tượng  
ngay từ nhan đề với sự liên kết kí hiệu. Đức Phật,  
nàng Savitri và tôi là dụng ý lạ hóa với cách sắp xếp  
đồng đẳng, ngang phè giữa thiêng và phàm, huyền  
thoại và giải huyền thoại, cổ đại và đương đại. Mở đầu  
tác phẩm, nhà văn/Tôi/người kể chuyện giới thiệu một  
Kumari- Nữ Thần Đồng Trinh gắn liền với tập quán cổ  
xưa ở Nepal:  
Trường hợp thứ nhất, trong mỗi tác phẩm của Hồ  
Anh Thái luôn có một hệ thống kí hiệu chằng chịt, mỗi  
kí hiệu thẩm mĩ đều có sự tương tác với các kí hiệu  
khác để tạo nghĩa mới. Trong tiểu thuyết Tranh Van  
Gogh mua để đốt sự tương hỗ giữa các kí hiệu đã làm  
nên một “tổ hợp kí hiệu” mở rộng nội dung tác phẩm.  
Hồ Anh Thái luôn tạo lực hút từ nhan đề. Xâu chuỗi  
toàn bộ tiểu thuyết của nhà văn, nhan đề chính là  
những mã văn hóa, hình thành từ sự liên kết các kí  
hiệu. Tên cuốn tiểu thuyết như một kí hiệu phản đề,  
Tranh Van Gogh/mua/để đốt. Tranh nào giữa những  
bức tranh tuyệt mĩ đa phần được vẽ trong những cơn  
điên vật vã của danh họa Hà Lan? Tranh nào trong  
những bức tranh vô giá đã từng chịu số phận hẩm hiu,  
thậm chí có bức tranh còn được dùng để che chắn  
chuồng gà. Ai mua? Tại sao đốt? Ai đã phạm tội hủy  
diệt văn hóa nhân loại? Mã nhan đề gợi dẫn nhiều chủ  
điểm trong tác phẩm; đó là bi kịch người trí thức nghệ  
sĩ tài năng, là bi hài kịch hội họa (thời đại Van Gogh  
và rộng hơn là trong đời sống đương đại)... Ngoài tính  
chất gợi dẫn của nhan đề, chuỗi kí hiệu liên kết, phái  
sinh là Lửa (đốt/hủy) và Trắng (sương mù/vô minh).  
Phái sinh từ bức Chân dung bác sĩ Gachet của Van  
Gogh là vô vàn những bức tranh trắng (“Trắng tinh.  
Trắng xóa. Trắng bạch. Trắng muốt. Trắng hếu. Trắng  
nhởn. Trắng mù như sương. Trắng nhờ nhờ như  
khoảng sáng trước bình minh. …”; “Nhiều trắng quá.  
Giả sử mở một cuộc triển lãm, tên triển lãm sẽ là  
Trắng. Một chữ thôi. Trắng”). Những bức trắng lại  
phái sinh vô số những cái tên (“…tuôn ra những  
là Tảng băng trôi với Hôn lễ trắng, Góa phụ trắng,  
Hai bàn tay trắng, Cuộc tình màu trắng. Thêm Giao  
hưởng trắng, Khói trắng, Những cuộc tình màu trắng.  
Nhiều trắng quá”). Từ một bức tranh nhân bội lên  
nhiều bức tranh. Trắng hiện diện xuyên khắp, như một  
kí hiệu đa bội, gắn kết các mảnh, các mã văn hóa.  
Trắng là một ảnh tượng siêu hình về ý nghĩa cuộc đời;  
là phi lí, ngụy tín trong văn học nghệ thuật và những  
hệ lụy của nó trong đời sống con người.  
“Người ta bảo cô là một Kumari.  
Kumari chỉ có nghĩa là đồng trinh. Nhưng không ai  
gọi bất cứ một bé gái nào trước tuổi dậy thì là kumari.  
Đã được gọi là Kumari thì chỉ có thể hiểu đó là Nữ  
Thần Đồng Trinh. Chỉ có một. Không ai hiểu khác.  
(Đức Phật, nàng Savitri và tôi)  
Trong tác phẩm sau, Tranh Van Gogh mua để đốt,  
việc lặp lại một chương của tiểu thuyết trước chính là  
chiến lược trần thuật xuyên văn bản. Những trang sách  
gốc được ghi lại ở văn bản sau với kí hiệu Thánh Nữ  
Đồng Trinh biểu hiện những suy ngẫm về nhân sinh-  
“Người ta bảo cô là một Kumari…” [2 trang nguyên  
văn]. Tuy vậy, ở văn bản sau, lớp cấu trúc kí hiệu Thánh  
nữ Đồng Trinh xuất hiện không nguyên phiến mà mang  
ý nghĩa phái sinh. Cô gái nửa H’Mông nửa Kinh (không  
tên, không lời nói, lai lịch mù mờ, từ chỗ thấy chữ là  
choáng váng đến chỗ đọc vanh vách những quyển sách  
toàn là giấy trắng) chính là phiên bản của Thánh nữ  
Đồng Trinh Kumari/Savitri kiếp sau. Giữa nhốn nháo  
cõi người, giữa giả trá vây bủa, chỉ có cô gái là tinh  
khiết trong trẻo. Đến nỗi Tôi bật thốt: “Liệu cô có phải  
là một Nữ Thần Đồng Trinh nữa, không phải bên Ấn Độ  
bên Nepal, mà ở ngay giữa xứ này”. Đối sánh giữa hai  
văn bản, nếu nàng Savitri Nữ Thần Đồng Trinh có khả  
năng nhìn xuyên qua đêm tối và xuyên qua sương mù  
(trong “cái tăm tối mù lòa ngu dốt. Cả thế gian cùng lúc  
chìm trong vô minh”, “cái vô minh quay tròn bao bọc”),  
173  
Lê Thị Hường  
thì cô gái H’Mông, giữa cõi vô minh duy nhất chỉ cô là  
sáng. Cô gái H’Mông là thánh nữ giữa chốn xô bồ giả  
dối, là điểm sáng giữa cõi người đen tối. Cũng vậy, liên  
kí hiệu này cũng phái sinh trong một số tiểu thuyết khác  
của Hồ Anh Thái. Ở tác phẩm Cõi người rung chuông  
tận thế, Mai Trừng như Thánh Nữ Đồng Trinh, không  
chảy máu, mang sứ mệnh tiêu diệt cái ác đầy rẫy trong  
cõi người. Khi Mai Trừng “chảy máu”, là lúc cô được  
về lại cuộc đời đầy biến động nhưng cũng lắm yêu  
thương. “Ở một nước Nam Á, người ta có tục tôn những  
bé gái lên làm nữ thần sống, làm nữ thần đồng trinh. Nữ  
thần cũng sẽ bị phế truất khi nào đến tuổi dậy thì, hoặc  
bị tai nạn xước da chảy máu” (Cõi người rung chuông  
tận thế). Trong Đức Phật, nàng Savitri và tôi, khi  
Savitri “đúng tuổi trở thành thiếu nữ, đúng tuổi dậy thì,  
chính xác là đúng ngày đầu có kinh nguyệt, Nữ Thần  
Đồng Trinh sẽ chấm dứt trị vì trên ngôi. Nữ Thần Sống  
được trở về với đời thường”; “Nữ Thần Sống sẽ thôi là  
nữ thần khi nào bị chảy máu”. Những giọt máu trinh nữ  
đã đưa Kurami trở lại đời thường đầy dục lạc. Những  
giọt máu từ lòng thù hận dai dẳng đã đưa Mai Trừng về  
lại cõi người và “em sung sướng được làm một người  
bình thường”. Cũng qua biểu tượng Thánh Nữ Đồng  
Trinh, triết lí nhân sinh về nỗi đau truyền kiếp, về hận  
thù, cởi buộc, về thiện ác được nhà văn làm rõ hơn  
trong Dấu về gió xóa: “Giống như bên Nepal, Vua và  
Hoàng gia không phải quì lạy trước bất cứ ai, chỉ trừ  
duy nhất Nữ thần Đồng Trinh, một cô bé tuổi nhi đồng  
được phong lên”.  
thuật, tác giả đã tạo các mã văn học/văn hóa. Tiếng nói  
bên trong văn bản nằm ở sự tương hỗ, va đập giữa  
huyền thoại, cổ mẫu, biểu tượng.  
Mã huyền thoại về trinh nữ  
Theo Roland Barthes, “là ngôn từ, nên tất cả đều có  
thể là huyền thoại, nó liên quan đến diễn ngôn. Huyền  
thoại không xác định bởi đối tượng thông điệp của nó,  
mà bởi cách nó phát ra thông điệp ấy: có những giới hạn  
về hình thức đối với huyền thoại, chứ không có những  
giới hạn về thực thể” (Barthes, 2008, 289). Chính huyền  
thoại đã mở ra nhiều tầng nghĩa qua những liên tưởng  
phong phú. Một trong những huyền thoại lặp đi lặp lại  
trong văn bản tiểu thuyết Hồ Anh Thái là câu chuyện về  
trinh nữ với nhiều nghĩa tiềm ẩn. Dẫu không muốn đặt  
ra vấn đề nữ quyền, thậm chí có lúc giễu nhại những  
giáo điều của nữ quyền luận, tuy vậy, có thể xem Hồ  
Anh Thái là một trong những nhà văn sớm quan tâm  
đến số phận những người phụ nữ từ cái nhìn văn hóa  
nhân văn. Trong hệ thống biểu tượng trùng phức, trinh  
tiết biểu đạt đến cùng thân phận đàn bà. Người đàn bà  
trên đảo (1985) là cuốn tiểu thuyết sớm đề cập phận đời  
của những cô gái trong và sau chiến tranh- một chủ đề  
được văn học hậu chiến quan tâm. Bằng biểu tượng về  
dương vật (“một măng hai mít, đó là hàm ý cái dương  
vật, thưa chủ tướng”), nhà văn làm nổi bật ham muốn  
dục lạc và bản năng làm mẹ của những cô trinh-nữ-  
luống-tuổi trên hòn đảo gần như hoàn toàn vắng bóng  
đàn ông. Xoay quanh câu chuyện đã thành huyền thoại  
về rừng mít “quả sum suê, hương đậm đặc, ngốt ngát”  
và rừng vầu “măng non đâm tua tủa, sức sinh sôi nảy nở  
của chúng hóa thành một mãnh lực, không gì có thể kìm  
hãm được” là dục vọng đàn ông và khao khát đàn bà.  
Kìm nén và bung xả, bản năng và lí trí, ba mươi tám cô  
gái trên đảo chỉ thực sự là đàn bà khi tìm cách mở lối  
đến thung lũng Bò Vàng, ở đó có một thanh niên hai  
mươi bốn tuổi, buồn chán, tuyệt vọng, đêm đêm tìm về  
bãi cát, nơi “những người đàn bà luống tuổi vẫn đợi ở  
đấy”. Mang tội chửa hoang, những người đàn bà nhân  
danh trinh tiết để nói lên tiếng nói quyền uy: “Tôi giữ  
thân cho ai nữa, trinh tiết cho ai, khi mà chỉ có một  
mình cô đơn”. Những người phụ nữ như Miền, như  
Luyến, như Thắm…luôn lẫn lộn, dày vò giữa một bên là  
“mặc cảm ô nhục, tội lỗi” và một bên là “niềm mong  
chờ hạnh phúc”. Tiếng nói đòi quyền sống (đồng nghĩa  
với dục lạc) sớm được khẳng định trong giai đoạn văn  
học vẫn còn nối dài cảm hứng sử thi.  
2.2. Liên kí hiệu từ huyền thoại, biểu tượng và  
sự truyền dẫn  
Theo kết quả nghiên cứu của Trịnh Bá Đĩnh, có  
quan niệm đồng nhất kí hiệu với biểu tượng (tiêu biểu là  
E. Cassirer, Ch. Pierce); có quan niệm coi biểu tượng  
như một dạng kí hiệu đặc biệt (Lotman, Todorov, Freud,  
Jung); có quan niệm xem biểu tượng là “một hiện tượng  
thiêng liêng thần bí, một thông điệp của đấng tối cao gửi  
đến con người” (Trinh, 2017, 25). Từ góc nhìn kí hiệu  
học văn hóa, tính kí hiệu trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái  
thống hợp các quan niệm trên. Sự tĩnh lược đối thoại, để  
cho biểu tượng lên tiếng là đặc điểm của tiểu thuyết Hồ  
Anh Thái. Biểu tượng vốn mang trong bản thân nó  
những “kinh nghiệm văn hóa cộng đồng”, qua nghệ  
thuật sáng tạo, dụng ngôn của nhà văn, càng phái sinh  
nhiều ý nghĩa. Bằng liên kí hiệu, qua hệ thống huyền  
thoại, biểu tượng, các motif… lặp lại theo dụng ý nghệ  
174  
ISSN: 1859 - 4603, UED Journal of Social Sciences, Humanities and Education, Vol. 11, No. 1 (2021), 172-178  
Trở lại vấn đề đã nêu, trong tiểu thuyết Hồ Anh  
Thái, các mã huyền thoại về trinh nữ phái sinh từ cổ  
mẫu Thánh Nữ Đồng Trinh. Từ mẫu hình trong huyền  
thoại, trong tập tục đến những phái sinh, nhà văn đã tạo  
mã về dục vọng đàn bà, vấn đề không phải là không còn  
sức gợi. Trong Dấu về gió xóa, câu chuyện về Đảo  
Xanh gắn liền với chính trị, ngoại giao, văn hóa, tôn  
giáo… trở nên đa dạng nhờ đan xen chuỗi huyền thoại  
về trinh nữ. Là hủ tục ở vùng hồ Núi Lửa, mỗi năm phải  
nộp cho Thần Nước một mạng trinh nữ, “người con gái  
khỏa thân ướp trong hoa hồng, bị bỏ trong miếu thờ  
Thần Nước. Ở đó “cô sẽ gieo mình xuống nước tư thế  
một con chim trắng”. Là truyền thuyết về Hòn Guốc  
(mảnh vỡ của huyền thoại về vũ trụ), Xóm Chửa Hoang,  
là hang cá voi “càng vào sâu trong lòng cá voi càng rạo  
rực như gặp người tình”, giấc mơ ân ái với cá voi là  
“…niềm hoan lạc mãnh liệt đủ dự trữ cho họ cả một  
đời”. Và những đứa Con Trai Cá ông ra đời, được để  
tang cha, được tổng thống nghiêng mình cúi chào trong  
đám tang. Là vô thức tập thể, huyền thoại tồn tại trong  
tâm thức cộng đồng, đến lượt mình, nhà văn vừa dẫn  
huyền thoại vừa tái cấu trúc, giải huyền thoại khiến câu  
chuyện cổ xưa không còn nguyên phiến mà mang chứa  
nhiều ý nghĩa. Huyền thoại công chúa Draupadi làm vợ  
chung của năm anh em nhà Pandava trong sử thi  
Mahabharata được tái cấu trúc, lấp đầy những khoảng  
trống, những ý nghĩa khác “bị bỏ sót”, “bị ẩn giấu”  
trong sử thi. Nhà văn như vừa chép lại huyền thoại vừa  
“tiếp tục sáng tạo ra huyền thoại”. Huyền thoại quần  
hôn được ghép thêm những mảnh ghép của năm đêm  
tân hôn êm ái dịu dàng ê chề rã rời hoan lạc. Mượn  
huyền thoại nhà văn thấu cảm nỗi đau dày vò thân xác  
của phụ nữ từ khoái lạc đàn ông. Từ đó, chuỗi huyền  
thoại trong tác phẩm Hồ Anh Thái không chỉ thuộc về  
cổ xưa mà là những huyền thoại về cái hiện tại, của  
ngày hôm nay.  
Theo cách nói của Frédéric Gaussen, giấc mơ/chiêm  
mộng là “biểu tượng của một cuộc phiêu lưu cá thể,  
được cất sâu trong tâm khảm đến nỗi nó vượt ra khỏi  
vòng cương tỏa của người sáng tạo ra nó; chiêm mộng  
hiện ra với chúng ta như là biểu hiện bí mật nhất và trơ  
trẽn nhất của chính chúng ta” (Chevalier & Gheerbrant,  
2002, 164). Xem chiêm bao là cửa sổ kí hiệu học, I.  
Lotman cho rằng: “Đặc điểm của chiêm bao là tính đa  
ngữ: nó không đặt chúng ta vào những không gian riêng  
rẽ, mà nhấn chìm chúng ta vào sự hòa quyện của không  
gian thị giác, ngôn từ, âm nhạc và những không gian  
khác giống như thật”; “Chiêm bao là tấm gương kí hiệu  
học, mỗi người nhìn thấy ở đó hình ảnh ngôn ngữ của  
mình” (Lotman, 2015, 193). Trong tiểu thuyết Hồ Anh  
Thái, hai dạng giấc mơ xuất hiện xuyên văn bản là giấc  
mơ tính dục và cơn ác mộng về “ác giả ác báo”. Giấc  
mơ là “kí hiệu của ham muốn”, “giọng nói của ẩn ức  
tính dục” (Freud). Nhân vật tiểu thuyết Hồ Anh Thái  
thường có đời sống tính dục phong phú. Ở những hoàn  
cảnh đặc biệt, họ thường rơi vào trạng huống kìm nén  
bản năng và để lộ ra phần bí mật nhất và trơ trẽn nhất  
trong những cơn mơ phóng đãng với một chuỗi ảo ảnh  
ma quái. Sống ở nông trại gần như thiếu vắng bóng đàn  
bà, “cách dăm ngày, Hòa lại cảm thấy một cái đầu quay  
cuồng, vật vã trên ngực mình…” (Người đàn bà trên  
đảo). Những giấc mơ tính dục của công chúa Savitri  
(tiền kiếp) là tiếng nói của dục vọng giữa bể khổ trần  
gian. Trong giấc mơ của Savitri, người đàn bà tuổi hồi  
xuân, người tình Yasa hiện về, “vẻ quằn quại vật vã.  
Mười mấy năm theo Phật, ám ảnh dục lạc tưởng như đã  
dẹp bỏ, nay lại thức dậy quay cuồng (Đức Phật, nàng  
Savitri và tôi). Những giấc mơ dục lạc, những thao tác,  
hành vi tính dục thừa mứa, đôi khi quá ngưỡng lại mang  
chứa quan niệm bể khổ đời người. Giấc mơ của những  
người đàn bà ở Xóm Chửa Hoang thấy mình ngủ với cá  
voi (biểu tượng đàn ông mạnh mẽ; tiếng nói của những  
cơn khát và hưng phấn tính dục) - “Một thứ hương đê  
mê. Gió dồi sóng dập. Trời đất quay cuồng đảo ngược.  
Núi đá vặn mình tung tóe nước non” (Dấu về gió xóa).  
Giấc mơ về tội ác và trừng phạt cũng lặp lại nhiều lần,  
là một mã văn hóa xuyên văn bản. Thiện ác là qui luật  
tự nhiên. G. Bataille, nhà triết học người Pháp, người  
ủng hộ cho văn học viết về cái ác, cho rằng: “Văn học là  
cơ sở của tồn tại hoặc không là gì cả. Nó là hình thức  
thể hiện rõ nét của cái Ác, một cái Ác theo tôi nghĩ, có  
một giá trị tối thượng. Quan điểm này không đòi hỏi sự  
Chiêm bao - một chuỗi kí hiệu đa nghĩa  
Về mặt lí thuyết, chiêm bao được xem là vấn đề cốt  
lõi của phân tâm học. Nghiên cứu nhiều về chiêm bao,  
Sigmund Freud xem giấc mơ là tiếng nói của vô thức,  
để giải mã phải thông qua hệ kí hiệu/ngôn ngữ của giấc  
mơ (Freud, 2018). Carl Jung cũng chú ý đến tính biểu  
tượng của giấc mơ khi cho rằng “chiêm mộng là sự tự  
thể hiện một cách tự phát và tượng trưng cái thực trạng  
của vô thức” (Chevalier & Gheerbrant, 2002, 164).  
175  
Lê Thị Hường  
phạt, không đáng kể, chẳng có chức năng gì từ điểm nhìn của  
phân tích cấu trúc truyện kể.  
thiếu vắng đạo đức, nó yêu cầu một “siêu đạo đức”  
(Bataille, 2016). Trong văn học Việt Nam đương đại,  
Hồ Anh Thái là một trong những nhà văn sớm viết về  
cái ác với quan niệm “Cuộc sống chỉ chia ra hai màu  
Thiện – Ác, không hơn” (Dấu về gió xóa). Trong nhiều  
tiểu thuyết Hồ Anh Thái, cái ác chiếm lĩnh, bầy đàn,  
đông đúc, dai dẳng. Cái ác muôn hình vạn trạng dưới  
mọi hình thức tàn độc. Cái ác hủy hoại nhân tính. Trong  
kí hiệu quyển đó, có những giấc mơ thoáng qua, như  
những “kí hiệu vô bổ” (chữ dùng của A. Compagnon)1  
chìm khuất giữa các sự kiện xảy ra dồn dập nhưng chính  
là tiếng nói chất vấn của lương tri con người. Những  
giấc mơ thiêng hóa giải lời nguyền, hướng thiện trong  
cõi ác; những giấc mơ nhân quả (Mười lẻ một đêm, Cõi  
người rung chuông tận thế, Năm lá quốc thư). Khi Hồ  
Anh Thái viết về nhân quả, cái chết, nghiệp báo, cứu  
chuộc, motif tội lỗi – trừng phạt trở thành chủ đề đạo  
đức xuyên văn bản, cảnh báo về cái ác ngự trị dẫn đến  
sự suy thoái đạo đức nhân văn, đạo đức sinh thái. Quan  
niệm nhân quả của nhà văn dung hợp giáo lí Phật giáo,  
Thiên chúa giáo lẫn tín ngưỡng dân gian. Ở hiền gặp  
lành, ở ác đền tội (dân gian); “do cái này sanh, cái kia  
sanh”; “do cái này diệt, cái kia diệt”; gieo nhân nào thì  
gặt quả ấy (Phật giáo); “Vì chúng nó đã gieo gió và sẽ  
gặt bão lốc”, “Tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì  
gươm” (Sách Khải huyền). Gắn liền với tín ngưỡng dân  
gian, làm ác và hành thiện đều gắn với những thế lực  
siêu nhiên. Tuy vậy, những yếu tố siêu nhiên trong sáng  
tạo của Hồ Anh Thái “không quá xúc phạm tới lí trí”  
(Todorov). Nó là phương tiện, là kí hiệu để nhà văn biểu  
đạt hiện thực thậm phồn, với các chiều kích tâm linh.  
Mẫu đề cõi người-cõi tạm-bể khổ lặp lại nhiều lần qua  
biểu tượng cái chết, hoặc những sátna vô thường. Cõi  
người rung chuông tận thế là tác phẩm thể hiện rõ quan  
niệm đời là cõi tạm, đời là bể khổ của Phật giáo. Làm  
ác, hận thù, truy đuổi, báo oán là một chuỗi khổ ải trầm  
luân. Nạn nhân của cái ác tồn tại dai dẳng là em bé với  
môi hôn của thiên thần, chết đúng vào lễ sinh nhật lần  
thứ hai, “đôi mắt mở to nhìn đi xa hút. Trên môi đọng  
một cái cười nhếch mép. Ở khóe mép là một nếp nhăn  
hằn sâu  
của người già. Cái cười và nếp nhăn của người đã ngộ,  
đã thành chính quả, đã hiểu hết và thấu suốt tất cả”;  
“Đến thăm cõi đời này, nó nhìn xoáy như muốn lột vỏ  
con người. Giã biệt cõi đời này, nó nhìn xuyên thấu và  
nhếch mép cười mọi trò trẻ con nhăng nhố”. Và trong  
giấc mơ, nhân vật Đông thấy con gái hiện về trong  
“dáng vẻ của một thiếu phụ, tay cầm một bó hoa hồng  
tua tủa gai”. Trong Tranh Van Gogh mua để đốt, cô  
thiếu nữ H’Mông trinh nguyên, mang dáng dấp của Nữ  
Thần Sống, trong một khoảnh khoắc mà như sống qua  
hai kiếp. Khi cô gái đọc những cuốn sách trắng cô bỗng  
như trải qua nhiều kiếp khổ. Những tri thức cổ kim  
đông tây mà cô “khai quật lên từ những trang giấy trắng  
mù thì không một đứa con gái hồn nhiên vô tư nào có  
thể mang nặng trên vai”. Trong khoảnh khắc ấy “trên  
gương mặt cô vẻ già sọm của một bà cụ. Cô gái đã hóa  
thành bà lão”; “Đấy là vẻ của một người tóc bạc trắng  
chỉ sau một đêm vì đau thương”. Tiểu thuyết Hồ Anh  
Thái giàu chất triết lí. Có lúc nhà văn diễn giải dài dòng  
qua lời trần thuật, nhưng phần lớn những suy tư chiêm  
nghiệm toát lên từ các chuỗi kí hiệu xuyên văn bản,  
thành nét chủ đạo trong phong cách nhà văn.  
Liên kí hiệu biểu đạt hiệu quả tính liên văn  
hóa/liên tôn giáo  
Nhà triết học người Áo, Ludwig Josef Johann  
Wittgenstein – người được xem là có đóng góp lớn đối  
với sự ra đời của triết học liên văn hóa, chủ trương  
“dung hoà chủ nghĩa tương đối văn hóa với chủ nghĩa  
phổ quát văn hóa và cố gắng tìm ra tính thống nhất  
trong sự đa dạng của các nền văn hóa, các thế giới quan  
và các phương thức sống khác nhau” (Nguyen, 2019).  
Từ góc nhìn liên văn hóa, dẫu tác phẩm Hồ Anh Thái đa  
dạng về đề tài, các kiểu nhân vật cũng như nghệ thuật tự  
sự nhưng điểm thống nhất trong tiểu thuyết của ông là  
luôn có sự đối thoại và thống hợp các nền văn hóa của  
các dân tộc có căn tính, bản sắc khác nhau. Ngay cả  
những tiểu thuyết về chuyện đời xô bồ nhốn nháo dục  
lạc và cái ác cũng đan xen những mảnh ghép giàu trữ  
lượng liên văn hóa. Trong các văn bản, chuỗi kí hiệu  
với chất kết dính của nó đã kiến tạo một thế giới nghệ  
thuật mang tầm khái quát cao. Đặc biệt, trong số các  
nhà văn chuyên viết về tôn giáo, Hồ Anh Thái là người  
thể hiện nhất quán quan niệm liên tôn. Nhà văn nhìn  
thấy sự hòa hợp giữa các tôn giáo trên nền tảng riêng  
1Trong Bản mệnh của lí thuyết (Compagnon, 2006),  
Compagnon nêu khái niệm “kí hiệu vô bổ” và giải thích đó là  
những chi tiết “thừa”, quấy rầy bởi nó hoàn toàn vô thưởng vô  
176  
ISSN: 1859 - 4603, UED Journal of Social Sciences, Humanities and Education, Vol. 11, No. 1 (2021), 172-178  
của từng giáo phái. Điểm gặp gỡ giữa các tôn giáo Đông  
Tây là tinh thần vì con người, hướng về cuộc sống hài  
hòa, ổn định của con người. Dẫu Đức tin có khác nhau,  
nhưng các tôn giáo lớn đều hướng đến khổ nạn kiếp  
người; mong mỏi cuộc sống an yên cho muôn loài.  
chìm trong một trận hồng thủy ngập tràn kim loại”.  
Trong âm thanh tiếng chuông chùa hoảng loạn là “sấm  
ngôn” về “thời giờ đã gần đến”, về “một điều gì đó sắp  
phải xảy ra”, trong đó có mặc khải tận thế (Kinh  
Thánh). Hồng thủy kim loại, biển lửa… là những kí  
hiệu thẩm mĩ mang tính cảnh báo về tình trạng phi nhân  
dẫn đến tận diệt. Nếu Lửa trong Cõi người rung chuông  
tận thế là lời cảnh báo về hủy diệt sinh thái trước cái Ác  
thì thông điệp này cũng xuất hiện ở những tiểu thuyết  
sau- “Cả thành phố như đang chìm trong lửa…Cơn giận  
dữ của Đức Chúa đang ở trên thành phố”; “Cả một biển  
lửa đang trùm lên khắp thành phố, khói làm dân chúng  
ngạt thở, người ta ngất đi hoặc lao vào lửa vì đã hóa  
điên…” (Dấu về gió xóa).  
Erich Fromm đã chỉ ra điểm chung giữa các tôn  
giáo với quan niệm: “Vấn đề tôn giáo không phải là vấn  
đề thượng đế mà là vấn đề con người; sự hình thành các  
tôn giáo và những biểu tượng tôn giáo là những nỗ lực  
nhằm diễn đạt một số dạng trải nghiệm của con người”  
(Fromm, 2012, 166). Xoay quanh vấn đề Con Người -  
Thiện Ác, Hồ Anh Thái cho rằng, tôn giáo “như một cái  
phanh hãm, nó có thể phanh thắng con người dừng lại  
bên bờ vực tội lỗi, trước vùng ranh giới thiện-ác, bóng  
tối-ánh sáng” (Dấu về gió xóa). Tư duy liên tôn giáo thể  
hiện một cách nhìn, một lối suy nghiệm đa chiều về thế  
giới và con người. Vốn tri thức phong phú từ việc tiếp  
nhận các luồng tư tưởng Đông Tây cộng với những thực  
chứng từ nhiều vùng đất thánh nhà văn đã sống, qua hệ  
thống liên kí hiệu đã chuyển hóa thành những khái quát  
mang tầm triết lí nhân sinh. Cõi người rung chuông tận  
thế đan xen những quan niệm, nghi thức của tín ngưỡng  
dân gian, Phật giáo và Thiên chúa giáo. Đức Phật, nàng  
Savitri và tôi không đơn thuần là Phật sử. Năm lá quốc  
thư chủ yếu viết về căn tính của người Việt nhưng bên  
cạnh đó là những mảnh ghép về Hồi giáo. Quan niệm  
liên tôn giáo có khi được biểu đạt qua hình thức liên văn  
bản (Kinh Phật, Thánh kinh, lời của Hindu giáo, Hồi  
giáo…) hoặc qua diễn ngôn người kể chuyện; có lúc  
qua chuỗi kí hiệu/biểu tượng về tính thiêng. Từ quan  
niệm liên tôn, tiếng chuông trong tiểu thuyết Hồ Anh  
Thái là “tiếng nói” của nhiều tôn giáo. Dấu về gió xóa là  
tác phẩm luận bàn nhiều về các tôn giáo. Nhà văn nhìn  
ra điểm chung của các tôn giáo là đều hướng con người  
đến thiện lành. Vì vậy, ở Đảo Xanh có một ngôi đền Đa  
giáo, Hợp chủng giáo; có tiếng chuông dành cho mọi tín  
đồ: “Chuông nhà thờ đánh suốt ngày, ban đầu là đánh  
chuông cho người Tin Lành người Thiên Chúa giáo.  
Sau rung chuông cho người Hindu, người Hồi giáo  
người Hỏa giáo, sau thỉnh chuông cho Phật giáo”. Trong  
Cõi người rung chuông tận thế, từ tiếng chuông chùa,  
một biểu tượng thiêng của Phật giáo, kết thúc câu  
chuyện về cái ác là thông điệp mang tinh thần Thuyết  
mạt thế của Thiên chúa giáo. “Bất đồ chuông chùa rung  
thảng thốt... Sư cụ đã bị cướp mất bình yên. Chuông  
giận dữ đổ ập vào không gian… Cả cõi người bị nhấn  
3. Kết luận  
Hồ Anh Thái là một trong số những nhà tiểu  
thuyết có ý thức trong việc tạo ra những chùm tác  
phẩm cùng một đề tài hay nhưng không cùng một thủ  
pháp. Trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, lượng thông tin  
về các miền văn hóa, các cộng đồng văn hóa “phì đại”  
qua một hệ thống kí hiệu liên kết chặt chẽ. Tính chất  
liên kí hiệu khiến tác phẩm trở thành những mã thẩm  
mĩ, dung chứa nhiều vấn đề trong mạch ngầm văn bản.  
Điều này khiến các tác phẩm của Hồ Anh Thái không  
chỉ là những văn bản độc lập, có đời sống riêng mà  
còn là những văn bản luôn được phái sinh cùng với các  
văn bản khác. Kiến tạo văn bản từ các chuỗi kí hiệu,  
hàm lượng thông tin, hàm lượng văn hóa trong tiểu  
thuyết Hồ Anh Thái được bung nở đa chiều kích. Vừa  
thống nhất, vừa lạ hóa trong lối viết, qua hệ thống liên  
kí hiệu, có thể xem tiểu thuyết Hồ Anh Thái là “những  
cuốn tiểu thuyết biết suy nghĩ” (Kundera).  
Tài liệu tham khảo  
Barthes, R. (2008). Mythologies (Những huyền thoại)  
(V. T. Phung, Trans.). Knowledge.  
Bataille, G. (2016). Literature and evil (Văn học và cái  
ác) (N. Xuyen, Trans.). The gioi.  
Chevalier, J., & Gheerbrant, A. (2002). A dictionary of  
world cultural symbols: Myths, dreams, customs,  
gestures, forms, shapes, colors, and numbers (Từ  
điển biểu tượng văn hóa thế giới: Huyền thoại,  
chiêm mộng, phong tục, cử chỉ, dạng thể, các hình,  
màu sắc, con số). Da Nang.  
177  
Lê Thị Hường  
Compagnon, A. (2006). Literature, theory, and common  
sense (Bản mệnh của lí thuyết - Văn chương và  
cảm nghĩ thông thường) (H. S. Le, & A. D. Dang,  
Trans.). Education University.  
Eliade, M. (2018). The origin of religions (Bàn về  
nguồn gốc các tôn giáo) (V. C. Doan, & L. T. Do,  
Trans.). Social Sciences.  
Nguyen, V. H. (2019). Intercultural communication in  
the context of globalization: A few philosophical  
issues (Giao tiếp liên văn hóa trong bối cảnh toàn  
cầu hóa: Một số vấn đề triết học). Chung ta.  
giao_tiep_lien_van_hoa_trong_boi_canh_toan_ca  
u_hoa-2.html  
Freud, S. (2018). Dreams & The interpretation of  
dreams (Về giấc mơ & diễn giải giấc mơ) (H. T.  
Nguy, Trans.). Thanh nien.  
Fromm, E. (2012). Psychoanalysis and Religion (Phân  
tâm học và Tôn giáo) (V. H. Luu, Trans.). T  
Encyclopaedic Dictionary of Vietnam.  
La, N. (2018). Semiotic criticism (Phê bình kí hiệu học).  
Vietnam Women's Publishing House.  
Le, H. B. (2018). Sign and intersign (Ký hiệu và liên ký  
hiệu). Ho Chi Minh City General Publishing  
House.  
Todorov, T., Le, H. S., & Dang, A. D. (2008). An  
introduction to fantastic literature (Dẫn luận về  
văn chương kì ảo). University of Education.  
Trinh, B. D. (2017). From signs to symbols (Từ kí hiệu  
đến biểu tượng). Social Sciences.  
Zohar, I. E. (2014). Polysystem Theory in culture and  
literature research (Lý thuyết đa hệ thống trong  
nghiên cứu văn hóa, văn chương) (H. Y. Tran, &  
D. N. Nguyen, Trans.). The gioi.  
Lotman, I. M. (2015). Cultural semiotics (Kí hiệu học văn  
hóa) (N. La, H. P. Do, & D. S. Tran, Trans.). Hanoi  
National University.  
INTER-SYMBOL IN HO ANH THAI'S NOVELS  
Le Thi Huong  
Hue University of Education - Hue University, Vietnam  
Author corresponding: Le Thi Huong - Email: lethihuongsph@gmail.com  
Article History: Received on 21st April 2021; Revised on 15th June 2021; Published on 17th June 2021  
Abstract: Intersymbol is one of the terms related to literary semiotics. At present, the theory of semiotics/cultural semiotics has  
become popular and is used as a knowledge framework for reference, decoding artistic text. Ho Anh Thai is considered a great writer  
with dozens of novels. Each of Ho Anh Thai's works has impact and repetition of aesthetic symbols. Ho Anh Thai's novels are rich in  
generalization, thanks to the system of intersymbols. The voice inside the texts are expressed in the interactions and collisions  
between legends, archetypes, and symbols. The association of aesthetic symbol series is in the narrative strategy of the writer.  
Key words: sign; cultural semiotics; intersignality; Ho Anh Thai; novel; legend; religion; symbol; dream; good and evil.  
178  
pdf 7 trang yennguyen 16481 Free
Bạn đang xem tài liệu "Liên kí hiệu trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdflien_ki_hieu_trong_tieu_thuyet_ho_anh_thai.pdf