Nghiên cứu, đề xuất sơ đồ công nghệ khai thác lò chợ khấu than bằng máy, chống giữ bằng giá khung, giá xích
THÔNG TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MỎ
NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT SƠ ĐỒ CÔNG NGHỆ KHAI THÁC LÒ CHỢ
KHẤU THAN BẰNG MÁY, CHỐNG GIỮ BẰNG GIÁ KHUNG, GIÁ XÍCH
TS. Đào Ngọc Hoàng, TS. Lê Đức Nguyên
ThS. Đàm Huy Tài, ThS. Phùng Việt Bắc
Viện Khoa học Công nghệ Mỏ - Vinacomin
Biên tập: TS. Đào Hồng Quảng
Tóm tắt:
Hiện nay, sản lượng than khai thác từ các lò chợ khoan nổ mìn, chống giữ bằng giá khung và
giá xích chiếm khoảng 43,5% tổng sản lượng than hầm lò của Tập đoàn TKV. Mặc dù công nghệ
đã được áp dụng thuần thục, tuy nhiên do khấu gương bằng khoan nổ mìn nên công nghệ đã đạt
đến giới hạn về năng suất và sản lượng. Nghiên cứu, đề xuất sơ đồ công nghệ nhằm nâng cao sản
lượng, năng suất lao động, mức độ an toàn và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động là
nội dung chính của bài báo này.
1. Đặt vấn đề
phát triển ngành than đã được Chính phủ phê
duyệt (Quy hoạch 60), số lượng lò chợ hoạt
động đồng thời tại các mỏ hầm lò sẽ tiếp tục
tăng, kéo theo đó là nhu cầu cao về nhân lực
trực tiếp, đây cũng là những khó khăn không
nhỏ của ngành than hiện nay. Do đó, để đảm
bảo mục tiêu phát triển bền vững, song song
với việc đẩy mạnh áp dụng cơ giới hóa đồng bộ
tại các khu vực vỉa có điều kiện thuận lợi, cần
đổi mới nâng cao mức độ cơ giới hóa trong các
công đoạn sản xuất, đặc biệt là công tác khấu
gương của các lò chợ giá khung, giá xích nhằm
nâng cao sản lượng, năng suất lao động, từ đó
cho phép giảm số lượng lò chợ và nhân lực trực
tiếp tại các mỏ hầm lò, góp phần phát triển bền
vững ngành than.
Khoảng 10 năm trở lại đây, sản lượng khai
thác than từ các lò chợ chống giữ bằng giá
khung và giá xích, khấu gương khoan nổ mìn
đã liên tục phát triển, từ 1,6 triệu tấn năm 2008
[1] (chiếm 9,4% tổng sản lượng than hầm lò của
Tập đoàn TKV) lên đến 8,76 triệu tấn năm 2018
(chiếm 43,5%) [2]. Công nghệ khai thác than
lò chợ chống giữ bằng giá khung và giá xích
đã tạo ra những bước đột phá về sản lượng và
năng suất lao động cũng như mức độ an toàn so
với các công nghệ khai thác sử dụng vì gỗ hoặc
những loại vì thủy lực đơn chiếc trước đó (cột
thủy lực đơn, giá thủy lực di động). Hiện nay,
giá khung và giá xích đã được áp dụng rộng
rãi tại các đơn vị khai thác than hầm lò thuộc
Tập đoàn TKV với công suất lò chợ trung bình
khoảng 150 ÷ 180 nghìn tấn/năm. Theo thời
gian, các khâu trong quy trình công nghệ cũng
đã được hoàn thiện, tuy nhiên do công tác khấu
gương phải thực hiện bằng khoan nổ mìn dẫn
đến sản lượng, năng suất lao động của các lò
chợ này đã tiệm cận đến giới hạn của công
nghệ, trong khi đó chi phí tiền lương và các loại
bảo hiểm hiện nay còn chiếm tỷ lệ cao trong giá
thành khai thác (từ 45 ÷ 55%), nếu không tiếp
tục đổi mới, nâng cao năng suất lao động sẽ rất
khó cân bằng được các chính sách đãi ngộ, lợi
ích của người lao động và hiệu quả kinh doanh
trong những năm tới. Hơn nữa, để đáp ứng nhu
cầu năng lượng cho nền kinh tế theo quy hoạch
2. Đề xuất các sơ đồ công nghệ khai thác
lò chợ giá khung, giá xích kết hợp máy khấu
Hiện nay, công nghệ cơ giới hóa khai thác
than hầm lò đã được áp dụng rộng rãi tại các
nước có nền công nghiệp phát triển như Trung
Quốc, Mỹ, Úc, Nga và Ba Lan...[3], trong đó
Trung Quốc là quốc gia có sản lượng than khai
thác hàng năm cao nhất thế giới đồng thời cũng
là một trong những nước đi đầu về nghiên cứu
ứng dụng các thành tựu khoa học trong khai
thác than. Cùng với các tổ hợp cơ giới hóa có
kích thước và trọng lượng lớn, từ năm 1990 tại
Trung Quốc đã đưa vào áp dụng công nghệ khai
thác cơ giới hóa sử dụng các loại giàn chống có
kích thước nhỏ và khối lượng nhẹ (CGH nhẹ)
7
KHCNM SỐ 1/2019 * CNKT HẦM LÒ
THÔNG TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MỎ
b. Lò chợ giá xích
a. Lò chợ giá khung
Hình 1. Đồng bộ thiết bị trong lò chợ giá khung (giá xích) kết hợp với máy khấu
với công suất lò chợ khoảng 500.000 ÷ 600.000 Ngũ Mẫu Xung - Tập đoàn mỏ Trường Sa (tỉnh
tấn/năm. Song song với công nghệ CGH nhẹ, Hồ Nam), mỏ than Tân Khất Lao, huyện Thần
công nghệ bán cơ giới hóa sử dụng vì chống Mộc (tỉnh Thiểm Tây), v.v cho các vỉa dày trung
tổ hợp (giá khung, giá xích) cũng được nghiên bình từ 1,2 ÷ 2,4m, góc dốc từ 8 ÷ 150, chiều
cứu để khai thác các khu vực khoáng sàng nhỏ, dài lò chợ theo hướng dốc từ 90 ÷ 120m, theo
trữ lượng phân tán, điều kiện địa chất phức tạp, phương khoảng 360m. Công nghệ khai thác lò
không phù hợp đầu tư mô hình CGH loại nhẹ. chợ sử dụng giá xích chủ yếu được áp dụng cho
Theo đó, từ năm 2000, dựa trên sự thành công điều kiện các vỉa trung bình, thoải với công suất
trong việc áp dụng giá khung thủy lực di động đạt được từ 300.000 ÷ 350.000 tấn/năm khi sử
cho điều kiện vỉa than dày, thoải đến nghiêng, dụng máy khấu hai tang. Năng suất lao động đạt
một số mỏ hầm lò của Trung Quốc như: Mỏ từ 10 ÷ 15 tấn/công.
Dương Tuyền 2 (tỉnh Sơn Tây), mỏ số 8 - Công
ty Hạc Môi (tỉnh Hà Nam), mỏ Long Hâm, Thành
phố Hạc Cương (tỉnh Hắc Long Giang)... đã áp
dụng công nghệ khấu than sử dụng máy khấu
kết hợp với chống giữ lò chợ bằng giá khung
thủy lực di động tại các khu vực vỉa dày từ 5,5
÷ 8,0m, góc dốc 3 ÷ 170, chiều dài lò chợ theo
hướng dốc từ 80 ÷ 122m theo phương từ 474
÷ 1100m. Kết quả áp dụng cho thấy lò chợ làm
việc ổn định, hiệu quả. Sản lượng khai thác đạt
trung bình 400.000 ÷ 450.000 tấn/năm, cá biệt
có lò chợ đã cho sản lượng khai thác đạt đến
600.000 tấn/năm (lò chợ 80619 mỏ than Dương
Tuyền 2, tỉnh Sơn Tây). Năng suất lao động đạt
từ 15 ÷ 20 tấn/công.
So với các lò chợ giá khung hoặc giá xích,
khấu than bằng khoan nổ mìn tại các mỏ hầm
lò vùng Quảng Ninh hiện nay (có công suất từ
80.000 ÷ 180.000 T/năm, phổ biến từ 140.000 ÷
180.000 T/năm, một vài trường hợp đã đạt tới
230.000 T/năm, năng suất lao động đạt 4,3 ÷
6,5 T/công [4], công nghệ khai thác chống giữ
bằng giá khung và giá xích, khấu than bằng máy
tại Trung Quốc đã cho công suất và năng suất
lao động cao hơn từ 2 ÷ 3 lần.
Công nghệ bán cơ giới hóa sử dụng máy
khấu MG-200 W1 kết hợp giá thủy lực di động
XDY-JF/LR/T2/120JZ cũng đã được đưa vào
áp dụng thử nghiệm tại mỏ Khe Chàm từ tháng
5/2002 ÷ 9/2005, sản lượng lò chợ hàng năm
Tiếp đến năm 2010, sau khi giá thủy lực đạt từ 115.290 ÷ 184.606 tấn, công suất trung
di động liên kết xích được ra đời và áp dụng bình đạt 153.700 tấn/năm. Năng suất lao động
thành công ở các mỏ có điều kiện vỉa biến động trung bình đạt 5,16 tấn/công[3], cao hơn 1,5 ÷ 2
mạnh về góc dốc, công nghệ cơ giới hóa khấu lần so với các lò chợ khoan nổ mìn trong cùng
than bằng máy khấu, chống giữ bằng giá thủy điều kiện. Trên cơ sở thử nghiệm thành công tại
lực di động liên kết xích đã được đưa vào áp Công ty than Khe Chàm, từ tháng 4/2006, công
dụng tại một số mỏ hầm lò Trung Quốc như: mỏ nghệ này cũng đã được đưa vào thử nghiệm tại
KHCNM SỐ 1/2019 * CNKT HẦM LÒ
8
THÔNG TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MỎ
lò chợ 13-3 và 12-2 khu Trung Tâm Công ty than đến nghiêng (≤35°), trong khi hầu hết các loại
Dương Huy. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng, máy khấu làm việc thuận lợi trong miền góc dốc
do điều kiện địa chất phức tạp như: gặp nhiều đến 20°, một số loại máy khấu làm việc với góc
phay, nhiều nước ngầm, đá trụ mềm yếu, giá dốc đến 35°. Do vậy, việc nghiên cứu khả năng
thủy lực và máng cào bị lún phải thường xuyên áp dụng giá khung hoặc giá xích kết hợp máy
xử lý dẫn đến chiều cao lò chợ thấp không đủ khấu than tại các mỏ hầm lò vùng Quảng Ninh
điều kiện lắp máy khấu (vỉa 13); vỉa thu hẹp có thể xem xét đối với các vỉa dày trên 1,6m và
chiều dày trong phạm vi lớn kéo dài từ chân đến dốc đến đến 35°, đá trụ vỉa có cường độ kháng
đầu lò chợ và theo phương từ 10 ÷ 15m phải lún đạt từ cấp 4 trở lên [5]. Ưu tiên thử nghiệm
khoan nổ mìn, hơn nữa, do đá vách mềm yếu, trước tại các khu vực vỉa than có góc dốc đến
dễ sập đổ nên lò chợ thường xuyên bị tụt nóc 20°, đá trụ bền vững.
gây khó khăn cho công tác chống giữ (giá thủy
Kết quả đánh giá tổng hợp trữ lượng than tại
lực không có khả năng che chắn kín nóc lò chợ;
một số mỏ/khoáng sàng khai thác hầm lò vùng
không có liên kết với nhau, dễ xô dạt) và hỏng
Quảng Ninh như: Mạo Khê, Nam Mẫu, Uông
hóc thiết bị (vỉa 12), vì vậy tổ hợp thiết bị đã
Bí, Vàng Danh, Hà Lầm, Núi Béo, Dương Huy,
được tháo chuyển ra ngoài.
Quang Hanh, Thống Nhất, Hạ Long (Khe Chàm
Đánh giá kết quả áp dụng công nghệ bán cơ
giới hóa sử dụng giá khung và giá xích tại Trung
Quốc và kinh nghiệm khai thác tại các mỏ hầm
lò vùng Quảng Ninh cho thấy, giá khung và giá
xích có độ liên kết tốt đã khắc phục được nhược
điểm dễ xô dạt của giá thủy lực di động, từ đó
cho phép nâng cao mức độ an toàn và khả năng
thích nghi của công nghệ trong các điều kiện địa
chất phức tạp, đồng thời việc áp dụng máy khấu
thay cho khoan nổ mìn cho phép nâng cao đáng
kể sản lượng và năng suất lao động.
II-IV), Khe Chàm (Khe Chàm III) và Mông Dương
cho thấy trong tổng số 630,6 triệu tấn than đã
được quy hoạch vào khai thác đến năm 2025,
trữ lượng các vỉa dày trên 1,6m và góc dốc vỉa
đến 35 độ có khoảng 448,6 triệu tấn, chiếm đến
70% tổng trữ lượng than đã quy hoạch (chi tiết
xem bảng 1). Trong đó, trữ lượng vỉa dày trung
bình từ 1,6 ÷ 3,5m khoảng 168 triệu tấn (chiếm
26,7%) vỉa dày từ 3,5 ÷ 10m khoảng 251,5 triệu
tấn (chiếm 40%), còn lại là vỉa dày trên 10m [3].
Theo đánh giá, trữ lượng các khu vực vỉa dày
trên 1,6m, thoải đến nghiêng có khả năng CGH
tại các mỏ hầm lò hiện nay khoảng 200 triệu tấn,
đây cũng là những khu vực có thể áp dụng giá
khung hoặc giá xích kết hợp máy khấu than.
Tổng hợp kinh nghiệm áp dụng cơ giới hóa
[3] từ năm 2002 và kinh nghiệm khai thác lò
chợ giá khung, giá xích [4] từ năm 2007 đến
nay tại các mỏ hầm lò vùng Quảng Ninh cho
thấy giá khung và giá xích áp dụng hiệu quả đối
với các khu vực vỉa than dày trên 1,6m, thoải
Đối với điều kiện các vỉa than dày trên 1,6m,
thoải đến nghiêng, chống giữ bằng giá khung và
Bảng 1. Tổng hợp trữ lượng than theo các yếu tố chiều dày và góc dốc
Góc dốc (độ)
≤20 độ
Trữ lượng, nghìn tấn
3,5 ÷ 10 m
113.116,54
17,94%
0,8 ÷ 1,6 m
6.742,75
1,07%
1,6 ÷ 3,5 m
64.395,06
10,21%
>10 m
14.588,30
2,31%
Tổng
198.842,65
31,53%
20 ÷ 35 độ
35 ÷ 45 độ
>45 độ
14.350,01
2,28%
104.075,99
16,50%
138.370,22
21,94%
14.005,09
2,22%
270.801,31
42,94%
6.023,07
0,96%
45.808,34
7,26%
35.858,62
5,69%
-
87.690,04
13,90%
0,00%
8.696,01
1,38%
32.957,88
5,23%
30.766,90
4,88%
889,94
0,14%
73.310,73
11,62%
Tổng
35.811,84
5,68%
247.237,28
39,20%
318.112,28
50,44%
29.483,32
4,68%
630.644,72
100,00%
9
KHCNM SỐ 1/2019 * CNKT HẦM LÒ
THÔNG TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MỎ
giá xích kết hợp máy khấu có thể khai thác theo và hoàn tất công tác phá hỏa ban đầu, tiến hành
nhiều cách khác nhau, tuy nhiên trong điều kiện khai thác thường kỳ lò chợ. Trình tự khai thác
các mỏ than hầm lò vùng Quảng Ninh hiện nay thực hiện theo hướng khấu dật từ biên giới về
có thể xem xét áp dụng một số hệ thống khai trung tâm. Tiến độ khấu thay đổi tùy thuộc vào
thác (HTKT) như sau:
chiều rộng tang khấu được chọn (thường là 0,6
÷ 0,8m). Điều khiển đá vách bằng phá hỏa toàn
phần hoặc chèn lò.
(1) HTKT cột dài theo phương, khấu hết
chiều dày vỉa
Công tác vận tải: Than khai thác từ gương
theo máng cào lò chợ, lò song song chân (4), lò
nối (5) xuống lò dọc vỉa vận tải (1) và ra ngoài.
Vật liệu cung cấp cho lò chợ được vận chuyển
từ ngoài mặt bằng, theo các đường lò khai
thông, chuẩn bị mức thông gió vào cung cấp
cho lò chợ.
Bản chất của HTKT cột dài theo phương,
khấu hết chiều dày vỉa như sau:
Công tác chuẩn bị: Theo giới hạn của tầng
(hoặc phân tầng), tiến hành đào lò dọc vỉa vận
tải (1) và thông gió (2) đến biên giới khai thác
của lò chợ, tiếp theo đào lò thượng khởi điểm
(3) nối thông lò vận tải và lò thông gió để lắp
đặt lò chợ. Tùy theo cách thức chuẩn bị của
từng khu vực có thể đào lò song song chân (4)
và lò nối (5), khoảng cách giữa các lò nối theo
phương từ 80 ÷ 100m. Trụ bảo vệ (6) được tính
toán để đảm bảo khả năng chống giữ áp lực mỏ
và duy trì lò dọc vỉa vận tải (1) làm lò thông gió
khi khai thác tầng (hoặc phân tầng) dưới. Từ
lò thượng khởi điểm tiến hành lắp đặt vì chống
lò chợ, các thiết bị khai thác để tiến hành khấu
than. Chi tiết về sơ đồ chuẩn bị cho HTKT cột
dài theo phương, lò chợ khấu hết chiều dày vỉa
xem hình 2.
Công tác thông gió: Thông gió cho lò chợ
theo sơ đồ thông gió chung của khu vực. Gió
sạch từ ngoài mặt bằng, theo các đường lò khai
thông mức vận tải vào lò dọc vỉa vận tải (1), lò
nối (5), lò song song chân (4) vào cấp cho lò
chợ. Gió thải từ lò chợ lên lò dọc vỉa thông gió
(2) và ra ngoài theo các đường lò khai thông
mức thông gió.
Công tác thoát nước: Nước thoát ra từ lò chợ
tự chảy xuống lò song song chân, lò nối, lò dọc
vỉa vận tải và ra hệ thống thoát nước chung của
toàn mỏ.
Công tác khai thác: Việc khai thác được tiến
hành trên toàn bộ chiều dày vỉa tương tự với các
lò chợ khai thác vỉa dày trung bình, thoải đến
nghiêng. Theo đó, sau khi lắp đặt các vì chống
Phạm vi áp dụng: HTKT này có thể áp dụng
cho các khu vực vỉa dày trung bình từ 1,6 ÷ 2,5
m. Than từ trung bình đến cứng. Mức độ biến
động chiều dày vỉa từ ổn định đến ổn định trung
1, 2 - lò dọc vỉa vận tải, thông gió; 2 - lò thượng khởi
điểm; 4 - lò song song chân; 5 - lò nối
Hinh 3. Gương lò chợ
khai thác 1 lớp hết chiều dày vỉa
̀
Hinh 2. Hệ thống khai thác cột dài theo phương,
̀
lò chợ khấu hết chiều dày vỉa
KHCNM SỐ 1/2019 * CNKT HẦM LÒ
10
THÔNG TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MỎ
bình. Mức độ biến động về góc dốc từ ổn định
(3) HTKT chia lớp nghiêng hạ trần thu hồi
đến tương đối ổn định. Khu vực áp dụng có than lớp giữa
quy mô trữ lượng huy động của lò chợ không
Về cơ bản, bản chất của HTKT này là tương
nhỏ hơn công suất thiết kế của lò chợ để hạn
chế gián đoạn sản xuất do chuyển diện. Đá kẹp
trong vỉa có hệ số kiên cố f ≤ 4 (phù hợp với khả
năng làm việc của hầu hết các loại máy khấu
hiện nay).
tự HTKT khấu một lớp hết chiều dày vỉa đối với
các vỉa rất gần nhau. Tuy nhiên thay vì một lớp
khấu hết toàn bộ chiều dày vỉa, theo chiều dày,
vỉa than được chia thành các lớp nghiêng khai
thác độc lập (hình 5).
(2) HTKT cột dài theo phương, khấu lớp
trụ, hạ trần thu hồi than nóc
Tùy thuộc vào chiều dày vỉa, đặc điểm phân
lớp đá kẹp,... và chiều cao khấu của lò chợ sẽ
hình thành từ 2 đến nhiều lớp khấu. Tại mỗi lớp,
các công tác chuẩn bị, khai thác, vận tải, thông
gió, cấp thoát nước,… được thực hiện tương tự
nhau. Các lò chợ chia lớp theo trình tự từ trên
xuống (khi điều khiển đá vách bằng phá hỏa
toàn phần) hoặc từ dưới lên trên (khi điều khiển
đá vách bằng chèn lò). Chiều cao khấu gương
từ 2,0 ÷ 2,5 m, giữa các lớp khấu là các lớp than
hạ trần được tính toán để đảm bảo khả năng
sập đổ phục vụ công tác thu hồi than hạ trần.
Sơ đồ chuẩn bị vẽ trong trường hợp vỉa than
Bản chất của HTKT như sau:
Công tác chuẩn bị: Công tác chuẩn bị cho hệ
thống khai thác này bao gồm đào các lò dọc vỉa
vận tải, thông gió và thượng khởi điểm cùng các
đường lò khác. Lò được đào bám trụ theo sơ đồ
tương tự HTKT cột dài theo phương, khấu hết
chiều dày vỉa (xem hình 2).
Công tác khai thác: Công tác khấu gương
bằng máy khấu, chiều cao khấu gương từ 1,8
÷ 2,5 m, phần than nóc được hạ trần thu hồi
sau khi di chuyển vì chống sang luồng mới (xem
hình 4).
được chia thành 2 lớp khấu xem hinh 6. Trong
̀
đó lớp vách khai thác trước, sau khi kết thúc
lớp vách tiến hành khai thác lớp trụ hoặc khai
thác đuổi nhau. Khi khai thác đuổi nhau, khoảng
cách vượt trước của các lớp được xác định theo
công thức:
Công tác vận tải: Công tác vận tải trong lò
chợ được thực hiện bằng máng cào. Sơ đồ vận
tải từ chân lò chợ ra ngoài cũng như các công
tác phụ trợ khác thực hiện tương tự hệ thống
khai thác khấu một lớp hết chiều dày vỉa.
Lmin = m x cotgδ0 + Xmin, m
Phạm vi áp dụng: HTKT này được áp dụng
trong điều kiện vỉa có chiều dày không ổn định
đến ổn định, cấu tạo vỉa từ đơn giản đến phức
tạp, đá vách dễ sập đổ đến sập đổ trung bình,
than không có tính tự cháy.
1,2 - lò dọc vỉa vận tải và thông gió lớp trụ; 3, 7 - lò
thượng khởi điểm lớp vách; 5,6 - lò dọc vỉa vận tải
và thông gió lớp vách
Hinh 4. Lò chợ trụ, hạ trần thu hồi than nóc
̀
Hinh 5. Hệ thống khai thác chia lớp nghiêng
̀
11
KHCNM SỐ 1/2019 * CNKT HẦM LÒ
THÔNG TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MỎ
Trong đó: m - là tổng chiều dày vỉa 2 lớp khấu
Điều kiện áp dụng của hệ thống khai thác:
liền nhau và than hạ trần, m; δ0 - góc biên giới Vỉa than có chiều dày lớn hơn chiều dày tối đa
theo phương, độ; Xmin - khoảng cách dự trữ để cho phép của một lớp khấu tính theo khả năng
đảm bảo cho lò chợ lớp dưới khai thác liên tục sập đổ trần than và khả năng chịu tải của vì
trong thời gian lò chợ lớp trên gặp sự cố gián chống [5], vỉa ổn định đến ổn định trung bình về
đoạn sản xuất. Giá trị Xmin phụ thuộc tốc độ tiến chiều dày và góc dốc.
gương của lò chợ, thường được chọn với thời
gian dự trữ khoảng 1 tháng.
Tính toán sơ bộ cho một lò chợ bán cơ giới
hóa sử dụng giá khung (GK) hoặc giá xích (GX)
Bảng 2. So sánh các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của lò chợ bán cơ giới và lò chợ khoan nổ mìn, chống giữ
bằng giá khung hoặc giá xích
TT
1
Tên chỉ tiêu
Đơn vị
m
Lò chợ máy khấu Lò chợ khoan nổ mìn
Chiều dày vỉa trung bình
6,5
100
6,5
100
2
Chiều dài lò chợ theo hướng dốc
Chiều cao khấu gương
m
3
m
2,2
2,2
4
Chiều dày lớp than hạ trần
Chiều rộng bước khấu
m
4,3
4,3
5
m
0,6
0,8
6
Trọng lượng thể tích của than
Sản lượng than khai thác 1 ngày đêm
Sản lượng than khai thác 1 tháng
Hệ số tính đến thời gian chuyển diện
Tấn/m3
Tấn
Tấn
-
1,55
1.186
29.658
0,92
300.000
84
1,55
791
7
8
19.772
0,92
200.000
93
9
10 Công suất lò chợ
Tấn
Người
T/công
11 Số công nhân lò chợ một ngày đêm
12 Năng suất lao động trực tiếp
14,1
8,5
Bảng 3. Khái toán chi phí thiết bị các loại hình công nghệ
TT
Tên thông số
Đơn vị tính
Lò chợ máy khấu
Lò chợ khoan nổ mìn
GK
GX
GK
22.106,7
-
GX
20.708,2
-
1
2
3
4
5
6
7
Giá chống
Tr.đồng
Tr.đồng
Tr.đồng
Tr.đồng
Tr.đồng
Tr.đồng
Tr.đồng
26.528,0
11.382,8
9.681,5
816,2
24.849,8
11.382,8
9.681,5
816,2
Máy khấu
Máng cào trước
Máng cào sau
-
-
816,2
816,2
816,2
3.000
816,2
816,2
816,2
3.000
Máng cào lò chân
Máng cào họng sáo
Hệ thống điện và phụ trợ
816,2
816,2
816,2
816,2
5.000
5.000
Bảng 4. Giá thành phân xưởng các loại hình công nghệ
TT Các yếu tố chi phí Đơn vị tính Lò chợ máy khấu
Lò chợ khoan nổ mìn
GK
GX
GK
GX
1
2
3
4
5
6
Vật liệu
Đồng
Đồng
Đồng
Đồng
Đồng
Đồng
Đồng
24.074
15.000
59.007
3.080
24.010
15.000
59.007
3.080
35.993
7.500
35.691
7.500
Động lực
Tiền lương
97.882
6.522
97.882
6.522
Các loại bảo hiểm
Khấu hao cơ bản
Chi phí khác
Tổng cộng
30.578
10.409
144.193
29.646
10.321
143.109
22.963
14.950
185.811
21.797
14.822
184.215
KHCNM SỐ 1/2019 * CNKT HẦM LÒ
12
THÔNG TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MỎ
kết hợp máy khấu có chiều dài 100m, chiều dày đối với ngành than những năm tới.
vỉa 6,5m cho thấy so với lò chợ khoan nổ mìn
Trong điều kiện địa chất phức tạp tại các mỏ
trong cùng điều kiện, lò chợ sử dụng máy khấu
có công suất cao hơn 1,5 lần; nhu cầu nhân lực
trực tiếp giảm khoảng10%; năng suất lao động
trực tiếp cao hơn 1,66 ÷ 2,21 (chi tiết xem từ
bảng 2 đến bảng 4). Với khái toán tổng mức đầu
tư dự kiến khoảng 55 tỷ đồng, giá thành khai
thác một tấn than thấp hơn từ 20 ÷ 22% so với
lò chợ khoan nổ mìn chống giữ bằng giá khung
hoặc giá xích trong cùng điều kiện.
than hầm lò vùng Quảng Ninh, việc đầu tư các
lò chợ bán cơ giới sử dụng giá khung và giá
xích kết hợp máy khấu cho phép khai thác được
nhiều khu vực khó hoặc không có khả năng áp
dụng cơ giới hóa đồng bộ do công nghệ có chi
phí đầu tư thấp hơn nhiều so với các lò chợ
CGH đồng bộ. Ngoài ra, cán bộ và công nhân
tại các mỏ đã có nhiều kinh nghiệm khai thác và
chống giữ lò chợ bằng giá khung hoặc giá xích
sẽ là một trong các yếu tố thuận lợi để nghiên
cứu triển khai áp dụng trong thời gian tới./.
3. Kết luận
Kết quả đánh giá tổng hợp kinh nghiệm áp
dụng giá khung, giá xích kết hợp máy khấu than
tại các mỏ hầm lò của Trung Quốc và tính toán
sơ bộ trong điều kiện của các mỏ hầm lò của
TKV đã cho thấy công nghệ này cho phép nâng
cao đáng kể sản lượng của lò chợ so với khoan
nổ mìn, từ đó nâng cao năng suất lao động và
giảm giá thành khai thác than. Ngoài ra, việc
giảm khối lượng các công việc thủ công như
khoan nổ mìn, xúc tải than đã góp phần cải thiện
điều kiện làm việc cho người lao động và nâng
cao mức độ an toàn.
Tài liệu tham khảo:
1. Tập đoàn CN Than - Khoáng sản Việt Nam,
Báo cáo tổng hợp khối lượng mỏ, Hà Nội, 2008.
2. Tập đoàn CN Than - Khoáng sản Việt Nam,
Báo cáo tổng hợp khối lượng mỏ, Hà Nội, 2018.
3. Đặng Thanh Hải, Báo cáo tổng kết đề tài “Phát
triển áp dụng cơ giới hóa đào lò và khai thác tại các
mỏ hầm lò vùng Quảng Ninh giai đoạn 2013 ÷ 2015,
lộ trình đến năm 2020”, Hà Nội, 2016.
4. Đinh Văn Cường, Báo cáo tổng kết đề tài
“Nghiên cứu áp dụng giá khung, giá xích thay thế cột
Hiện nay, trữ lượng than vỉa dày trung bình thủy lực đơn trong các lò chợ khai thác vỉa dày trung
và dày, thoải đến nghiêng tại các mỏ hầm lò bình, dốc thoải đến nghiêng nhằm nâng cao mức độ
vùng Quảng Ninh cũng như cơ cấu sản lượng an toàn, sản lượng và năng suất lao động tại các mỏ
khai thác hàng năm từ các đối tượng vỉa than than hầm lò”, Hà Nội, 2017.
này đang chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng
5. Tập đoàn CN Than - Khoáng sản Việt Nam,
sản lượng khai thác hầm lò của ngành than. “Hướng dẫn thực hiện công tác phá hỏa ban đầu và
Việc đổi mới công nghệ khai thác sẽ góp phần chia lớp khai thác lò chợ trong các mỏ than hầm lò
tích cực trong việc nâng cao hiệu quả khai thác thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản
và giảm áp lực về sự thiếu hụt nguồn nhân lực Việt Nam”, Hà Nội 2018.
Research and proposal of the coal mining flowsheet
using coal cutting combines and longwall supporting with movable
supporting frames and chain supporting frames
Dr. Dao Ngoc Hoang; Dr. Le Duc Nguyen,
MSc. Dam Huy Tai; MSc. Phung Viet Bac
Institute of Mining Science and Technology – Vinacomin
Summary:
At present, the coal output exploited from the longwall with using blasting method and supporting
with movable supporting frames and chain supporting frames has accounted for about 43.5% of
VINACOMIN’s total coal output. Although the technology has been applied widely and skillfully, but
due to using blasting method, the productivity and output has been limitted. Research and proposal
of the mining flowsheet to improve productivity, labor productivity, safety level and the working
conditions is the main content of this paper.
13
KHCNM SỐ 1/2019 * CNKT HẦM LÒ
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu, đề xuất sơ đồ công nghệ khai thác lò chợ khấu than bằng máy, chống giữ bằng giá khung, giá xích", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nghien_cuu_de_xuat_so_do_cong_nghe_khai_thac_lo_cho_khau_tha.pdf

