Các phương pháp tận dụng năng lượng nhiệt khí thải trong động cơ đốt trong

P-ISSN 1859-3585     E-ISSN 2615-9619                                                                                                                           SCIENCE - TECHNOLOGY  
 
 
CÁC PHƯƠNG PHÁP TẬN DỤNG NĂNG LƯỢNG NHIỆT    
KHÍ THẢI TRONG ĐỘNG CƠ ĐỐT TRONG  
METHODS OF UTILIZING EXHAUST WASTE HEAT OF INTERNAL COMBUSTION ENGINE  
 
Khổng Vũ Quảng1, Nguyễn Duy Tiến1,*, Phạm Minh Tuấn1,  
Nguyễn Phi Trường2, Lê Mạnh Tới1, Lê Đăng Duy1  
 
1. GIỚI THIỆU  
TÓM TẮT   
Hiện nay, việc phát triển động cơ đốt trong đang phải đối mặt với những  
Ngày nay, trước sức ép về chi phí nhiên liệu cũng như  
các tiêu chuẩn kiểm soát phát thải đã tạo ra thách thức  
cũng như là nguồn động lực cho các nhà kỹ thuật nghiên  
cứu  cải  tiến  Động  cơ  đốt  trong  (ĐCĐT).  Hàng  loạt  các  
công nghệ hiện đại như hệ thống nhiên liệu điện tử, tăng  
áp tuabin - máy nén, công nghệ van biến thiên VVTi… đã  
được áp dụng nhằm tăng công suất, giảm tiêu thụ nhiên  
liệu  và  phát  thải  độc  hại.  Tuy  vậy,  hiệu  suất  có  ích  của  
động cơ chỉ đạt vào khoảng 30 ÷ 40% trong vùng làm việc  
tối ưu, ở các chế độ làm việc khác như tải nhỏ hoặc tốc độ  
cao hiệu suất này còn thấp hơn rất nhiều. Như vậy có thể  
thấy luôn có tối thiểu khoảng 60 ÷ 70% năng lượng nhiệt  
trong động cơ bị hao phí, phần nhiệt này chủ yếu bị mất  
mát  do  nhiệt  thải  qua  môi  chất  làm  mát  hoặc  khí  thải  
động cơ [1, 2]. Cùng với đó, việc áp dụng các tiêu chuẩn  
kiểm soát phát thải ngày càng cao cũng tạo trở ngại cho  
các nhà sản xuất trong việc nâng cao nhiệt độ và áp suất  
trong quá trình cháy do đó nó cũng làm giảm khả năng  
cải thiện hiệu suất nhiệt của động cơ [3, 4]. Nhiều nghiên  
cứu cho thấy tối ưu hóa quá trình chuyển đổi năng lượng  
và tận dụng nguồn nhiệt hao phí sẽ là giải pháp hiệu quả  
để cải thiện hiệu suất sử dụng nhiệt và phát thải độc hại  
của ĐCĐT [5, 6].    
Trong hệ thống làm mát, phần lớn lượng nhiệt truyền  
qua thành vách sẽ truyền cho môi chất làm mát, thông qua  
bộ  phận tản nhiệt (quạt, két)  lượng nhiệt này được phân  
tán ra môi trường xung quanh. Do nhiệt độ thấp (thường  
nhỏ  hơn  1000C)  nên  việc  tận  dụng  nhiệt  nước  làm  mát  
thường  theo  dạng  nhiệt  -  nhiệt  [7].  Ngoài  ra  yêu  cầu  về  
chênh lệch nhiệt độ giữa nước vào và ra nhỏ (3 ÷ 50C) nên   
để tận dụng hiệu quả cần diện tích trao đổi nhiệt rất lớn do  
đó làm tăng kích thước của thiết bị trao đổi nhiệt, gây khó  
khăn cho quá trình bố trí thực tế.  
thách thức to lớn đó là sự cạn kiệt nguồn nhiên liệu truyền thống, hiệu suất nhiệt  
thấp và phát thải gây ô nhiễm môi trường. Cụ thể về hiệu suất nhiệt, trong tổng  
số năng lượng cung cấp cho động cơ thông qua quá trình chuyển hóa từ hóa  
năng sang nhiệt năng ẩn chứa trong nhiên liệu, chỉ có khoảng 20 đến 40% được  
chuyển đổi thành công có ích, phần năng lượng còn lại được thải ra môi trường  
xung quanh chủ yếu thông qua khí thải và hệ thống làm mát động cơ. Nhiều  
nghiên cứu cho thấy tận dụng nguồn nhiệt thải này là hướng đi tiềm năng trong  
việc nâng cao hiệu quả sử dụng nhiệt trong động cơ. So với việc thu hồi nhiệt từ  
hệ thống làm mát, thu hồi và sử dụng nhiệt khí thải hiệu quả và dễ dàng hơn rất  
nhiều do nó ít ảnh hưởng tới kết cấu và quá trình làm việc của động cơ. Nội dung  
bài  báo  này  sẽ  trình  bày  tổng  hợp  những  triển  vọng  và  thách  thức  của  các  
phương pháp tận dụng nhiệt khí thải đang được nghiên cứu và sử dụng hiện nay.  
Các nội dung này có thể được sử dụng làm cơ sở nghiên cứu nâng cao tính kinh  
tế, kỹ thuật thông qua tối ưu hóa các điều kiện làm việc cũng như tính toán thiết  
kế các hệ thống tận dụng năng lượng nhiệt khí thải - nước làm mát của động cơ.  
Từ khóa: Động cơ đốt trong, nhiệt khí thải, tận dụng nhiệt.  
ABSTRACT  
Nowadays,  the  development  of  ICE  is  facing  major  challenges  such  as  the  
exhaustion of  traditional fuel  sources, low  thermal  efficiency  and  environmental  
pollution emissions. Specifically, in the total amount of energy supplied to the engine  
through the transformation from chemical energy to the latent thermal energy in the  
fuel, only about 20 to 40% is successfully converted to useful work, the remaining  
thermal energy were being discharged into the environment through exhaust gas  
and engine cooling system. Therefore, taking advantage of this energy source is  
considered a challenging and promising research direction. Compared to utilizing  
heat of cooling water, the recovery and use of exhausted heat is much more efficient  
and easier because it has less impact on the structure and working process of the  
engine. This paper will summarize the prospects and challenges of the methods of  
utilizing exhausted heat currently being studied and used today. The content of the  
article can be used as a basis for research to improve the economics and techniques  
through optimizing the working conditions of the engine and for calculating the  
design of systems that utilize exhaust energy - engine cooling water.  
Đối với khí thải, năng lượng tồn tại ở dạng nhiệt năng  
và động năng, với đặc điểm nhiệt độ cao (có thể lên tới 600  
÷ 8000C) và luôn chiếm tỷ lệ lớn (30 ÷ 45%) ở mọi chế độ  
làm việc của động cơ nên tận dụng phần năng lượng này  
từ lâu đã được các nhà khoa học nghiên cứu và áp dụng với  
các phương pháp từ đơn giản như tận dụng để sưởi ấm, hệ  
thống tăng áp tuabin - máy nén. Gần đây, các nhà khoa học  
đã  đưa  ra  một  số  phương  pháp  tiềm  năng  để  tận  dụng  
nguồn năng lượng này, có thể kể đến như chuyển đổi nhiệt  
Keywords: Internal combustion engine, exhaust heat, heat utilizing.  
 
1Viện Cơ khí động lực, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội  
2Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội  
Ngày nhận bài: 10/01/2021  
Ngày nhận bài sửa sau phản biện: 05/5/2021  
Ngày chấp nhận đăng: 25/6/2021  
107  
KHOA HỌC   
  CÔNG NGHỆ  
 P-ISSN 1859-3585      E-ISSN 2615-9619  
- điện TEG, sử dụng nhiệt khí thải sấy nóng và giãn nở môi  suất riêng của động cơ. Trong phương pháp này, TB-MN  
chất trung gian theo chu trình ORC, BOC hoặc tích trữ nhiệt  được lắp đồng trục, dòng khí thải của động cơ sẽ không  
dưới dạng hóa năng.    
thải trực tiếp ra môi trường mà được đưa qua TB giãn nở  
sinh công.  Công giãn nở từ TB truyền qua MN, nén  môi  
chất nạp tới một áp suất nhất định. Để tăng hiệu quả, khí  
nạp mới sau máy nén sẽ được làm mát trước khi nạp vào  
xilanh ĐCĐT, như thể hiện trên hình 2.    
Để có cái nhìn tổng quát, bài báo này sẽ giới thiệu một  
số phương pháp tận dụng nguồn năng lượng nhiệt khí thải,  
tiềm năng và những thách thức khi áp dụng với ĐCĐT.  
2.  TIỀM  NĂNG  VÀ  KHẢ  NĂNG  TẬN  DỤNG  NHIỆT  KHÍ  
THẢI ĐỘNG CƠ    
Cụm TB-MN không liên hệ cơ khí với trục khuỷu do đó  
không lấy mất công suất của động cơ. Mặt khác, khi tăng  
áp suất khí nạp (nếu hòa khí động cơ không thay đổi) sẽ  
làm giảm tỷ lệ lượng nhiệt truyền cho nước làm mát cũng  
như công tổn hao cơ giới, do đó sẽ làm tăng hiệu suất có  
ích  của  ĐCĐT.  Tuy  nhiên,  tăng  áp  TB-MN  cũng  có  những  
hạn chế như ở chế độ tải nhỏ, năng lượng của khí thải thấp,  
không đủ để cung cấp cho cụm TB-MN. Ở các chế độ này  
cụm  TB-MN  còn  làm  tăng  cản  trên  đường  nạp  thải,  làm  
tăng tổn hao cơ giới của ĐCĐT. Để khắc phục hạn chế này  
các động cơ hiện nay đã trang bị hàng loạt các công nghệ  
hiện đại như tăng áp tuabin kép Bi-Turbo hay Twin Turbo,  
thay đổi cấu trúc hình học tuabin VGT (Variable Geometry  
Turbocharger),  tuabin  có  hai  cửa  cấp  khí  vào  (Twin-scroll  
divided  turbochargers), tuabin với quán tính nhỏ kết hợp  
với cửa xả (Wastegate)...[9, 10, 11].  
Nguồn năng lượng từ ĐCĐT truyền cho  máy công tác  
hoàn toàn xuất phát từ sự đốt cháy nhiên liệu, chuyển hóa  
từ nhiệt năng thành cơ năng theo định luật nhiệt động thứ  
nhất.  Theo  định  luật  này  luôn  có  sự  cân  bằng  giữa  năng  
lượng đầu vào và đầu ra trong hệ thống. Trong ĐCĐT nhiên  
liệu và không khí được đưa vào buồng cháy, tại đây diễn ra  
quá trình chuyển đổi từ hóa năng sang nhiệt năng thông  
qua quá trình cháy. Chỉ một phần năng lượng nhiệt chuyển  
đổi thành công có ích phần còn lại mất mát cho hệ thống  
làm mát và nhiệt khí thải, phần năng lượng còn lại bao gồm  
công tổn hao cơ giới như công dẫn động bơm nước, quạt  
gió, cơ cấu phối khí; ma sát giữa các ổ trục, piston - xilanh  
và một phần nhỏ do nhiên liệu không cháy hết.  
Hình 1 thể hiện sự phân bố năng lượng trong động cơ  
diesel  [8].  Có  thể  nhận  thấy  để  giảm  các  tổn  thất  nhiệt,  
ĐCĐT  cần  làm  việc  ổn  định  ở  chế  độ  tải  trọng  cao.  Tuy  
nhiên,  chế  độ  làm  việc  thực  tế  của  ĐCĐT  thường  xuyên  
thay đổi. Đặc biệt là ĐCĐT trên các phương tiện giao thông  
vận tải thường làm việc ở vùng tải nhỏ và trung bình.    
Như vậy, ngoài việc tối ưu hóa các thông số làm việc của  
động cơ thì việc tận dụng các nguồn nhiệt thải (làm mát,  
khí  thải)  sẽ  cho  phép  nâng  cao  hiệu  suất  sử  dụng  nhiệt  
chung.    
Tổn thất nhiệt khác  
Nhiệt khí thải  
 
Hình 2. Sơ đồ hệ thống tăng áp Tuabin - Máy nén  
3.2.  Chuyển  đổi  năng  lượng  nhiệt  khí  thải  thành  điện  
theo nguyên lý nhiệt - điện TEG  
Nhiệt truyền cho hệ thống  
làm mát  
Chuyển  đổi  nhiệt  -  điện  TEG  (Thermo  Electric  
Generators)  là  phương  pháp  dựa  trên  hiệu  ứng  Seebeck  
[12]. Mỗi phần tử TEG bản chất là một cặp tấm bán dẫn loại  
N và P, các tấm bán dẫn được bố trí một bề mặt tiếp xúc với  
nguồn  nóng  T1  một  mặt  tiếp  xúc  với  nguồn  lạnh  T2.  Khi  
chênh  lệch  nhiệt  độ  giữa  nguồn  nóng  và  nguồn  lạnh  đủ  
lớn các hạt mang điện tích  trên  hai nhánh bán dẫn sẽ di  
chuyển về phía có nhiệt độ thấp, với tấm bán dẫn loại N là  
các hạt điện tích âm (electron), tấm bán dẫn loại P là các lỗ  
trống  mang  điện  tích  dương.  Do  đó,  nơi  tập  chung  ít  
electron trên tấm bán dẫn loại N sẽ mang điện tích dương  
(+) còn nơi tập trung ít lỗ trống trên tấm bán dẫn P mang  
điện tích âm. Do đó khi nối hai bề mặt bán dẫn như hình 3  
sẽ tạo thành mạch kín sinh ra dòng điện.     
Sinh công có ích  
25  
50  
Tải (%)  
75  
100  
 
Hình 1. Phân bố năng lượng trong ĐCĐT  
3.  CÁC  PHƯƠNG  PHÁP  TẬN  DỤNG  NHIỆT  KHÍ  THẢI  
ĐỘNG CƠ   
3.1. Trang bị cụm tuabin - máy nén   
Trang  bị  thêm  cụm  Tuabin  -  Máy  nén  (TB-MN)  trên  
đường  nạp  -  thải  nhằm  mục  đích  tăng  công  suất,  công  
   Tạp chí KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ● Tập 57 - Số 3 (6/2021)                                          Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn  
108  
P-ISSN 1859-3585     E-ISSN 2615-9619                                                                                                                           SCIENCE - TECHNOLOGY  
 
Hình 4. Mô hình TEG kết hợp với hệ thống trao đổi nhiệt khí thải  
 
Hình 3. Nguyên lý hoạt động của tế bào TEG theo hiệu ứng See-bek  
Hiệu suất  nhiệt -  điện  của  một phần  tử TEG  được  xác  
định theo công thức sau:  
T T2  
1
 
 
 
 
    (1)   
η   
2T 1/ 2(T T2 ) 4 / Z  
1
1
Trong  đó,  T1,  T2  lần  lượt  là  nhiệt  độ  nguồn  nóng  và  
nguồn lạnh, Z hệ số phẩm chất (đơn vị K-1) phụ thuộc loại  
vật liệu bán dẫn.  
 
Hình 5. Mô hình TEG song song kết hợp với hệ thống trao đổi nhiệt khí thải  
Với  những  ưu  điểm  nổi  trội  như  kích  thước  nhỏ  gọn,  
chuyển đổi năng lượng nhiệt thành điện một cách trực tiếp  
nên công nghệ này đã được các hãng xe nổi tiếng trên thế  
giới như BMW, Ford, hay Honda đầu tư nghiên cứu, hiện tại  
BMW đã ứng dụng TEG trên một số dòng xe của mình [13,  
14]. Tuy nhiên, TEG vẫn còn nhiều hạn chế cần nghiên cứu  
cải tiến như hiệu suất chuyển đổi thấp (5 ÷ 8%), chi phí đầu  
tư khá lớn. Từ công thức (1) có thể thấy để tăng hiệu suất  
chuyển đổi cần tăng chênh lệch nhiệt độ giữa nguồn nóng  
và nguồn lạnh cũng như đòi hỏi vật liệu có phẩm chất tốt  
(hệ số Z cao). Thực tế để tăng hiệu quả sử dụng nhiệt người  
ta thường sử dụng TEG kết hợp với hệ thống trao đổi nhiệt  
như thể hiện trên hình 4. Trong phương pháp này, các ống  
trao đổi nhiệt có mục đích thay thế các cánh tản nhiệt, làm  
tăng khả năng trao đổi nhiệt của hệ thống từ đó làm tăng  
hiệu  suất  tận  dụng  nhiệt.  Phương  pháp  này  cho  thấy  rất  
nhiều  triển vọng  bởi  cả TEG và ống  trao đổi  nhiệt đều  ở  
dạng rắn, ổn định, không gây ồn cũng như có độ bền cao.  
Hơn nữa, ống tận dụng nhiệt sẽ làm giảm nhiệt trở giữa khí  
thải và TEG, giảm sự mất mát áp suất của dòng khí và tạo ra  
sự cơ động trong việc thiết kế hệ thống. Tuy nhiên, phương  
pháp này còn một số mặt hạn chế như TEG có hiệu suất tận  
dụng nhiệt thấp cùng nhiệt độ cho phép cao nhất ở bề mặt  
bị hạn chế và ống thu hồi nhiệt có vấn đề về tốc độ trao đổi  
nhiệt cũng như vùng nhiệt độ hoạt động hiệu quả.  
1-  Đường  nước  làm  mát;  2-  TEG  mô  đun;  3-  Đường  nước  mang  nhiệt;  
4- Tấm cách nhiệt; 5- Dầu dẫn nhiệt; 6- T-type.  
3.3. Chuyển  đổi năng lượng  khí thải  thành  năng được  
lưu trữ dưới dạng hóa năng    
Hệ  thống  lưu  trữ  năng  lượng  hóa  học  hay  CHS  
(Chemical heat storage) là một dạng của hệ thống lưu trữ  
nhiệt năng. CHS được sử dụng để chuyển đổi nhiệt năng  
thành hóa năng theo phương trình phản ứng thuận nghịch  
như sau: A + Nhiệt ↔ B + C.   
Nguyên lý cơ bản của phương pháp này là năng lượng  
nhiệt được hấp thụ trong quá trình lưu trữ nhiệt bởi một  
hóa chất A để trở thành hai thành phần B và C. Khi cần sinh  
nhiệt,  hai  sản  phẩm  B  và  C  được  trộn  với  nhau  để  hoàn  
nguyên thành A ban đầu và nhiệt được giải phóng. So với  
các hệ thống lưu trữ năng lượng nhiệt khác, CHS có mật độ  
năng lượng cao hơn và có thể lưu trữ trong thời gian dài  
hơn  với  tổn  thất  nhiệt  tương  đối  nhỏ  [16].  Phuơng  pháp  
này hiện đã được áp dụng để lưu trữ năng lượng mặt trời  
để đun nóng ở các hộ gia đình cũng như để lưu trữ năng  
lượng điện ở các giờ thấp điểm trong các nhà máy điện [17,  
18]. Nhược điểm chính của hệ thống này là phần trăm nhiệt  
tích trữ được còn thấp và chỉ có thể lưu trữ năng lượng từ  
các nguồn nhiệt có nhiệt độ cao.  
Để tăng tỷ lệ tận dụng nhiệt khí thải, hình 5 trình bày  
cách  thức  bố  trí  các  tấm  TEG  xếp  chồng  lên  nhau,  xen  
giữa  các  tấm  là  các  kênh  dẫn  khí  thải  và  nước  làm  mát  
[15]. Phương pháp này sẽ tận dụng triệt để hơn nhiệt khí  
thải qua đó làm tăng hiệu quả sử dụng nhiệt của cả hệ  
thống. Tuy nhiên, cách thức bố trí này cũng sẽ làm tăng  
không gian bố trí, khó khăn trong việc lắp đặt, bảo dưỡng  
sửa chữa.  
 
Hình 6. Sơ đồ nguyên lý của hệ thống CHS lưu trữ năng lượng nhiệt khí thải  
ĐCĐT  
109  
KHOA HỌC   
  CÔNG NGHỆ  
 P-ISSN 1859-3585      E-ISSN 2615-9619  
Tại  Việt  Nam,  Cao  Đức  Lượng  và  các  cộng  sự    đã  tiến  bình như khí thải động cơ. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả  
hành  nghiên  cứu  một  hệ  thống  lưu  trữ  nhiệt  hóa  học  sử  vẫn cần nghiên cứu xác định các môi chất trung gian mới,  
dụng hợp chất của Mg(OH)2 và than chì với tỉ lệ khối lượng là  nâng  cao  hiệu  suất  của  quá  trình  giãn  nở,  hiệu  suất  quá  
8:1 (block state) [19]. Nhiệt  độ để phản  ứng của hệ  thống  trình trao đổi nhiệt tại nồi hơi và bình ngưng, phối hợp quá  
phù hợp với nhiệt độ khí xả của ĐCĐT và sử dụng thêm than  trình làm việc của hệ thống phù hợp với chế độ làm việc  
chì sẽ cho hỗn hợp khối lượng riêng lớn hơn cũng như khả  của  ĐCĐT  để  có  thể  cải  thiện  hiệu  suất  của  cả  hệ  thống  
năng trao đổi nhiệt tốt hơn chỉ sử dụng Mg(OH)2. Nguyên lý  ORC-ĐCĐT.    
làm việc của hệ thống được thể hiện trong hình 6.  
Tania  Morabito  và  các  đồng  nghiệp  đã  tiến  hành  thử  
nghiệm  một  loại  vât  liệu  dựa  trên  các  tinh  thể  nhôm  
mangan để làm vật liệu trung gian trong quá trình biến đổi  
từ hóa năng sang nhiệt năng và ngược lại để sử dụng trong  
các nhà máy năng lượng điện mặt trời [20]. Nhóm nghiên  
cứu sử dụng môi chất trung gian là khí nén và thu được kết  
quả khả quan với hỗn hợp có kết cấu ổn định, giảm thiểu  
tối đa sự giảm áp khi các phản ứng hóa học  xảy ra đồng  
thời  vật  liệu  có  mật  độ  năng  lượng  trên  đơn  vị  thể  tích  
tưởng đối cao. Tuy nhiên, tác giả cũng đã đề cập rằng hiệu  
suất của hệ thống lưu trữ năng lượng này có thể được cải  
thiện đáng kể bằng cách tối ưu hóa các đặc tính của hỗn  
hợp  tinh  thể  nhôm  mangan.  Đặc  biệt  việc  cải  thiện  
 
enthalpy của phản ứng là hoàn toàn có thể thực hiện được.  
3.4. Chuyển đổi năng lượng khí thải thành năng lượng  
cơ khí hoặc điện ORC hoặc BOC  
Hình 7. Mô hình ORC đơn giản  
3.5. Lưu trữ và hấp thụ nhiệt khí thải sử dụng vật liệu  
thay đổi pha  
Chu trình rankine ORC (Organic Rankine Cycle) được coi  
là chu trình đơn giản, hiệu quả và phù hợp với mức nhiệt  
thấp như khí thải của ĐCĐT. Mô hình ORC đơn giản như thể  
hiện trên hình 7 [21]. Hệ thống bao gồm nồi hơi, thiết bị  
giãn nở sinh công (tuabin), bình ngưng tụ, bơm và môi chất  
trung gian. Khí thải động cơ được dẫn qua nồi hơi, tại đây  
môi chất trung gian nhận nhiệt, chuyển pha từ lỏng sang  
khí. Tiếp theo, môi chất khí được đưa tới giãn nở sinh công  
tại  tuabin.  Công  sinh  ra  từ  quá  trình  giãn  nở  sẽ  được  sử  
dụng dẫn động máy phát điện hoặc dẫn động cơ khí cho  
các  ứng  dụng  khác.  Sau  khi  qua  tuabin,  môi  chất  được  
ngưng tụ tại bình ngưng sau đó được bơm bơm trở lại nồi  
hơi  thực  hiện  một  chu  trình  kín.  BOC  (Breyton  Organic  
Cycle) là  một  trường  hợp riêng của ORC khi sử dụng các  
chất khí làm môi chất trung gian. Phương pháp này giúp  
rút ngắn thời gian quá độ của hệ thống cũng như cải thiện   
hiệu suất tận dụng cửa hệ thống ở các chế độ tải trọng nhỏ  
của  ĐCĐT. Các môi chất  trung  gian BOC thường được sử  
dụng  hiện  nay  như  CO2,  CFC....  Không  có  môi  chất  trung  
gian nào là hoàn hảo,  mỗi môi chất chỉ phù  hợp và phát  
huy  hiệu suất cao  trong một số vùng làm  việc  nhất định  
của động cơ [22].  
Vật liệu thay đổi pha (PCM) là vật liệu mà pha của nó sẽ  
thay đổi ở nhiệt độ nhất định. Trong quá trình thay đổi pha,  
PCM hấp thụ hoặc giải phóng một lượng nhiệt lớn để thực  
hiện quá trình biến đổi. Hiện tượng này được gọi là nhiệt ẩn  
của  phản ứng  tổng  hợp hoặc hóa  hơi, và thông qua quá  
trình này, năng lượng được lưu trữ hoặc giải phóng. Vật liệu  
làm PCM được chia thành hai nhóm chính, vô cơ và hữu cơ  
(paraffin) [24]. Ưu điểm của PCM là vật liệu được sử dụng để  
chế tạo ra PCM có thể tái chế được, không gây ra sự ăn mòn  
đối với loại hữu cơ và có nhiệt ẩn cao. Hạn chế của phương  
pháp này là thời gian lưu trữ không dài, hệ số truyền nhiệt  
kém, có  hiện  tượng  nóng chảy không đồng nhất và hiện  
tượng siêu lạnh [25].  
V.Pandiyarajan cùng nhóm nghiên cứu đã giới thiệu khái  
niệm  bình  tích  trữ  nhiệt  PCM.  Hệ  thống  bao  gồm  một  
khoang chứa các bình lưu trữ nhiệt, đường vào và ra của môi  
chất truyền nhiệt, môi chất là dầu được bơm vào hệ thống từ  
đường vào ở trên để trao đổi nhiệt với các bình lưu trữ và đi  
ra ở phía dưới [26]. Kết quả cho thấy hệ thống có thể lưu trữ  
tới 50% lượng nhiệt khí thải của động cơ do đó giúp nâng  
cao hiệu suất nhiệt  tổng thể  của hệ  thống ĐCĐT-PCM lên    
10 ÷ 15%. Lượng nhiệt lưu trữ này được tái sử dụng để sấy  
nóng  nước  làm  mát,  khí  nạp  trong  trường  hợp  khởi  động  
lạnh. Tuy nhiên, khối lượng và thể tích không gian của hệ  
thống còn lớn, tốc độ trao đổi nhiệt thấp.    
Trong hệ thống ORC thì áp suất hơi là thông số quan  
trọng  nhất  ảnh  hưởng  tới  hiệu  suất  hệ  thống.  Tuy  nhiên  
chênh lệch nhiệt độ, tổn hao của bộ trao đổi nhiệt, nhiệt độ  
tới hạn của môi chất trung gian sẽ là những rào cản chính  
ảnh hưởng tới áp suất làm việc tối đa của chu trình. ORC  
được sử dụng trong các hệ thống kết hợp nhiệt với công là  
một lựa chọn tốt để tăng cường hiệu suất và giảm thiểu giá  
thành [23].   
Mert Gürtürk cùng các cộng sự đã thực hiên một nghiên  
cứu về một phương pháp thiết kế mới cho các vây truyền  
nhiệt trong bộ PCM [27]. Trong nghiên cứu này, các tác giả  
đã phân tích quá trình trao đổi và tích trữ nhiệt của PCM và  
đưa ra kết cấu cánh và vây truyền nhiệt mang lại hiệu quả  
Có  thể  thấy,  ORC  là  một  phương  pháp  có  nhiều  triển  
vọng trong việc tận dụng các nguồn nhiệt thấp và trung  
   Tạp chí KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ● Tập 57 - Số 3 (6/2021)                                          Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn  
110  
P-ISSN 1859-3585     E-ISSN 2615-9619                                                                                                                           SCIENCE - TECHNOLOGY  
cao nhất trong quá trình nóng chảy của PCM từ đó cải thiện  ra các hướng cải tiến mới cho hệ thống trong tương lai để  
các tính năng kỹ thuật của bình lưu trữ nhiệt, kết cấu này  tận  dụng  nguồn  nhiệt  này.  Nhược  điểm  của  hệ  thống  là  
được thể hiện trong hình 8. Kết quả cho thấy, định hướng  còn cồng kềnh, bố trí khó khăn và lượng nước ngọt tạo ra  
để thiết kế cánh trao đổi nhiệt trong đó để ý đến quá trình  vẫn còn thấp.  
nóng chảy của PCM trong bình trữ nhiệt là một hướng đi  
đang được các nhà nghiên cứu thử nghiệm và phát triển.  
Bằng cách đặt các tấm cánh trao đổi nhiệt một cách hợp lý,  
nhóm của Mert Gürtürk đã tăng tốc độ nóng chảy của PCM  
lên đến 65% từ đó cải thiện tốc độ truyền nhiệt cũng như  
lượng nhiệt hấp thụ và lưu trữ được của PCM. Nghiên cứu  
này đem lại nhiều triển vọng và hứa hẹn để cải thiện các  
tính năng kỹ thuật của bình lưu trữ nhiệt sử dụng vật liệu  
đổi pha tuy nhiên các cải tiến về vật liệu làm cánh cũng như  
giá thành sản phẩm sẽ cần được tiến hành để nghiên cứu  
này có thể được sớm đi vào thực tế.  
 
Hình 9. Sơ đồ hệ thống chưng cất nước ngọt  
4. KẾT LUẬN  
Có thể nhận thấy tiềm năng rất lớn về sử dụng hiệu quả  
năng lượng thông qua việc áp dụng các công nghệ thu hồi  
nhiệt khí thải. Việc sử dụng hiệu quả không chỉ là tận dụng  
nguồn nhiệt thải này để sinh công cơ khí mà còn có thể sử  
dụng  nguồn  nhiệt  này  để  sưởi  ấm,  tạo  năng  lượng  điện  
hoặc vận hành hệ thống làm lạnh. Việc thu hồi nhiệt thải từ  
khí thải và chuyển đổi thành năng lượng cơ học là có thể  
với sự trợ giúp của các chu trình nhiệt động học Rankine,  
Stirling và Brayton, hấp thụ hơi. Đối với hệ thống thu hồi  
nhiệt thải sử dụng nhiệt thấp, có hiệu suất thấp thì nó rất  
hữu ích cho cùng khả năng  tăng hiệu suất nhiệt và giảm  
 
phát thải. Tái sử dụng nhiệt khí thải cũng sẽ giúp cải thiện  
Hình 8. Cấu tạo cánh và vây truyền nhiệt của bộ PCM  
hiệu suất nhiệt, suất  tiêu hao  năng lượng và khí  thải của  
3.6. Tận dụng trực tiếp nhiệt khí thải    
động cơ. Nếu những công nghệ này được các nhà sản xuất  
áp dụng thì nó sẽ làm tăng hiệu suất chung của động cơ  
đốt trong.    
Phương  pháp  tận dụng nhiệt khí thải trực tiếp để sấy  
nóng khí nạp, dầu bôi trơn (khi động cơ mới khởi động) đã  
được sử dụng trên nhiều động cơ, trên một số dòng xe du  
lịch hiện nay người ta còn sử dụng nhiệt khí thải (phía sau  
bộ xúc tác) để sưởi ấm không gian trong xe [28].    
 
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Trên các tầu thủy cỡ lớn, nhiệt khí thải và nước làm mát  
động cơ không những được tận dụng để sưởi ấm mà còn  
có  thể  được  sử  dụng  để  chưng  cất  nước  biển  tạo  thành  
nước sinh hoạt trên tàu. K.S.Maheshwari cùng các cộng sự  
đã nghiên cứu tận dụng nhiệt thải của động cơ diesel để  
trưng cất nước ngọt [29]. Hệ thống sử dụng nhiệt thải của  
khí xả động cơ để đun nóng nước biển rồi trưng cất thành  
nước ngọt, nước mặn còn được đưa qua bình ngưng tụ để  
hấp thụ nhiệt của quá trình ngưng tụ. Sơ đồ của hệ thống  
được thể hiện trên hình 9.  
[1].  John  B.  Heywood,  2018.  Internal  Combustion  Engine  Fundamentals  
Second edition. McGraw-Hill Education, ISBN: 978-1-26-011611-3.  
[2]. Charles Fayette Taylor, 1985. Internal Combustion Engine in Theory and  
Practice, Volume 1: Thermodynamics, Fluid Flow, Performance. MIT Press.   
[3]. Eran Sher, 1998. Handbook of Air Pollution From Internal Combustion  
Engines.  
[4].  Georgios  Fontaras,  at  el,  2013.  Development  and  review  of    Euro  5  
passenger car emission factors based on experimental results over various driving   
cycles. Science of the Total Environment.  
Kết quả của nghiên  cứu cho  thấy so với khi không sử  
dụng bộ phận gia nhiệt cho nước biển thì hệ thống có bình  
gia nhiệt sẽ có hiệu suất cao hơn từ 20 ÷ 30% tăng dần khi  
tăng tải của ĐCĐT. Trong bình ngưng, nước muối đóng vai  
trò như  một chất làm mát cho hơi trong bình hóa  hơi và  
được lưu trữ trong bình riêng ở nhiệt độ 600C. Điều này mở  
[5]. J. S. Jadhao, at el, 2013. Review on Exhaust Gas Heat Recovery for I.C.  
Engine. International Journal of Engineering and Innovative Technology (IJEIT)  
Volume 2, Issue 12.  
[6]. M. Sc. Milkov N.,  at  el, 2015.  Advanced  Technologies For  Waste Heat  
Recovery In Internal Combustion Engines. Technical University of Sofia.  
111  
KHOA HỌC   
  CÔNG NGHỆ  
 P-ISSN 1859-3585      E-ISSN 2615-9619  
[7].  John  R.Armstead,  at  el,  2014.  Review  of  Waste  Heat  Recovery  
[28]. Mahmoud Khaled, et al, 2016. Heating fresh air by hot exhaust air of  
Mechanisms  for  Internal  Combustion  Engines.  Journal  of  Thermal  Science  and  HVAC systems. Case Studies in Thermal Engineering, Volume 8, Pages 398-402  
Engineering Applications, Vol. 6.  
[29]. K.S.Maheswari, et al, 2015. Thermal desalination using diesel engine  
[8]. Nguyễn Tất Tiến, 1994. Nguyên lý động cơ đốt trong. NXB Giáo dục.  
exhaust waste heat. Desalination 358, 94 –100.  
[9]. Dengting Zhu, at el, 2019. Fuel consumption and emission characteristics  
in  asymmetric  twin-scroll  turbocharged  diesel  engine  with  two  exhaust  gas  
recirculation circuits. Applied Energy 238.   
 
AUTHORS INFORMATION  
Khong Vu Quang1, Nguyen Duy Tien1, Pham Minh Tuan1,    
Nguyen Phi Truong2, Le Manh Toi1, Le Dang Duy1  
1School  of  Transportation  Engineering,  Hanoi  University  of  Science  and  
Technology  
2Hanoi University of Industry  
[10].  Adam  J.  Feneleya,  at  el,  2016.  Variable  Geometry  Turbocharger  
Technologies for Exhaust Energy Recovery and Boosting‐A Review. Renewable and  
Sustainable Energy Reviews.  
[11].  Viktor  Olsson,  2015.  An  on-engine  twin-scroll  turbine  performance  
estimation.  Master  of  Science  Thesis,  KTH  Industrial  Engineering  and  
Management  
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
[12]. H. Julian Goldsmid, 2009.  Introduction to Thermoelectricity. Springer  
Series in Materials Science 121, Springer-Verlag Berlin Heidelberg.  
[14]. B. Orr, at el, 2016. A review of car waste heat recovery systems utilising  
thermoelectric generators and heat pipes. Applied Thermal Engineering 101, 490–  
495.  
[15]. Xing Niu, at el, 2009. Experimental study on low-temperature waste  
heat thermoelectric generator. Journal of Power Sources 188, 621–626.  
[16].  Benoît  Stutz,  at  el,  2016.  Storage  of  thermal  solar  energy.  Comptes  
Rendus Physique, p. 401–414.  
[17]. Pelay U., et al, 2017. Thermal energy storage systems for concentrated  
solar power plants. Renewable and Sustainable Energy Reviews, 79: p. 82-100.  
[18]. Zamengo M., 2014. A Study on Heat Transfer-Enhanced Composites for a  
Magnesium Oxide/Water Chemical Heat Pump. Tokyo Institute of Technology.  
[19].  Duc  Luong  Cao,  at  el,  2018.  Investigation  of  chemical  heat  storage  
processes for recovering exhaust gas energy in internal combustion engines. 21st  
Australasian Fluid Mechanics Conference Adelaide, Australia.  
[20]. Tania Morabito, Salvatore Sau, at el, 2020. Chemical CSP storage system  
based on a manganese aluminium spinel. Solar Energy 197, 462–471.  
[21].  Alias  Mohd  Noor  et  al,  2015.  Technologies  for  Waste  Heat  Energy  
Recovery from Internal Combustion Engine: A Review. Conference Paper.  
[22].  U.  Drescher,  D.  Bruggemann,  2007.  Fluid  selection  for  the  organic  
Rankine  cycle  (ORC)  in  biomass  power  and  heat  plants.  Applied  Thermal  
Engineering 27: 223–228.  
[23]. Chen Yue, at el, 2019. Thermal and economic analysis on vehicle energy  
supplying system based on waste heat recovery organic Rankine Cycle. Applied  
Energy 248, 241–255.  
[24]. Luisa F. Cabeza, 2014. Advances  in Thermal Energy Storage Systems:  
Methods and Applications. Woodhead Publishing (Woodhead Publishing Series in  
Energy).  
supercooling  
[26]. V. Pandiyarajan et al, 2011. Experimental investigation on heat recovery  
from diesel engine exhaust using finned shell and tube heat exchanger and thermal  
storage system. Applied Energy 88, 77–87.  
[27]. Mert Gurturk, Besir Kok, 2020. A new approach in the design of heat  
transfer fin for melting and solidification of PCM. International Journal of Heat and  
Mass Transfer 153, 119671.  
   Tạp chí KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ● Tập 57 - Số 3 (6/2021)                                          Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn  
112  
pdf 6 trang yennguyen 22000 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các phương pháp tận dụng năng lượng nhiệt khí thải trong động cơ đốt trong", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_phuong_phap_tan_dung_nang_luong_nhiet_khi_thai_trong_don.pdf