Qui định đấu nối các nhà máy điện năng lượng mặt trời vào hệ thống điện

QUI ĐỊNH ĐẤU NỐI CÁC NHÀ MÁY ĐIỆN  
NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI VÀO HỆ THỐNG ĐIỆN  
PGS.TS. NGUYỂN HỮU PHÚC  
Trường ĐH Bách Khoa – ĐH Quốc Gia TP. HCM  
TÓM TẮT – Trong các năm qua sự xâm nhập của các nguồn phát từ năng lượng tái tạo vào hệ  
thống điện đã không ngừng tăng lên trong tổng thể các nguồn phát điện tại các nước. Mức độ thâm  
nhập ngày càng cao của các nhà máy điện mặt trời, nhà máy năng lượng gió đã và đang đặt ra các  
vấn đề, cùng với nguy cơ đến sự mất ổn định của hệ thống điện do tính không ổn định nguồn công  
suất phát phụ thuộc nhiều vào thời tiết, đặc biệt trong trường hợp xảy ra các sự cố trên lưới điện. Từ  
nhiều năm trước, tại các nước đã ban hành các qui định kĩ thuật cho việc đấu nối các nhà máy điện  
năng lượng mặt trời với lưới điện, ở mức điện áp đấu nối trung áp hay hạ áp. Trong bài báo sẽ trình  
bày các qui định đấu nối của các nhà máy điện mặt trời vào hệ thống tại các nước, cũng như Việt  
Nam, cùng với các đặc điểm kĩ thuật liên quan. Các qui định đấu nối đều có điểm chung ở việc phản  
ánh mức xâm nhập ngày càng tăng của các nguồn phát năng lượng tái tạo vào hệ thống điện, và tập  
trung vào các vấn đề tần số, điều khiển công suất tác dụng, điện áp, điều khiển công suất phản kháng,  
chất lượng điện (họa tần, mức nhấp nháy điện áp), và đặc biệt về yêu cầu lướt qua sự cố.  
Từ khóa: năng lượng tái tạo, mức xâm nhập, qui định đấu nối, nhà máy điện mặt trời, khả năng  
lướt qua sự cố  
1. GIỚI THIỆU  
chiếm tỉ trọng không đáng kể, khi đó cho phép  
NMĐMT cắt đấu nối trong trường hợp xảy ra  
sự cố trên lưới. Qui định này có ảnh hưởng rất  
đáng kể đến thiết kế của các NMĐMT [1].  
Các nhà máy phát điện mặt trời (NMĐMT)  
theo kĩ thuật quang điện (biến đổi trực tiếp  
năng lượng mặt trời thành năng lượng điện)  
(photovoltaic power plants) hiện đóng vai trò  
ngày càng tăng, trong số các nguồn phát năng  
lượng tái tạo phân tán được tích hợp vào các  
nguồn phát điện truyền thống trong hệ thống  
điện. Đặc điểm của các NMĐMT là hầu hết  
điện năng được sản xuất ra đều được đấu nối ở  
cấp điện áp hạ áp hay trung áp, gần với các hộ  
tiêu thụ, do đó hầu như không gây ra quá tải  
đối với đường dây truyền tải. Mặt khác, nguồn  
điện từ các NMĐMT đều được sản xuất ban  
ngày, khi nhu cầu tải đang tăng cao, do đó sản  
lượng điện được sản xuất sẽ có giá trị cao. Tuy  
vậy, mức độ xâm nhập (penetration level) ngày  
càng cao của các NMĐMT đã và đang đặt ra các  
vấn đề, và các nguy cơ đến sự mất ổn định của  
hệ thống điện, đặc biệt trong trường hợp khi có  
các sự cố trên lưới điện. Các qui định đấu nối  
(grid codes) (QĐĐN) hiện nay thường yêu cầu  
việc đấu nối các NMĐMT vào lưới điện trung  
áp tương tự như ở việc đấu nối các nhà máy  
điện truyền thống vào cấp điện áp cao. Điều  
này qui định các NMĐMT được đấu nối vào  
mạng trung áp phải có khả năng giúp vào việc  
ổn định lưới và không được cắt NMĐMT khỏi  
lưới điện trong thời gian xảy ra sự cố trên lưới  
điện. Yêu cầu này là khác biệt lớn so với các qui  
định đấu nối trước đây trong tình hình nguồn  
Tực tế cho thấy việc đấu nối NMĐMT với  
lưới điện đặt ra nhiều thách thức trong điều  
khiển và vận hành, vì vậy việc đấu nối này cần  
tuân thủ các QĐĐN quốc gia. Teo SANDIA  
(Sandia National Laboratories- Hoa Kì) [4] các  
hệ thống phát quang điện (HTPQĐ) thường  
được phân loại theo các qui mô: dân dụng  
(residential), phi dân dụng (non-residential)  
và qui mô lớn hoặc nhà máy điện (large/ utility  
scale). Với qui mô dân dụng là HTPQĐ lắp đặt  
trên mái nhà ở, thường có công suất nhỏ hơn  
10 kW. HTPQĐ qui mô phi dân dụng được lắp  
trên các trên nóc các công trình lớn với công  
suất từ vài chục kW đến vài MW, trong khi với  
HTPQĐ qui mô lớn hoặc nhà máy điện thường  
có công suất từ vài chục MW đến vài trăm MW  
[6]. Các NMĐMT có thể được đấu nối với  
hệ thống điện ở cấp hạ áp hoặc trung áp tùy  
thuộc vào công suất của nhà máy. Các QĐĐN  
của Đức và các nước Tây Âu [7] và SANDIA  
[4] đề cập đến các yêu cầu kĩ thuật để đấu nối  
NMĐMT vào điện áp trung áp, trong khi IEEE  
929-2000 [5] chủ yếu với các quy định đấu nối  
của các NMĐMT với lưới điện hạ áp, và được  
điều chỉnh thích hợp trong trường hợp đấu nối  
vào lưới điện trung áp.  
Bài báo sẽ trình bày các vấn đề và yêu cầu  
phát từ năng lượng tái tạo vào hệ thống còn liên quan đến việc đấu nối của các NMĐMT  
BẢN TIN HỘI ĐIỆN LỰC MIỀN NAM - THÁNG 3 / 2019  
1
vào lưới điện theo các QĐĐN khác nhau, chủ  
yếu tại các quốc gia Tây Âu và Hoa Kỳ, tại các  
quốc gia này các NMĐMT đã và đang được tích  
hợp ngày càng nhiều vào hệ thống điện, cũng  
như theo các tiêu chuẩn quốc tế IEC hay IEEE.  
Bài báo xem xét các tác động của các mức điện  
áp lên các QĐĐN, cũng như các yêu cầu vận  
hành và điều khiển trong điều kiện làm việc  
bình thường và trong điều kiện sự cố, và yêu  
cầu về truyền thông, liên lạc SCADA trong các  
NMĐMT.  
47.5  
< f <  
51.5  
48 < f 47.5 < f  
Dải tần số  
< 51  
< 52  
Tời gian  
cắt khi vượt  
tần số (over-  
frequency trip  
time)  
Tời gian cắt  
khi dưới tần  
số (under-  
frequency trip  
time)  
Không  
áp  
10 chu  
kì  
Không  
áp dụng  
dụng  
Không  
áp  
10 chu  
kì  
Không  
áp dụng  
dụng  
II. QUI ĐỊNH ĐẤU NỐI  
Sau đây là các nét chính trong QĐĐN  
đang hiệu lực tại một số quốc gia khi đấu nối  
NMĐMT với lưới điện hạ áp hay trung áp.  
Tông thường, các QĐĐN bao gồm các yêu cầu  
kĩ thuật trong hai điều kiện vận hành: khi lưới  
điện làm việc bình thường và khi xảy ra sự cố.  
Teo SANDIA và Western Electricity  
Coordinating Council (WECC) và Te North  
American Electric Reliability Corporation  
(NERC) [8] các qui định về tần số khi đấu nối  
NMĐMT quy mô lớn vào lưới điện trung áp  
cần phải nằm trong dải tần số cho phép như  
trong Hình 1 và Bảng 2.  
A. Trong điều kiện làm việc bình thường  
Khi lưới điện làm việc bình thường các yêu  
cầu của QĐĐN thể hiện qua các mục: độ lệch  
tần số, độ lệch điện áp, điều khiển công suất tác  
dụng và điều khiển công suất phản kháng, dòng  
ngắn mạch giới hạn, chất lượng điện năng (họa  
tần, nhấp nháy điện áp).  
A.1. Độ lệch tần số  
Teo IEEE 929-2000, NMĐMT công suất  
nhỏ (< 1 MW) khi đấu nối vào lưới điện hạ  
áp phải làm việc bình thường trong dải tần số  
từ 59.3 Hz (98.83%) đến 60.5 Hz (100.83%),  
ở tần số danh định 60 Hz. Điều này có nghĩa  
NMĐMT phải cắt ra khỏi lưới khi tần số giảm  
xuống còn 59.2 Hz (98,66%) hay khi tăng cao  
lên 60.6 Hz (101%). Khi tần số nằm ngoài dải  
giới hạn trên, biến tần NMĐMT phải cắt ra  
khỏi lưới điện trong vòng 6 chu kì (100 ms).  
Trong khi đó, IEC 61727 [6] qui định dải tần số  
từ 49 Hz (98%) đến 51 Hz (102%), ở tần số danh  
định 50 Hz, và khi tần số hệ thống nằm ngoài  
dải giới hạn trên, biến tần phải cắt ra khỏi lưới  
điện trong vòng 10 chu kì (200 ms).  
Khi NMĐMT đấu nối vào lưới điện trung  
áp, độ lệch tần số cho phép được cho trong  
Bảng 1, theo các QĐĐN của Đức, Pháp, Tây  
Ban Nha [1].  
BẢNG 1. Dải tần số làm việc theo QĐĐN tại  
Đức, Pháp, Tây Ban Nha khi đấu nối NMĐMT  
vào lưới điện trung áp  
Hình 1. Đường cong NERC PRC-024 (frequency ride-  
through curves) ở tần số 60 Hz  
BẢNG 2. Dải tần số làm việc của QĐĐN theo  
WECC (frequency ride-through requirements) ở  
tần số 60 Hz  
Dải tần số theo  
QĐĐN WECC  
Tời gian  
Giới hạn dưới  
tần số  
Giới hạn  
trên tần số  
cắt lớn nhất  
(chu kì)  
Không áp  
dụng (liên  
tục)  
60 đến <  
> 59.4  
60.6  
< 59.4  
< 58.4  
< 57.8  
< 57.3  
< 57  
> 60.6  
> 61.6  
-
3 phút  
30 sec  
7.5 sec  
-
45 chu kì  
Tức thời  
Tây Ban  
Quốc gia  
Đức  
Pháp  
Nha  
> 61.7  
2
BẢN TIN HỘI ĐIỆN LỰC MIỀN NAM - THÁNG 3 / 2019  
Teo trên, rõ ràng có sự khác biệt khá nhiều  
Ở những nước với mức xâm nhập của  
về qui định độ lệch tần số trong các QĐĐN tại NMĐMT khá cao trong hệ thống điện, theo  
các quốc gia khác nhau.  
A.2. Độ lệch điện áp  
QĐĐN giới hạn điện áp sẽ như trong Bảng 5,  
khi các NMĐMT đấu nối vào lưới điện hạ áp.  
Trong Bảng 5, mức tăng điện áp tối đa cho phép  
gây ra bởi các HTQĐ cần nhỏ hơn 3% và được  
tính toán dựa vào công suất ngắn mạch tại điểm  
PCC và công suất biểu kiến của NMĐMT [6].  
Teo IEEE 929-2000, một NMĐMT công  
suất nhỏ khi đấu nối với lưới điện ở cấp hạ  
áp phải làm việc bình thường trong dải điện  
áp 106-132V tại điểm nối chung (PCC= point  
of common coupling), tức 88% đến 110% ở  
điện áp danh định 120 V. Điều đó có nghĩa là  
A.3. Điều khiển công suất tác dụng  
Các QĐĐN yêu cầu 2 chế độ điều khiển  
NMĐMT sẽ cắt khỏi hệ thống, khi điện áp làm công suất tác dụng khi đấu nối NMĐMT vào  
việc nằm ngoài các giới hạn này, với thời gian lưới trung áp. Chế độ vận hành 1 là khi nhà  
cắt đấu nối cho trong Bảng 3. Đối với cấp điện máy hoạt động với công suất phát ra không đổi,  
áp hạ áp khác với 120 V, tỉ lệ 88% - 110% điện áp trong khi chế độ 2 là khi nhà máy được yêu cầu  
danh định vẫn được áp dụng. Teo IEC 61727 để tham gia vào việc điều khiển tần số của lưới  
dải điện áp cho các NMĐMT đấu nối với lưới điện. Trong chế độ 2 cần điều khiển công suất  
hạ áp là từ 85% đến 110% của điện áp hạ áp phát của NMĐMT bằng cách giảm công suất  
danh định, với thời gian cắt khỏi lưới điện cho với các mức theo bội số của 10% của công suất  
trong Bảng 4 khi điện áp làm việc lệch khỏi các định mức. Tông thường, các mức đặt công  
giới hạn điện áp cho phép.  
suất là 100%, 60%, 30% và 0% của công suất đặt  
của NMĐMT [1]. Hình 3 và Hình 4 lần lượt cho  
thấy mức giảm công suất phát tác dụng đối với  
các nhà máy điện năng lượng gió NMĐNLG và  
NMĐMT theo mức tăng tần số.  
Bảng 3. Dải điện áp làm việc của QĐĐN theo  
IEEE 929-2000 ở cấp hạ áp 120 V, tần số 60 Hz  
Điện áp tại PCC (điện  
Tời gian cắt lớn  
nhất (chu kì)  
áp 120 V)  
V < 50%  
6
50% < V < 88.33%  
120  
Làm việc bình  
88.33% < V < 110%  
thường  
110% < V < 137.5%  
V 137.5 %  
120  
2
Bảng 4. Dải điện áp làm việc của QĐĐN theo  
IEC 61627 ở cấp điện áp hạ áp, tần số 60 Hz  
Tời gian cắt nhỏ  
Điện áp làm việc  
nhất (chu kì)  
Hình 2. Điều khiển công suất tác dụng-tần số đối với  
NMĐNLG  
V < 50%  
5
50% < V < 85%  
100  
Làm việc bình  
85% < V < 110%  
thường  
110% < V < 135%  
V > 135%  
100  
2.5  
Bảng 5. Dải điện áp làm việc tại các quốc gia  
có mức xâm nhập cao của NMĐMT  
Đức  
Tây Ban Nha  
Pháp  
80% < V <  
110%  
85% < V <  
110%  
90% < V <  
110%  
Hình 3. Điều khiển công suất tác dụng-tần số đối với  
NMĐMT  
BẢN TIN HỘI ĐIỆN LỰC MIỀN NAM - THÁNG 3 / 2019  
3
Về mặt vận hành, khi tần số hệ thống cao tác dụng (Hình 4).  
hơn hay thấp hơn tần số danh định có nghĩa  
công suất phát ra của hệ thống đang lớn hơn  
hay nhỏ hơn, so với công suất yêu cầu của  
phụ tải. Trong hệ thống điện làm việc với các  
nhà máy điện từ nguồn năng lượng tái tạo, với  
NMĐNLG chẳng hạn, đứng về quan điểm an  
ninh và ổn định của hệ thống điện, cần có các  
nhà máy điện trong hệ thống với mức độ dự  
trữ quay (spinning reserve) luôn sẵn sàng đáp  
ứng nhanh khi có sự thay đổi về tần số trên hệ  
thống, bằng cách giảm hoặc tăng sản lượng của  
các nhà máy này một cách tự động như trong  
Hình 2. Đường liền nét trên Hình 2 của QĐĐN  
cho NMNLG là quan hệ công suất phát theo tần  
số khi NMNLG làm việc trong chế độ vận hành  
1, khi đó nhà máy hoạt động với công suất phát  
ra không đổi theo giới hạn công suất của nhà  
máy (capacity limit) cho đến tần số 50.2 Hz, sau  
đó công suất phát sẽ giảm xuống trong khoảng  
tần số 50.2 đến 51.2 Hz, và hoàn toàn cắt khỏi  
lưới điện khi tần số lớn hơn 51.3 Hz. Đường  
đứt nét là khi NMNLG làm việc trong chế độ  
vận hành 2 theo mức đặt 50% công suất định  
mức trong dải chết (dead band) 49.7 đến 50.3  
Hz, và khi tần số ra ngoài dải này công suất  
phát ra thay đổi theo tần số, bắt đầu trong dải  
tần từ 48.7 đến 51.3 Hz. Các yêu cầu này cũng  
được áp dụng tương tự cho các NMĐMT như  
trong Hình 3. Hình 3 cho thấy NMĐMT có  
công suất phát tác dụng được điều khiển theo  
tần số, và công suất phát NMĐMT phải được  
giảm theo độ dốc 40%*P / Hz khi tần số tăng  
cao hơn 100.4% tần số dmanh định (50.2 Hz, ở  
tần số hệ thống 50 Hz), với P là công suất đang  
phát vào lưới. Công suất phátmcủa nhà máy được  
điều khiển tăng khi tần số thấp dưới 100.1%.  
Khi tần số cao trên 103% hoặc thấp dưới 95%,  
NMĐMT phải được cắt khỏi lưới [1].  
• công suất phản kháng MVAR không đổi.  
• công suất phản kháng thay đổi tùy vào  
điện áp (Hình 5 và Hình 6).  
Tông thường, nhà máy phải có khả năng  
phát ra công suất phản kháng trong vòng vài  
Hình 4. Quan hệ cosφ theo công suất P của NMĐMT đấu  
nối vào lưới trung áp.  
Hình 5. Quan hệ dòng phát phản kháng theo độ giảm  
điện áp phần trăm, theo QĐĐN Đức đối với NMĐMT đấu  
nối vào lưới trung áp.  
phút và lặp lại, trong trường hợp cần thiết.  
Để cải thiện điện áp trong trường hợp ngắn  
mạch đối xứng trên lưới, hay khi lưới mang tải  
lớn ổn định, QĐĐN của Đức cho NMĐMT đấu  
nối vào lưới trung áp cần phát ra dòng phản  
kháng theo quan hệ dòng- độ giảm áp phần  
trăm, như trong Hình 5 [1]. Đường màu đỏ trên  
Hình 5 cho thấy, nếu ngoài dải chết của điện  
áp (voltage dead band) trong khoảng 0.9-1.1  
Uđm, và khi điện áp giảm nhiều hơn 10% điện  
áp định mức, bộ điều khiển sẽ phản ứng sao  
cho NMĐMT phải phát dòng phản kháng vào  
phía điện áp thấp (trung áp) của máy biến áp  
với giá trị dòng ít nhất bằng 2% giá trị dòng  
định mức, cho mỗi phần trăm độ giảm điện áp  
[4, 7], và nhà máy phải có khả năng phát dòng  
phản kháng theo yêu cầu vào lưới trong thời  
khoảng 20 ms. Trường hợp cần thiết, nhà máy  
A.4. Điều khiển công suất phản kháng  
Các NMĐMT đấu nối với lưới điện trung  
áp phải có khả năng phát công suất phản kháng  
vào lưới điện, tại bất kì điểm làm việc nào, nhằm  
đạt hệ số công suất trong khoảng 0.95 trễ và  
0.95 sớm [1,7], để hỗ trợ cho việc ổn định điện  
áp lưới trong điều kiện làm việc bình thường.  
Teo QĐĐN công suất phản kháng được phát  
ra trong thời gian NMĐMT làm việc, nghĩa là  
nhà máy không có yêu cầu phải phát công suất  
phản kháng về đêm. Điểm đặt công suất phát  
phản kháng có thể là một trong các chế độ sau  
[4,7]:  
• hệ số công suất cố định.  
• hệ số công suất thay đổi, tùy theo công suất phải có khả năng cung cấp dòng phản kháng  
4
BẢN TIN HỘI ĐIỆN LỰC MIỀN NAM - THÁNG 3 / 2019  
bằng 100% dòng điện định mức. Trong trường  
hợp sự cố không đối xứng, dòng phát phản  
kháng không được vượt quá các giá trị gây ra  
điện áp cao hơn 110% điện áp danh định, đối  
với các pha không bị sự cố.  
Teo QĐĐN Tây Ban Nha, quan hệ dòng  
phát phản kháng theo thay đổi điện áp được xác  
định bởi đường gãy ABCD (Hình 6). Trong điều  
kiện quá áp dòng phản kháng được xác định  
bởi đoạn D’C’, đối xứng với đoạn CD của đường  
ABCD. Rơle điều khiển tác động cắt NMĐMT  
khỏi lưới khi điện áp làm việc vượt quá 1.3 p.u  
điện áp danh định.  
Khi NMĐMT đấu nối với lưới điện hạ áp,  
nhà máy phải làm việc ở hệ số công suất cao  
hơn 0.85 (trễ hay sớm) khi công suất phát tác  
dụng lớn hơn hơn 10% công suất định mức.  
Tông thường, hầu như các bộ biến tần trong  
NMĐMT được thiết kế để làm việc với hệ số  
công suất gần bằng 1. Một số HTQĐ với thiết  
kế đặc biệt để phát công suất phản kháng nằm  
ngoài giới hạn trên cần được sự đồng ý của cơ  
quan quản lí hệ thống điện [5].  
A.6.1 Họa tần  
Các thành phần họa tần trong dòng điện  
phát ra bởi NMĐMT phải phù hợp với điều 10  
của IEEE Std. 519-1992 [9]. Các giới hạn họa  
tần được tóm tắt như sau:  
• Phần trăm tổng méo dạng dòng họa tần tại  
PCC phải nhỏ hơn 5%, so với dòng họa tần cơ  
bản ở công suất định mức biến tần.  
• Giới hạn thành phần dòng họa tần riêng lẻ  
được liệt kê trong Bảng 6, ở các mức điện áp khác  
nhau từ 120 V đến 69 kV và lớn hơn. Tành  
phần dòng họa tần bậc chẵn phải nhỏ hơn 25%  
giới hạn họa tần bậc lẻ cho trong Bảng 6.  
Các giới hạn trên là cho các biến tần 6 xung,  
tuy vậy Tiêu chuẩn IEEE [9] cũng đưa ra công  
thức chuyển đổi cho các biến tần có số xung  
lớn hơn 6, cũng cho các giới hạn họa tần khác  
nhau cho các cấp điện áp khác nhau tại điểm  
PCC (Bảng 7).  
Bảng 6. Giới hạn dòng họa tần theo IEEE 929-  
1992 đối với biến tần 6 xung  
Họa tần bậc lẻ  
Bậc 3 – Bậc 9  
Giới hạn méo dạng  
< 4.0%  
Bậc 11- Bậc 15  
Bậc 17- Bậc 21  
Bậc 23- Bậc 33  
Bậc họa tần> 33  
< 2.0%  
< 1.5%  
< 0.6%  
< 0.3%  
Bảng 7. Giới hạn điện áp họa tần theo IEEE  
519-1992  
Giới hạn méo  
Tổng méo  
Điện áp tại  
dạng điện áp dạng điện áp  
PCC  
riêng lẻ (%)  
(THD %)  
5.0  
Hình 6. Quan hệ dòng phản kháng NMĐMT phát vào  
lưới trung áp theo thay đổi điện áp, theo QĐĐN của  
Tây Ban Nha  
69 KV và  
dưới 69 kV  
69.001 KV  
đến 161 KV  
Lớn hơn  
3.0  
1.5  
1.0  
2.5  
1.5  
A.5. Giới hạn dòng ngắn mạch  
Dòng điện ngắn mạch có thể vượt quá giới  
hạn qui định tại điểm đấu nối của NMĐMT.  
Với các nhà máy điện thông thường với các máy  
phát đồng bộ, dòng ngắn mạch có thể lên đến 8  
lần dòng định mức, tuy vậy với một NMĐMT,  
dòng điện ngắn mạch không khác nhiều với  
dòng định mức [6]. Do đó, không cần đến  
thiết bị giới hạn dòng điện ngắn mạch cho các  
NMĐMT.  
161.001 KV  
A.6.2 Nhấp nháy điện áp  
Mức nhấp nháy điện áp (voltage ficker)  
biểu hiện cho sự thay đổi có tính chu kì của  
biên độ điện áp ảnh hưởng đến thay đổi cường  
độ sáng của đèn sợi đốt, và có thể ảnh hưởng  
đến hoạt động của một số thiết bị điện như máy  
tính, thiết bị đo lường và thiết bị liên lạc. Bất  
A.6. Chất lượng điện  
BẢN TIN HỘI ĐIỆN LỰC MIỀN NAM - THÁNG 3 / 2019  
5
kỳ mức nhấp nháy điện áp nào do việc đấu nối khoảng 95 % thời gian đo (ít nhất 01 tuần) và  
95% số vị trí đo Plt không vượt quá giá trị này.  
B. Trong điều kiện xảy ra sự cố trên lưới  
của các biến tần vào hệ thống đều không được  
phép vượt quá giới hạn cho phép. Trong Hình 7  
[1], mức nhấp nháy khi NMĐMT làm việc với  
lưới điện không được vượt quá đường bao gây  
khó chịu cho việc nhìn (irritation border lines),  
nhằm giảm thiểu các hiệu ứng gây hại cho người  
sử dụng trên hệ thống điện.  
Hiện nay các QĐĐN đều yêu cầu khả năng  
lướt qua sự cố (fault ride-through capability=  
FRT) đối với các NMĐMT công suất lớn đấu nối  
vào lưới điện trung áp, với mục đích NMĐMT  
vẫn phải làm việc với lưới điện trong thời gian  
sự cố thoáng qua trên lưới, và đồng thời hỗ trợ  
ổn định lưới. Trước đây, khi mức độ xâm nhập  
của nhà máy điện năng lượng tái tạo vào hệ  
Trong điều kiện vận hành bình thường, mức  
nhấp nháy điện áp tại mọi điểm đấu nối không  
được vượt quá giới hạn quy định cho trong thống điện là chưa đáng kể, các QĐĐN thường  
không đặt ra yêu cầu về FRT. Ngày nay, khi mà  
khi mức độ xâm nhập của nhà máy điện năng  
lượng tái tạo vào hệ thống điện ngày càng tăng  
lên, việc một NMĐMT công suất tương đối lớn  
lại bị cắt ra khỏi lưới ngay khi có sự cố xảy ra,  
thay vì lẽ ra phải tiếp tục làm việc trên lưới và  
giúp hệ thống quay về điểm hoạt động ở trạng  
thái ổn định, rõ ràng sẽ dẫn đến sự ổn định lưới  
bị ảnh hưởng theo chiều hướng càng xấu hơn.  
Bảng 8 [2], trong đó:  
a) Mức nhấp nháy điện áp ngắn hạn (Pst) là  
giá trị đo được trong khoảng thời gian 10 phút  
bằng thiết bị đo tiêu chuẩn theo IEC 868. Pst95%  
là ngưỡng giá trị của Pst sao cho trong khoảng  
95 % thời gian đo (ít nhất một tuần) và 95 % số  
vị trí đo Pst không vượt quá giá trị này;  
Vì thế yêu cầu FRT có liên quan mật thiết  
đến cách thức NMĐMT phải tiếp tục làm  
việc trong trường hợp điện áp trên hệ thống  
điện giảm thấp do sự cố là nhằm duy trì tính  
ổn định lưới, độ tin cậy và an ninh hệ thống  
điện. Tường yêu cầu FRT được mô tả qua một  
đường cong cho trong QĐĐN, với dạng cơ bản  
như trong Hình 8 [6]: với các điểm làm việc nằm  
trên đường liền nét, NMĐMT vẫn đấu nối với  
lưới điện, trong khi với các điểm làm việc nằm  
dưới đường liền nét, NMĐMT sẽ phải cắt ra  
khỏi lưới điện. Tuy vậy, tại mỗi quốc gia QĐĐN  
lại có thể thêm các ràng buộc khác cho đường  
cong FRT, cho việc đấu nối và cắt khỏi lưới điện  
của nhà máy. Bốn tham số chính qui định các  
yêu cầu FRT: điện áp nhỏ nhất trong thời gian  
diễn ra sự cố (Vmin), thời gian diễn ra sự cố, thời  
gian phục hồi điện áp và điện áp trạng thái ổn  
định (V ) (Hình 8). Các yêu cầu về FRT được  
áp dụngsscho cả NMĐNLG và NMĐMT.  
Đối với NMĐNLG, các thông số FRT theo  
một số QĐĐN đựợc cho trong Bảng 9, và Hình  
9 thể hiện các giới hạn FRT đối với NMĐMT  
theo QĐĐN của các quốc gia (Đức, Ý, Tây Ban  
Nha, Hoa Kì, Úc, Đan Mạch, Nhật Bản), và Hình  
10 cho QĐĐN của Đức (hiện nay là qui định có  
tính nghiêm ngặt nhất). Teo Hình 10, NMĐMT  
không được cắt khỏi lưới khi điểm làm việc nằm  
trên đường biên 1, nghĩa là nhà máy sẽ không  
được cắt ra ngay cả khi điện áp giảm xuống mức  
0% của điện áp danh định trong khoảng thời  
gian 150 ms sau thời điểm xảy ra sự cố (fault  
occurrence), tức 7.5 chu kỳ đối với 50Hz. Tời  
gian phục hồi điện áp không được vượt quá 1500  
Hình 7. Đường cong giới hạn của mức nhấp nháy điện áp  
Bảng 8. Mức nhấp nháy điện áp đối với lưới  
phân phối  
Cấp điện áp  
110 kV  
Mức nhấp nháy cho phép  
st95% = 0.80  
P
P
lt95% = 0.60  
st95% = 1.00  
lt95% = 0.80  
P
Trung áp và hạ áp  
P
b) Mức nhấp nháy điện áp dài hạn (Plt) được  
tính từ 12 kết quả đo Pst liên tiếp (trong khoảng  
thời gian 02 giờ), theo công thức:  
12  
1
P = 3  
∗
Ps3tj  
lt  
∑
12  
j =1  
Plt95% là ngưỡng giá trị của Plt sao cho trong  
6
BẢN TIN HỘI ĐIỆN LỰC MIỀN NAM - THÁNG 3 / 2019  
ms (75 chu kỳ trên hệ thống 50Hz) với mức điện  
áp tối thiểu cho phép khi quay về trạng thái ổn  
định bằng 90% điện áp định mức. Bên dưới  
đường biên 3 (liền nét, màu xanh biển) không  
có yêu cầu duy trì đấu nối với lưới điện. Trong  
khu vực nằm trên đường 2 và dưới đường 1, có  
các tùy chọn sau tùy theo thỏa thuận với trung  
tâm điều độ hệ thống điện: hoặc vẫn tiếp tục phát  
điện khi có sự cố ngắn mạch, hoặc thực hiện cắt  
mạch trong thời gian ngắn, tối đa 2 giây, hoặc  
đường 2 có thể được thay đổi, tùy vào quan điểm  
đấu nối. Dưới đường biên 2 có thể chấp nhận cắt  
mạch NMĐMT trong thời gian ngắn hay kéo dài.  
Hình 9. So sánh các đường cong FRT theo các QĐĐN  
khác nhau.  
Bảng 9. Các yêu cầu FRT đối với NMĐNLG tùy  
theo QĐĐN tại các quốc gia  
C. Yêu cầu tích hợp SCADA  
Điện áp  
nhỏ nhất  
(% điện  
áp danh  
định  
Tời  
gian sự  
cố  
Tời  
gian  
QĐĐN yêu cầu về đảm bảo thông tin liên  
lạc giữa NMĐMT và công ti quản lí lưới điện  
truyềntảinhằmbảođảmđộtincậycủahệthống.  
Các dữ liệu trên hệ thống SCADA được chia sẻ  
với mục đích giám sát theo thời gian thực các  
hoạt động và điều khiển (đóng, cắt, điều phối  
công suất phát,…), đánh giá trạng thái nhằm  
xác định độ ổn định thời gian thực, sơ đồ ứng  
cứu khi sự cố, truyền thông, các vấn đề an toàn  
(đóng/cắt thiết bị). Hệ thống SCADA nội bộ  
trong NMĐMT bao gồm bộ thu thập dữ liệu,  
RTU, bộ truyền thông có khả năng đo lường và  
thu thập dữ liệu về nhiệt độ các tấm pin, bức xạ  
mặt trời, điện áp và dòng điện một chiều, điện  
áp và dòng điện xoay chiều của biến tần, trạng  
thái các rơle,… Bộ thu thập dữ liệu bao gồm  
các biến dòng (DCT và ACT), biến điện áp và  
bộ phận truyền thông RS485 hay Ethernet như  
trên Hình 12 [10].  
Tời gian  
QĐĐN sự cố  
(ms)  
phục  
hồi điện  
áp (sec)  
(chu kì,  
50 Hz)  
Vnom)  
Đức  
150  
100  
7.5  
5
0
1.5  
10  
Đan  
25  
Mạch  
Tây Ban  
500  
25  
20  
1
Nha  
Hình 11 cho thấy đường cong yêu cầu FRT  
theo các QĐĐN NERC PRC-024-1  
Hình 10. Các thông số theo yêu cầu FRT theo QĐĐN Đức.  
D. Quy định kỹ thuật đấu nối nguồn phân  
tán vào hệ thống điện tại Việt Nam  
Hiện nay, Việt Nam chưa ban hành Quy  
trình hướng dẫn chi tiết về yêu cầu kỹ thuật cho  
việc đấu nối các nhà máy điện sử dụng nguồn  
năng lượng mặt trời nói riêng, nhà máy điện sử  
dụng nguồn năng lượng tái tạo nói chung. Các  
chỉ tiêu kỹ thuật cho việc đấu nối điện mặt trời  
đang được xác định theo Tông tư số 39/2015/  
TT-BCT ban hành ngày 18/11/2015 về Quy  
định hệ thống điện phân phối, và Tông tư số  
25/2016/TT-BCT ban hành ngày 30/11/2016 về  
Quy định hệ thống điện truyền tải. Sau đây là  
trích dẫn Mục 4 về yêu cầu kỹ thuật đối với nhà  
máy điện gió, nhà máy điện mặt trời, Điều 42  
Tông tư 39/2015/TT-BCT [2].  
Hình 8. Dạng tổng quát đường cong lướt qua sự cố (FRT)  
BẢN TIN HỘI ĐIỆN LỰC MIỀN NAM - THÁNG 3 / 2019  
7
Mục 4. YÊU CẦU KỸ THUẬT ĐỐI VỚI khiển phù hợp với sự biến đổi của nguồn năng  
NHÀ MÁY ĐIỆN GIÓ, NHÀ MÁY ĐIỆN MẶT lượng sơ cấp trong thời gian không quá 30 giây  
TRỜI  
với độ sai số trong dải 1% công suất định mức,  
Điều 42. Yêu cầu kỹ thuật đối với nhà máy cụ thể như sau:  
điện gió, nhà máy điện mặt trời  
- Phát công suất theo đúng lệnh điều độ  
trong trường hợp nguồn sơ cấp biến thiên bằng  
hoặc lớn hơn giá trị dự báo;  
- Phát công suất lớn nhất có thể trong  
trường hợp nguồn sơ cấp biến thiên thấp hơn  
giá trị dự báo.  
2. Trong chế độ vận hành bình thường, nhà  
máy điện gió và nhà máy điện mặt trời phải có  
khả năng phát công suất tác dụng và đảm bảo  
không bị ảnh hưởng do điện áp tại điểm đấu nối  
thay đổi trong dải cho phép quy định tại Điều 6  
của Tông tư này.  
3. Nhà máy điện gió, nhà máy điện mặt trời  
tại mọi thời điểm đang nối lưới phải có khả  
năng duy trì vận hành phát điện trong thời gian  
tối thiểu tương ứng với các dải tần số vận hành  
theo quy định tại Bảng 10.  
1. Nhà máy điện gió, nhà máy điện mặt trời  
phải có khả năng duy trì vận hành phát công  
suất tác dụng trong dải tần số từ 49 Hz đến 51  
Hz theo các chế độ sau:  
a) Chế độ phát tự do: Vận hành phát điện  
công suất lớn nhất có thể theo sự biến đổi của  
nguồn năng lượng sơ cấp (gió hoặc mặt trời);  
b) Chế độ điều khiển công suất phát  
Nhà máy điện gió, nhà máy điện mặt trời  
phải có khả năng điều chỉnh phát công suất tác  
dụng theo lệnh của Cấp điều độ có quyền điều  
4. Khi tần số hệ thống điện lớn hơn 51 Hz,  
nhà máy điện gió, nhà máy điện mặt trời phải  
giảm công suất tác dụng với tốc độ không nhỏ  
hơn 1% công suất định mức mỗi giây. Mức giảm  
công suất tương ứng với tần số được xác định  
theo công thức sau, trong đó:  
Bảng 10. Tời gian tối thiểu duy trì vận hành  
phát điện của nhà máy điện gió, nhà máy điện mặt  
trời tương ứng với các dải tần số của hệ thống điện  
Dải tần số của  
hệ thống điện  
Tời gian  
duy trì tối thiểu  
Từ 47.5 HZ đến 48,0 Hz  
Trên 48 Hz đến dưới 49 Hz  
Từ 49 Hz đến 51 Hz  
10 phút  
30 phút  
Hình 11. Yêu cầu FRT theo QĐĐN (NERC) PRC-024-1  
Phát liên tục  
30 phút  
Trên 51 Hz đến 51.5 Hz  
Trên 51.5 Hz đến 52 Hz  
01 phút  
- ΔP: Mức giảm công suất phát tác dụng  
(MW);  
- Pm: Công suất tác dụng tương ứng với thời  
điểm trước khi thực hiện giảm công suất (MW);  
- f : Tần số hệ thống điện trước khi thực  
hiện gniảm công suất (Hz).  
5. Nhà máy điện gió và nhà máy điện mặt  
trời phải có khả năng điều chỉnh công suất  
phản kháng và điện áp như sau:  
Hình 12. SCADA trong NMĐMT  
a) Trường hợp nhà máy điện phát công suất  
8
BẢN TIN HỘI ĐIỆN LỰC MIỀN NAM - THÁNG 3 / 2019  
tác dụng lớn hơn hoặc bằng 20 % công suất trì vận hành phát điện trong thời gian 0.5 giây.  
tác dụng định mức và điện áp trong dải vận  
hành bình thường, nhà máy điện phải có khả  
năng điều chỉnh liên tục công suất phản kháng  
trong dải hệ số công suất 0.95 (ứng với chế độ  
phát công suất phản kháng) đến 0.95 (ứng với  
chế độ nhận công suất phản kháng) tại điểm  
đấu nối (PCC) ứng với công suất định mức;  
7. Nhà máy điện gió, nhà máy điện mặt trời  
phải đảm bảo không gây ra thành phần thứ tự  
nghịch của điện áp pha tại điểm đấu nối quá 1  
% điện áp danh định. Nhà máy điện gió, nhà  
máy điện mặt trời phải có khả năng chịu được  
thành phần thứ tự nghịch của điện áp pha tại  
điểm đấu nối tới 3 % điện áp danh định đối với  
b) Trường hợp nhà máy điện phát công cấp điện áp từ 220 kV trở lên.  
suất tác dụng nhỏ hơn 20 % công suất định  
mức, nhà máy điện có thể giảm khả năng nhận  
hoặc phát công suất phản kháng phù hợp với  
đặc tính của tổ máy phát điện;  
c) Trường hợp điện áp tại điểm đấu nối  
trong dải 10 % điện áp định mức, nhà máy  
điện phải có khả năng điều chỉnh điện áp tại  
điểm đấu nối với độ sai lệch không quá 0.5  
% điện áp định mức (so với giá trị đặt điện áp)  
trong toàn bộ dải làm việc cho phép của tổ  
máy phát điện và hoàn thành trong thời gian  
không quá 02 phút;  
d) Trường hợp điện áp tại điểm đấu nối  
biến thiên ngoài dải 10 % điện áp định mức,  
nhà máy điện phải có khả năng điều chỉnh  
công suất phản kháng ở mức tối thiểu 2 % so  
với công suất phản kháng định mức tương ứng  
với mỗi % điện áp biến thiên tại điểm đấu nối.  
6. Nhà máy điện gió, nhà máy điện mặt trời  
tại mọi thời điểm đang nối lưới phải có khả  
năng duy trì vận hành phát điện tương ứng với  
dải điện áp tại điểm đấu nối trong thời gian  
như sau:  
8. Tổng mức biến dạng sóng hài do nhà máy  
điện gió, nhà máy điện mặt trời gây ra tại điểm  
đấu nối không vượt quá giá trị 3 %.  
9. Mức nhấp nháy điện áp do nhà máy điện  
gió, nhà máy điện mặt trời gây ra tại điểm đấu  
nối không được vượt quá giá trị quy định tại  
Điều 9 Tông tư này.  
Bảng 11. Mức nhấp nháy điện áp đối với  
lưới truyền tải  
Cấp điện áp  
Plt95%  
0,6  
Pst95%  
0,8  
220, 500 kV  
Trong đó: Plt95% là ngưỡng giá trị của Plt sao  
cho trong khoảng 95 % thời gian đo (ít nhất 01  
tuần) và 95 % số vị trí đo Plt không vượt quá  
giá trị này; Pst95% là ngưỡng giá trị của P sao  
cho trong khoảng 95 % thời gian đo (ít nsht ất 1  
tuần) và 95 % số vị trí đo Pst không vượt quá  
giá trị này.  
III. ĐÁNH GIÁ VỀ NHỮNG QUY ĐỊNH  
KĨ THUẬT ĐỐI VỚI NGUỒN ĐIỆN  
PHÂN TÁN  
a) Điện áp dưới 0.3 pu, thời gian duy trì tối  
thiểu là 0.15 giây;  
b) Điện áp từ 0.3 pu đến dưới 0.9 pu, thời  
gian duy trì tối thiểu được tính theo công thức  
sau:  
Về cơ bản, quy định kĩ thuật đối với nguồn  
điện phân tán khi đấu nối vào lưới điện phân  
phối của Việt Nam được thể hiện trong thông  
tư 39/2015/TT-BCT đã đáp ứng được những  
yêu cầu cần thiết khi đấu nối nguồn điện phân  
tán vào lưới phân phối trung áp. Đánh giá về  
những yêu cầu kĩ thuật khi đấu nối nguồn điện  
phân tán vào hệ thống điện của Việt Nam và  
một số quốc gia trên thế giới được trình bày  
như sau [3]:  
Tmin = 4U – 0.6, trong đó:  
- Tmin (giây): Tời gian duy trì phát điện tối  
thiểu;  
- U (pu): Điện áp thực tế tại điểm đấu nối  
tính theo đơn vị pu.  
c) Điện áp từ 0.9 pu đến dưới 1.1 pu, nhà  
máy điện gió và nhà máy điện mặt trời phải duy  
trì vận hành phát điện liên tục;  
1. Tiêu chuẩn về tần số  
Tông tư 39/2015/TT-BCT quy định dải  
tần số làm việc bình thường của nguồn điện  
phân tán rộng hơn so với tiêu chuẩn của Hoa Kì  
nhưng lại hẹp hơn so với tiêu chuẩn của một số  
quốc gia Tây và Bắc Âu.  
d) Điện áp từ 1.1 pu đến dưới 1.15 pu, nhà  
máy điện gió và nhà máy điện mặt trời phải duy  
trì vận hành phát điện trong thời gian 3 giây;  
e) Điện áp từ 1.15 pu đến dưới 1.2 pu, nhà  
máy điện gió và nhà máy điện mặt trời phải duy  
BẢN TIN HỘI ĐIỆN LỰC MIỀN NAM - THÁNG 3 / 2019  
9
2. Tiêu chuẩn về điện áp  
lưới điện phân phối của Việt Nam được thể  
hiện trong thông tư trên có thể đáp ứng được  
những yêu cầu cần thiết khi đấu nối nguồn  
điện phân tán vào lưới phân phối trung áp.  
Tông tư 39/2015/TT-BCT quy định dải  
điện áp làm việc của nguồn điện phân tán tại  
điểm đấu nối nhà máy điện với lưới điện là  
+10% và -5%. Trong khi Hoa Kì, Anh và các  
quốc gia Bắc Âu quy định dải làm việc bình  
thường này là +5% và -10%. Như vậy quy định  
về dải điện áp làm việc của nhà máy điện trong  
lưới phân phối không chỉ gây khó khăn cho vận  
hành nguồn điện phân tán đấu nối vào lưới  
điện trung áp (giới hạn dưới cao) mà còn có thể  
ảnh hưởng đến chất lượng điện năng cung cấp  
cho khách hàng trên lưới trung áp ( giới hạn  
trên cao).  
TÀI LỆU THAM KHẢO  
[1]. Overview of Grid Code and Operational  
Requirements of Grid-Connected Solar PV  
Power Plants; H. Khairy1, M. EL-Shimy, G.  
Hashem; Industry Academia Collaboration  
Conference (IAC), 2015, Energy and Sustainable  
Development Track, Apr 6-8, Cairo- Egypt,  
3. Yêu cầu về hệ thống bảo vệ  
[2]. Tông tư 39/2015/TT-BCT của Bộ Công  
Tương  
Mặc dù yêu cầu về hệ thống bảo vệ giữa các  
quốc gia không có sự thống nhất nhưng các  
quốc gia này đều yêu cầu nguồn điện phân tán  
phải trang bị một số loại bảo vệ với thông số  
cụ thể. Trong khi đó thông tư 39/2015/TT-BCT  
chưa đề cập đến những yêu cầu này. Tông tư  
39/2015/TT-BCT đưa việc trang bị hệ thống  
bảo vệ của nguồn điện phân tán là thỏa thuận  
giữa đơn vị phân phối điện và khách hàng.  
[3]. Đề Tài “Đánh Giá Ảnh Hưởng của Nhà  
Máy Điện Mặt Trời Đầm An Khê Đến Lưới Điện  
Khu Vực Quảng Ngãi”; Trương Ngọc Trọng;  
tháng 04.2018, Đại Học Đà Nẵng.  
[4]. Utility-Scale Photovoltaic Procedures and  
Interconnection Requirements, A. Ellis, et al.,  
Sandia Report SANDIA 2012- 2090, February  
2012.  
[5]. IEEE Recommended Practice for Utility  
Interface of Photovoltaic (PV) Systems- IEEE Std  
929-2000 ,  
[6]. IEC 61727 Photovoltaic (PV) Systems-  
Characteristics of the Utility Interface,  
International Electrotechnical Commission,  
2004.  
4. Tiêu chuẩn về chất lượng điện  
Các tiêu chuẩn về chất lượng điện năng được  
trình bày trong thông tư 39/2015/TT-BCT đã  
bám sát với các tiêu chuẩn quốc tế mà nhiều  
quốc gia đang áp dụng và phù hợp với điều kiện  
thực tế của Việt Nam.  
IV. KẾT LUẬN  
Hiện nay các QĐĐN cho NMĐMT tại  
một số quốc gia qui định các yêu cầu chi  
tiết về mặt kĩ thuật khi các nhà máy điện  
từ nguồn năng lượng tái tạo được đấu nối  
vào lưới điện trung hay hạ áp. Các qui định  
này phản ánh mức xâm nhập ngày càng tăng  
của các nguồn phát năng lượng tái tạo vào  
hệ thống điện. Nhìn chung, các QĐĐN đều  
tập trung vào các vấn đề: điều khiển tần số/  
công suất tác dụng, điện áp/ công suất phản  
kháng, chất lượng điện (họa tần, mức nhấp  
nháy điện áp), và đặc biệt về yêu cầu lướt qua  
sự cố FRT. Các QĐĐN được trình bày trong  
thông tư 39/2015/TT-BCT tương đối bám sát  
với các tiêu chuẩn quốc tế mà nhiều quốc gia  
đang áp dụng và phù hợp với điều kiện thực  
tế của Việt Nam, và cơ bản, quy định kĩ thuật  
đối với nguồn điện phân tán khi đấu nối vào  
[7]. New German Grid Codes for Connecting  
PV Systems to the Medium Voltage Power  
Grid; E. Troester; 2nd International Workshop  
on Concentrating Photovoltaic Power Plants:  
Optical Design,  
Production, Grid Connection, 2009.  
[8]. Draf on Generator Frequency and  
Voltage Protective Relay Settings (2013), Std.  
N.E.R.C. PRC-024-1/Draf 6.  
[9]. IEEE Recommended Practices and  
Requirements for Harmonic Control in Electrical  
Power Systems, IEEE Std 519-1992, pp.1- 112,  
1993.  
[10]. IEEE Guide for Monitoring, Information  
Exchange, and Control of Distributed Resources  
Interconnected with Electric Power Systems,  
IEEE Std 1547.3-2007, pp.1-158, 2007.  
10 BẢN TIN HỘI ĐIỆN LỰC MIỀN NAM - THÁNG 3 / 2019  
pdf 10 trang yennguyen 12900 Free
Bạn đang xem tài liệu "Qui định đấu nối các nhà máy điện năng lượng mặt trời vào hệ thống điện", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfqui_dinh_dau_noi_cac_nha_may_dien_nang_luong_mat_troi_vao_he.pdf