Pin mặt trời trên mái nhà: Hiện tại và tương lai với góc nhìn từ Nhật Bản

202 | HỘI NGHỊ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐIỆN LỰC TOÀN QUỐC 2017  
PIN MẶT TRỜI TRÊN MÁI NHÀ: HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI  
VỚI GÓC NHÌN TỪ NHẬT BẢN  
Nguyễn Phúc Khải (1),(2), Võ Ngọc Điều (1)  
(1) Khoa Điện – Điện tử, Trường Đại học Bách khoa – ĐHQG TPHCM  
(2) Viện Kỹ thuật Shibaura, Tokyo, Nhật Bản  
Tóm tắt: Bài viết nhằm cung cấp những kết quả đạt được và định hướng trong tương  
lai của hệ thống pin mặt trời trên mái nhà (rooftop solar) của Nhật Bản. Kể từ thảm  
họa kép động đất - sóng thần và sự cố nhà máy điện hạt nhân ở Fukushima vào năm  
2011, Chính phủ Nhật Bản đã có nhiều thành công trong việc chuyển đổi hệ thống  
năng lượng hướng đến các nguồn năng lượng sạch như năng lượng gió và năng lượng  
mặt trời. Trong đó, năng lượng mặt trời đã tăng công suất từ 5,000 MW năm 2011 lên  
25,000 MW năm 2014 và hứa hẹn còn tiến triển trong thời gian tới. Phần năng lượng  
đóng góp từ mái nhà được dự báo đóng góp phần lớn sản lượng của năng lượng mặt  
trời. Song song với đó, việc phát triển của hệ thống Internet vạn vật (Internet of things  
- IoT) mang đến sự liên kết mới giữa hệ thống phát điện nhỏ và IoT để tạo ra hệ thống  
Internet of Energy – IoE. Bài báo này trình bày tổng hợp những kết quả của việc phát  
triển hệ thống năng lượng mặt trời đồng thời nêu ra dự báo phát triển lưới phân phối  
trong thời gian tới dựa trên quá trình phát triển của thị trường Nhật Bản.  
I. GIỚI THIỆU  
Năng lượng mặt trời là một trong những nguồn năng lượng tái tạo phát triển mạnh  
mẽ trong những năm gần đây. Tại Việt Nam, Bộ Công thương cùng nhóm nghiên cứu  
CIEMAT đã tiến hành đánh giá tiềm năng năng lượng mặt trời tại Việt Nam [1]. Kết  
quả cho thấy, tiềm năng năng lượng mặt trời thu được từ hệ thống pin mặt trời vào  
khoảng 0.8 – 1.2 GWh/năm. Trong đó, các tỉnh ven biển miền Trung, Tây Nguyên, Tây  
Bắc, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long có khả năng phát triển hệ thống pin  
mặt trời.  
Bên cạnh đó, Nhật Bản là một quốc gia phát triển có diện tích và dân số tương  
đương với Việt Nam, đã có nhiều thay đổi trong chính sách năng lượng kể từ sau thảm  
họa hạt nhân Fukushima 2011 [2]. Nhật Bản đã chú trọng phát triển hệ thống pin mặt  
trời với nhiều dạng dự án khác nhau. Trong quá trình phát triển đó, nhiều bài học về  
việc phát triển năng lượng mặt trời đã được đúc kết.  
Bài viết này nhằm tổng hợp các thông tin về việc phát triển năng lượng mặt trời  
của Nhật Bản trong thời gian và định hướng trong tương lai. Bên cạnh đó, với sự phát  
triển của khoa học máy tính và hệ thống IoT, bài viết giới thiệu mô hình lưới phân phối  
mới tương ứng với sự phát triển của hệ thống pin mặt trời trên mái nhà (rooftop). Bài  
viết được chia ra làm 4 phần. Phần hai của bài viết giới thiệu về chính sách năng lượng  
PHÂN BAN NGUỒN ĐIỆN | 203  
điện của Nhật Bản trước và sau sự cố điện hạt nhân Fukushima. Phần tiếp theo là đề  
xuất mô hình lưới điện phân phối mới. Cuối cùng là tổng kết.  
II. CHÍNH SÁCH NĂNG LƯỢNG ĐIỆN CỦA NHẬT TRƯỚC VÀ SAU SỰ CỐ  
FUKUSHIMA  
1. Trước sự cố Fukushima  
Trước sự cố Fukushima, Nhật Bản chưa đặt trọng tâm việc phát triển năng lượng  
vào các lĩnh vực năng lượng tái tạo. Tỷ lệ của năng lượng tái tạo (bao gồm cả thủy điện)  
chỉ tăng từ 3.5% vào năm 1990 lên 4.6% vào năm 2012. Đến năm 1999, Nhật Bản mới  
ghi nhận năng lượng mặt trời để phát điện với công suất 209 MW. Theo hình 1, vào giai  
đoạn những năm 2000, Nhật Bản chú trọng phát triển năng lượng hạt nhân, khí thiên  
nhiên và than, giảm thiểu việc sử dụng dầu do chi phí đắt đỏ.  
Hình 1: Sản lượng sản xuất điện phân chia theo các nguồn năng lượng của Nhật Bản [3]  
Bên đó, việc tham gia Nghị định thư Kyoto 1997, Nhật Bản hoạch định chiến lược  
giảm lượng khí thải CO2 bằng cách tăng cường sử dụng năng lượng hạt nhân. Theo  
“Luật Cơ sở về chính sách năng lượng” phiên bản năm 2010, Nhật Bản dự kiến xây  
dựng thêm 14 nhà máy điện hạt nhân đến năm 2030, trong đó 9 nhà máy sẽ hoàn thành  
vào năm 2020 và nâng tổng số nhà máy điện hạt nhân lên 54 nhà máy. Khi đó, với chiến  
lược phát triển dựa vào năng lượng hạt nhân, Nhật Bản kỳ vọng sẽ giảm 30% lượng  
CO2 so với năm 1999, đồng thời năng lượng hạt nhân sẽ chiếm 50% tổng sản lượng  
điện sản xuất [2].  
2. Sau sự cố Fukushima  
Nhật Bản buộc phải dừng tất cả các nhà máy điện hạt nhân trên toàn quốc và đỉnh  
điểm là năm 2014 như hình 2 và thay bằng chính sách năng lượng tái tạo “Renewable  
Energy Act”.  
Để kích thích sức đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo, đặc biệt là năng lượng  
mặt trời, Nhật Bản cam kết giá mua điện trong 10 năm đối với năng lượng mặt trời là 44  
204 | HỘI NGHỊ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐIỆN LỰC TOÀN QUỐC 2017  
yên/kWh (tương đương 44 cent/kWh) và là mức giá cao nhất thế giới tại thời điểm đó.  
Kết quả, công suất lắp đặt của năng lượng mặt trời tăng trưởng vượt bậc hơn hẳn so với  
năng lượng gió và biomass như hình 3.  
Hình 2: Sản lượng điện từ năng lượng hạt nhân trong giai đoạn 2011 – 2016 [4]  
Hình 3: Công suất lắp đặt của các nguồn năng lượng tái tạo ở Nhật Bản [4]  
Tuy nhiên, thật sự Nhật Bản đã không hoàn toàn thành công trong việc thúc đẩy  
việc sử dụng năng lượng mặt trời. Kết quả khảo sát từ năm 2012 đến năm 2014, bảng 1,  
PHÂN BAN NGUỒN ĐIỆN | 205  
cho thấy tỷ lệ thực hiện các dự án năng lượng mặt trời thương mại đạt tỷ lệ thấp chỉ ở  
mức 13.8%, trong khi năng lượng mặt trời công suất nhỏ (dưới 10 kW) lại đạt tỷ lệ lắp  
đặt cao (82.7%).  
Mặc dù được kỳ vọng cao, tuy nhiên các dự án năng lượng mặt trời công suất lớn  
đều không thể thực hiện vì nhiều lý do khác nhau. Trước hết là thay đổi chính sách của  
Chính phủ trong việc hỗ trợ các nguồn năng lượng tái tạo. Giá mua điện cam kết được  
Chính phủ ấn định hàng năm và giảm dần đều qua các năm, như hình 4. Bên cạnh đó,  
do các nguồn năng lượng hóa thạch giảm giá trong những năm gần đây nên Nhật Bản  
tăng cường sử dụng các nguồn năng lượng hóa thạch và tái khởi động các nhà máy điện  
hạt nhân để đảm bảo nhu cầu sử dụng điện.  
Khó khăn thứ hai của các dự án năng lượng mặt trời công suất lớn là việc bồi  
hoàn đất để thực hiện dự án. Qua khảo sát cho thấy, 672 dự án với tổng công suất lắp  
đặt dự kiến 3 GW không thể mua hoặc thuê đất để thực hiện. Ngoài ra, các dự án năng  
lượng mặt trời lớn khó ký kết hợp đồng với 4 công ty điện lực nhỏ của Nhật là Kyushu,  
Hokkaido, Tohoku và Shikoku. Nguyên nhân chủ yếu là do năng lượng mặt trời có tính  
bất ổn định cao vì vậy khi hòa lưới sẽ làm giảm tính ổn định của hệ thống [2].  
Tuy nhiên, chính sách về năng lượng tái tạo thật sự kích thích sự đầu tư của người  
dân vào hệ thống năng lượng mặt trời trên mái nhà. Rõ ràng, hệ thống rooftop khắc  
phục được những hạn chế của các dự án năng lượng mặt trời lớn nhờ giảm được chi phí  
thuê đất đồng thời không cần thiết phải ký kết với các công ty điện lực địa phương.  
Bảng 1. So sánh các dự án năng lượng tái tạo ở Nhật Bản giai đoạn 2012 – 2014 [5]  
Công nghệ  
Công suất  
lắp đặt  
trước năm  
2012 (MW)  
Từ 2012 - 2014  
Dự án được Dự án được  
Tỷ lệ được  
triển khai  
chấp thuận  
triển khai  
(MW)  
(MW)  
(%)  
Năng lượng mặt trời  
công suất nhỏ  
4 700  
3 000  
2 480  
82.7  
(dưới 10 kW)  
Năng lượng mặt trời  
công suất lớn  
900  
66 340  
9 150  
13.8  
Năng lượng gió  
2 600  
9 600  
1 230  
320  
110  
30  
8.9  
9.4  
Thủy điện nhỏ (dưới 30  
MW)  
Biomass  
2 300  
500  
1310  
10  
90  
0
6.9  
0
Địa nhiệt  
Tổng cộng  
20 600  
72 210  
11 860  
206 | HỘI NGHỊ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐIỆN LỰC TOÀN QUỐC 2017  
Hình 4: Giá điện cam kết mua điện cho dự án năng lượng mặt trời [2], [6]  
3. Định hướng tương lai  
Năm 2014, các hệ thống rooftop được Chính phủ Nhật công nhận như một trong  
những nhân tố trọng điểm trong tương lai. Trong đó, phần năng lượng tiết kiệm được từ  
rooftop được dự báo sẽ chiếm 17% tổng lượng điện tiêu thụ vào năm 2030, trong khi  
nguồn năng lượng mặt trời từ các dự án lớn chỉ chiếm 7% [4]. Trong “Tầm nhìn dài hạn  
về nguồn và nhu cầu năng lượng” đã được Quốc hội Nhật Bản phê duyệt vào tháng 4  
năm 2014, với giả định nền kinh tế tăng trưởng bình quân 1.7%/năm, nhu cầu sử dụng  
điện của Nhật Bản vào năm 2030 vào khoảng 1278 tỷ KWh. Trong đó, 196.1 tỷ kWh  
(chiếm 17%) là nguồn năng lượng tiết kiệm được và năng lượng tái tạo nói chung chiếm  
19 đến 20% như hình 5.  
PHÂN BAN NGUỒN ĐIỆN | 207  
Hình 5: Tầm nhìn dài hạn về cung cấp điện của Nhật Bản đến năm 2030 [4]  
III. MÔ HÌNH INTERNET OF ENERGY CHO LƯỚI PHÂN PHỐI  
Việc đẩy mạnh phát triển các hệ thống rooftop tạo điều kiện phát điện cho từng hộ  
tiêu thụ. Mô hình này dự báo sẽ thay đổi căn bản cấu trúc của lưới điện phân phối.  
Thông thường lưới điện phân phối có cấu trúc gồm một máy biến áp phân phối điện trực  
tiếp cho các phát tuyến như hình 6. Với sự phát triển của các thiết bị điện tử công suất,  
máy biến áp truyền thống sẽ được thay đổi bằng máy biến áp kiểu mới Solid-State  
Transformer (SST) như hình 7. Từ tần số lưới 50/60 Hz, qua bộ biến đổi công suất,  
dòng điện sẽ được nâng lên ở tần số cao khoảng vài kHz, nhờ đó máy biến áp SST linh  
động được điện áp đầu ra, vừa có thể cấp điện cho tải AC vừa có thể cấp điện cho tải  
DC (VD: các loại xe điện,…), đồng thời đáp ứng yêu cầu trả công suất thừa về lưới như  
hình 8.  
Trong mô hình lưới phân phối mới, hệ thống điện cần đảm bảo kết nối nhiều  
nguồn năng lượng nhỏ lẻ, mỗi hộ vừa là đơn vị tiêu thụ vừa là đơn vị phát điện. Bên  
cạnh lưới điện phân phối, các thiết bị điện tử công suất có thể liên kết với nhau qua các  
đường dây truyền tín hiệu của hệ thống Internet vạn vật (IoT).  
Hình 6: Sơ đồ một sợi cho lưới phân phối giả định  
208 | HỘI NGHỊ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐIỆN LỰC TOÀN QUỐC 2017  
Hình 7: Cấu trúc của một Solid-State Transformer  
Hình 8: Sơ đồ lưới điện phân phối sử dụng Solid-State Transformer [7]  
IV. KẾT LUẬN  
Kể từ sau sự cố nhà máy điện hạt nhân Fukushima, Nhật Bản đã tích cực triển  
khai các biện pháp đẩy mạnh việc sử dụng năng lượng mặt trời. Thông qua các chính  
sách hỗ trợ về kinh tế, các dự án năng lượng mặt trời có nhiều bước tiến triển vượt bậc.  
Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, các dự án năng lượng mặt trời công suất lớn không  
được triển khai đầy đủ. Thay vào đó, các dự án rooftop cho thấy tính linh hoạt với chi  
phí đầu tư thấp hơn nhờ tiết kiệm chi phí thuê đất. Định hướng trong tương lai, rooftop  
sẽ chiếm khoảng 17% tổng sản lượng điện tiêu thụ. Bên cạnh đó, sự phát triển của hệ  
thống rooftop dự báo sẽ làm thay đổi cấu trúc lưới phân phối và kết hợp với hệ thống  
IoT để tăng tính hiệu quả.  
PHÂN BAN NGUỒN ĐIỆN | 209  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]  
[2]  
Polo, J., Bernardos, A., Martínez, S., & Peruchena, C. F. (2015). Maps of solar resource  
and potential in Vietnam.  
Kuramochi, T. (2015). Review of energy and climate policy developments in Japan  
before and after Fukushima. Renewable and Sustainable Energy Reviews, 43, 1320-  
1332.  
[3]  
[4]  
[5]  
IEA (2013), Oil & Gas Security Emergency Response of IEA countries: Japan.  
EDMC (2016), Handbook of Japan’s and World Energy & Economic Statistics.  
METI. FIT facility approval statistics (as of March 2014). Agency of Natural  
Resource and Energy (ANRE), Ministry of Economy, Trade and Industry  
(METI); 2014.  
[6]  
saiene/kaitori/dl/setsubi/201312setsubi.pdf〉 [accessed May 25, 2017  
[7]  
Ministry of Economy, Trade and Industry, “Opinion concerning the procurement price  
and procurement period from 2012 to 2016”.  
[8]  
[9]  
She, X., Huang, A. Q., & Burgos, R. (2013). Review of solid-state transformer  
technologies and their application in power distribution systems. IEEE Journal of  
Emerging and Selected Topics in Power Electronics, 1(3), 186-198.  
pdf 8 trang yennguyen 13180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Pin mặt trời trên mái nhà: Hiện tại và tương lai với góc nhìn từ Nhật Bản", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfpin_mat_troi_tren_mai_nha_hien_tai_va_tuong_lai_voi_goc_nhin.pdf