Nghiên cứu thực nghiệm sấy tiêu bằng máy sấy năng lượng mặt trời

VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 3  
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM SẤY TIÊU  
BẰNG MÁY SẤY NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI  
Nguyễn Hữu Hòa1, Bùi Ngọc Hùng2, Nguyễn Hải Đăng3  
1, 2, 3 Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh  
Ngày nhận bài: 2/10/2018; Ngày duyệt đăng: 17/12/2018  
Tóm tắt  
Một mô hình máy sấy sử dụng năng lượng mặt trời kết hợp gia nhiệt bằng điện trở đã được thiết  
kế và chế tạo để sấy tiêu với năng suất 5 kg/mẻ. Kết quả khảo nghiệm cho thấy thời gian sấy tiêu tỷ  
lệ nghịch với vận tốc tác nhân sấy và tỷ lệ thuận với bề dày lớp vật liệu sấy. Thời gian sấy tiêu là từ  
7 - 9 giờ khi sấy tiêu từ ẩm độ 64 ± 1% (cơ sở ướt) xuống 13 ± 1% (cơ sở ướt) ở nhiệt độ tác nhân  
sấy 600C, với các mức vận tốc tác nhân sấy từ 1,0 đến 1,5 m/s và bề dày lớp vật liệu sấy từ 13 đến  
40 mm. Sản phẩm tiêu có màu đen, da nhăn nheo, mùi nồng đặc trưng và đảm bảo vệ sinh an toàn  
thực phẩm. Sản phẩm tiêu khi sấy bằng máy sấy không bị nhiễm khuẩn Escherichia coli.  
Từ khóa: hồ tiêu, sấy năng lượng mặt trời, kỹ thuật sấy, sấy tiêu  
Experimental study on a peppercorn solar – assisted dryer  
Abstract  
Aprototype of peppercorn solar assisted dryer with capacity of 5kg per batch was designed and  
fabricated. Experimental results showed that drying time decreases with an increase of drying-air  
velocity. In addition, it increases with the layer thickness of drying material. The drying time was  
from 7-9 hours when the pepper was dried from the moisture content of 64 ± 1% (wet basis) to 13 ±  
1% (wet basis) at the drying temperature of 600C, the drying-air velocity is from 1.0 to 1.5 m/s and  
the layer thickness of drying material is in range of 13 to 40 mm. Pepper products are black,  
wrinkled skin, characteristic strong smell and ensure food hygiene and safety. The product was not  
contaminated with Escherichia coli.  
Keywords: peppercorn, solar-assisted dryer, drying technology, dried peppercorn  
trồng chủ yếu ở các tỉnh Đông Nam Bộ và Tây  
Nguyên như Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu,  
Bình Thuận, Đồng Nai, Đăk Lăk, Đăk Nông và  
Gia Lai (Nguyễn Tăng Tôn, 2012). Quả tiêu có  
dạng hình cầu, đường kính 5 – 7 mm. Lúc còn  
non có màu xanh lục, khi đã già quả có màu  
xanh đậm, khi sắp chín chuyển sang màu vàng,  
lúc chín có màu đỏ đến khi khô sẽ chuyển thành  
màu đen, da nhăn nheo (Đinh Xuân Đức, 2009).  
Trong hạt tiêu chứa 1,2 – 2% tinh dầu, 5 – 9%  
piperin và 2,2 – 6% chanvixin. Trong đó,  
pepirin và chanvixin là hai loại ankaloit làm cho  
tiêu có vị cay (Viện Khoa học Kỹ thuật nông  
nghiệp miền Nam, 2018a; 2018b).  
1. Đặt vấn đề  
Theo báo cáo thống kê của tổng cục hải quan,  
tính đến tháng 12 năm 2017, sản lượng hồ tiêu  
của Việt Nam đạt trên 241.500 tấn, trong đó sản  
lượng tiêu xuất khẩu đạt 156.500 tấn, đạt kim  
ngạch 850,8 triệu USD, chiếm 40% tổng sản  
lượng trên toàn thế giới (Tổng cục Hải Quan,  
2017). Ngoài việc dùng làm gia vị trong chế biến  
thực phẩm, tiêu còn được sử dụng làm dược  
liệu, hương liệu,... (Tôn Nữ Tuấn Nam, 2008).  
Ngoài sử dụng dưới dạng bột, tiêu còn được  
chưng chất, tách chiết tinh dầu và dầu nhựa để  
sử dụng trong công nghệ thực phẩm (Nguyễn  
Thị Triên Ly, 2012). Ở Việt Nam, tiêu được  
106  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 3  
Tiêu được tiêu thụ chủ yếu dưới dạng khô,  
ẩm độ trung bình của tiêu khô là 13 ± 1% (cơ sở  
ướt) (Nguyễn Thị Triên Ly, 2012). Ở Việt Nam,  
tiêu được làm khô chủ yếu bằng phương pháp  
phơi nắng. Do đó chất lượng của tiêu không đảm  
bảo và việc làm khô tiêu phụ thuộc rất nhiều vào  
thời tiết. Hiện nay, các máy sấy mẻ tĩnh đã được  
sử dụng để làm khô tiêu (Trương Quang Trường  
và cộng sự, 2013; Nguyễn Dương Hoàng Huy,  
2016). Tuy nhiên, do các máy sấy này chủ yếu  
dùng củi gỗ hoặc than đá để sấy trực tiếp tiêu  
nên chất lượng của tiêu không đảm bảo an toàn  
vệ sinh thực phẩm và gây ô nhiễm môi trường.  
Bên cạnh đó, chi phí năng lượng cho quá trình  
sấy cũng là một vấn đề được bà con nông dân  
quan tâm khi sử dụng máy sấy.  
Ngày nay, khi mức sống và ý thức của người  
dân ngày càng được nâng cao thì mức độ yêu  
cầu về chất lượng sản phẩm ngày càng khắt khe.  
Do đó các phương pháp làm khô tiêu như phơi,  
sấy trực tiếp không còn thích hợp. Việc cần làm  
là nghiên cứu áp dụng các phương pháp sấy thay  
thế để vừa đảm bảo chất lượng tiêu, đồng thời  
giảm chi phí trong quá trình làm khô.Việt Nam  
là nước có điều kiện thích hợp để phát triển các  
ứng dụng về năng lượng mặt trời vào sản xuất. Số  
giờ nắng trung bình trong năm của Việt Nam là từ  
1700 – 2500 giờ/năm (Hải Vân, 2015; Nguyễn  
Xuân Cự và cộng sự, 2008; EVN, 2017). Đã có  
nhiều nghiên cứu trong nước về sử dụng năng  
lượng mặt trời để sấy các sản phẩm khác nhau  
như: lúa (Phan Hiếu Hiền, 2007), cà phê (Mai  
Thanh Phong, 2014), thịt bò một nắng (Nguyễn  
Huy Bích, 2015), atisô (Lê Anh Đức và Nguyễn  
Huy Bích, 2016), cá dứa (Vương Thành Tiên và  
Nguyễn Văn Hùng, 2016), cá lù đù (Nguyễn Đức  
Khuyến và cộng sự, 2018).  
các chế độ sấy khác nhau và chiều dày vật liệu  
sấy khác nhau.  
2. Vật liệu và phương pháp  
2.1. Vật liệu thí nghiệm  
Tiêu sử dụng trong các thí nghiệm được mua  
tại Đăk Nông và Bình Thuận. Tiêu sau khi thu  
mua được phân loại, sau đó sẽ tách hạt khỏi  
chùm tiêu và sàng loại bỏ các hạt nhỏ không đạt  
kích thước trước khi đưa vào sấy. Ẩm độ trung  
bình của tiêu tươi được xác định theo phương  
pháp sấy khô mẫu (TCVN 1867-2001) là 64 ±  
1% (cơ sở ướt). Tiêu sẽ được sấy xuống ẩm độ  
13 ± 1% (cơ sở ướt).  
2.2. Phương pháp xác định các chỉ tiêu  
Độ ẩm của tiêu được xác định theo công thức  
(1) và (2) (Nguyễn Văn May, 2004).  
m1 m  
(1)  
w1   
2 100%  
(%)  
m1  
m1(100 w1)  
mi  
(%)  
(2)  
wi 100   
Trong đó w1 và wi là độ ẩm ban đầu và độ ẩm  
ở thời điểm i của tiêu trong quá trình sấy; m1, m2  
và mi là khối lượng ban đầu, khối lượng chất khô  
và khối lượng ở thời điểm i của tiêu (g).  
Vận tốc tác nhân sấy được đo bằng thiết bị  
Lutron AM-4205 với thang đo 0,1 m/s và khoảng  
đo từ 0,4 – 25 m/s. Vận tốc tác nhân sấy là vận  
tốc trung bình của tác nhân sấy trước khi qua  
khay sấy được đo ở 5 vị trí khác nhau ngay dưới  
khay sấy (1 ở tâm và 4 góc của khay sấy) sau đó  
tính giá trị trung bình và số liệu được lặp lại 3 lần  
đo. Nhiệt độ tác nhân sấy được xác địnhvà điều  
khiển bằng cảm biến nhiệt độ và bộ điều khiển  
nhiệt độ Ewelly EW-181H với độ chính xác  
±10C. Khối lượng của tiêu được xác định bằng  
cân đồng hồ Nhơn Hòa với thang đo 2g.  
Để đánh giá về độ an toàn vệ sinh thực phẩm,  
tiêu sau khi sấy được tiến hành xét nghiệm hàm  
lượng E.coli. Hàm lượng E.coli được xác định  
bằng phương pháp thử nghiệm AOAC và TC  
2000 và được định lượng theo tiêu chuẩn TCVN  
6846:2007. Các chỉ tiêu này được phân tích tại  
Trung tâm Phân tích thực phẩm – Công ty  
TNHH Thương mại Thiết bị Thái Thịnh, 57A  
Đường 30 tháng 4, phường Tân Thành, quận  
Mục đích của nghiên cứu này là nhằm thử  
nghiệm sấy tiêu bằng năng lượng mặt trời kết  
hợp với gia nhiệt phụ trợ bằng điện trở nhằm  
góp phần giải quyết bài toán về vệ sinh an toàn  
thực phẩm và giảm chi phí năng lượng cho quá  
trình sấy tiêu khô. Nghiên cứu sẽ tiến hành thiết  
kế, chế tạo một mô hình máy sấy tiêu bằng năng  
lượng mặt trời kết hợp gia nhiệt bằng điện trở.  
Tiến hành nghiên cứu thực nghiệm sấy tiêu ở  
107  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 3  
Tân Phú, Tp.HCM.  
2.3. Phương pháp khảo nghiệm  
Đối với các sản phẩm nông sản thì tốc độ tác  
nhân sấy nên nằm trong khoảng từ 0,5-2,0 m/s.  
Theo Nguyễn Đức Khuyến và cộng sự (2018),  
khi lưu lượng của không khí qua bộ thu nhiệt từ  
0,31 đến 0,36 kg/s thì hiệu suất thu nhiệt của bộ  
thu năng lượng mặt trời đạt lớn nhất, nhiệt độ  
đầu ra của không khí qua bộ thu đạt từ 50-600C  
trong hầu hết thời gian của ngày. Do đó, trong  
nghiên cứu này tiêu được sấy thí nghiệm ở các  
mức vận tốc tác nhân sấy khi qua lớp vật liệu là  
v = 1,0; 1,3 và 1,5 m/s (tương ứng với các mức  
lưu lượng là 0,26; 0,34 và 0,39 kg/s). Nhiệt độ  
tác nhân sấy được cố định ở mức 600C (Trương  
Quang Trường và cộng sự, 2013). Bề dày lớp vật  
liệu được chọn để khảo nghiệm là 13 mm tương  
ứng với bề dày lớp tiêu được phơi nắng. Bên  
cạnh đó, để nghiên cứu ảnh hưởng của bề dày  
lớp vật liệu đến quá trình sấy, tiêu được khảo  
nghiệm sấy ở hai mức bề dày khác là 25 và  
40mm. Các mẫu tiêu trên khay được trộn lẫn khi  
lấy mẫu phân tích ẩm độ. Trước khi tiến hành  
khảo nghiệm, buồng sấy, khay sấy và bề mặt  
kính của bộ thu nhiệt được vệ sinh sạch sẽ. Bộ  
thu năng lượng mặt trời được đặt theo hướng  
Đông – Tây (Nguyễn Đức Khuyến và cộng sự,  
2018). Khối lượng tiêu tươi được sấy trong mỗi  
mẻ là 5 kg. Các thông số của quá trình khảo  
nghiệm được ghi nhận sau mỗi 20 phút.  
Hình 1. Mô hình máy sấy tiêu.  
Buồng sấy có kích thước DxRxC =  
0,5x0,48x0,5 m; mặt bên trong được làm bằng  
tole tráng kẽm, mặt ngoài được bọc cách nhiệt.  
Máy sử dụng 2 khay sấy bằng inox SUS 304 với  
kích thước DxRxC = 0,48x0,45x0,2 m. Quạt  
hướng trục sử dụng động cơ 1 pha 220V có công  
suất 0,5 HP. Trong quá trình hoạt động, lưu  
lượng quạt được điều chỉnh thông qua dimmer  
(thiết bị điều chỉnh độ sáng đèn và tốc độ quạt).  
Bộ gia nhiệt bằng điện trở có công suất 4 kW,  
gồm các thanh điện trở chữ U ghép lại với nhau  
thành từng mô đun. Bộ thu năng lượng mặt trời  
hoạt động theo nguyên lý kết hợp giữa dạng tấm  
phẳng và dạng parabol trụ phản xạ có kích thước  
DxRxC = 10 x 1,2 x 0,8 m (Nguyễn Đức  
Khuyến và cộng sự, 2018). Cấu tạo của bộ thu  
gồm parabol phản xạ làm bằng tole tráng kẽm;  
ống tâm và tấm phẳng hấp thụ được làm bằng  
tole tráng kẽm sơn đen; mặt trên của bộ thu được  
lắp kính. Mặt ngoài của bộ thu được bọc lớp  
foam cách nhiệt (Nguyễn Đức Khuyến và cộng  
sự, 2018).  
Nguyên lý hoạt động: tiêu được trải đều trên  
2 khay sấy và đưa vào buồng sấy. Không khí  
ngoài trời (tác nhân sấy) được quạt hút vào bộ  
thu năng lượng mặt trờivà được gia nhiệt nhờ  
năng lượng mặt trời. Sau đó tác nhân sấy được  
thổi qua bộ gia nhiệt điện trở và đi vào buồng  
sấy để sấy vật liệu. Trong quá trình sấy, nếu  
nhiệt độ tác nhân sấy từ bộ thu năng lượng mặt  
trời cao hơn nhiệt độ sấy cài đặt, một van bổ  
sung không khí ngoài trời trên đường ống tâm  
sẽ được mở để điều chỉnh nhiệt độ tác nhân sấy  
vào buồng sấy. Khi năng lượng mặt trời không  
đủ cung cấp nhiệt cho máy sấy (nhiệt độ tác  
3. Kết quả và thảo luận  
3.1. Mô hình máy sấy tiêu sử dụng năng  
lượng mặt trời kết hợp gia nhiệt bằng điện trở  
Một mô hình máy sấy tiêu sử dụng năng  
lượng mặt trời kết hợp gia nhiệt bằng điện trở đã  
được thiết kế và chế tạo với năng suất 5 kg/mẻ.  
Mô hình có khả năng điều chỉnh khoảng nhiệt độ  
sấy từ 550C đến 650C, vận tốc tác nhân sấy có thể  
thay đổi từ 1,5 đến 2,5 m/s. Cấu tạo của máy được  
trình bày trong Hình 1 gồm buồng sấy với 2 khay  
sấy, tủ điều khiển, bộ gia nhiệt bằng điện trở, quạt  
và bộ thu nhiệt năng lượng mặt trời.  
108  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 3  
nhân sấy sau khi qua bộ thu thấp hơn nhiệt độ  
sấy cài đặt) thì bộ gia nhiệt sẽ hoạt động một  
phần công suất theo từng mô đun để bổ sung  
nhiệt cho quá trình sấy. Vào ban đêm hoặc khi  
không có nắng, bộ gia nhiệt điện trở sẽ hoạt  
động hết công suất.  
3.2. Kết quả sấy khảo nghiệm tiêu  
3.2.1. Ảnh hưởng của vận tốc tác nhân sấy  
đến quá trình sấy tiêu  
sấy đến quá trình sấy tiêu, tiêu được sấy thí  
nghiệm ở ba mức bề dày lớp vật liệu sấy là h =  
13 mm, 25 mm và 40 mm. Hình 3 trình bày quá  
trình giảm ẩm của tiêu ở v = 1,3 m/s; t = 600C  
và với các mức bề dày lớp vật liệu sấy đã nêu.  
Kết quả cho thấy khi chiều dày lớp vật liệu sấy  
tăng sẽ làm cho thời gian sấy kéo dài. Trong thí  
nghiệm này, khi chiều dày lớp vật liệu là 13 mm,  
thời gian để tiêu giảm ẩm từ 64,9% xuống  
13,93% là 7,45 giờ. Khi tăng chiều dày lớp vật  
liệu lên 25 mm và 40 mm, thời gian sấy tăng lên  
lần lượt là 8,0 giờ và 8,15 giờ.  
Hình 2. Quá trình giảm ẩm khi sấy tiêu ở  
t = 600C, h = 13 mm  
Quá trình giảm ẩm của tiêu trong quá trình sấy  
với bề dày lớp vật liệu (h) là 13 mm, nhiệt độ tác  
nhân sấy là t = 600C ở các mức vận tốc tác nhân  
sấy khác nhau được trình bày trong Hình 2. Kết  
quả cho thấy, khi tăng vận tốc tác nhân sấy thì  
thời gian sấy sẽ giảm xuống. Ở vận tốc tác nhân  
sấy là 1,0 m/s thì thời gian để tiêu giảm ẩm độ từ  
64,12% xuống 13,18% là 9,15 giờ. Với vận tốc  
tác nhân sấy là 1,3 m/s thời gian để giảm ẩm tiêu  
từ 64,90% xuống 13,93% là 7,45 giờ. Khi tăng  
vận tốc tác nhân sấy lên 1,5 m/s; thời gian giảm  
ẩm từ 65,52% xuống 13,54% là 7,15 giờ. Trong  
quá trình sấy, khi tăng vận tốc tác nhân sấy sẽ làm  
tăng cường độ của quá trình trao đổi nhiệt và trao  
đổi ẩm giữa tác nhân sấy và tiêu. Kết quả làm cho  
thời gian sấy giảm xuống.  
Hình 3. Quá trình giảm ẩm khi sấy tiêu ở  
t = 600C, v = 1,3 m/s  
Đánh giá chất lượng tiêu về mặt cảm quan về  
màu sắc theo phép thử so sánh cặp cho thấy, ở  
tất cả các chế độ sấy sản phẩm tiêu được sấy khô  
đều có màu đen, vỏ tiêu có độ nhăn và mùi nồng  
đặc trưng của tiêu khô. Kết quả khảo nghiệm  
cũng cho thấy, khi sấy tiêu ở nhiệt độ tác nhân  
sấy t = 600C tại các mức vận tốc tác nhân sấy từ  
1,0 – 1,5 m/s và bề dày lớp vật liệu từ 13 – 40  
mm, thời gian sấy tiêu nhanh (dưới 9 giờ) so với  
tiêu được làm khô khi phơi nắng (16 - 18 giờ),  
ẩm độ vật liệu sấy giảm đều trong suốt quá trình  
sấy. Bên cạnh đó, với việc sử dụng bộ thu năng  
lượng mặt trời, máy sấy tiêu đã sử dụng được  
nguồn nhiệt thu được từ mặt trời do đó giảm chi  
phí năng lượng cho quá trình sấy so với phương  
3.2.2. Ảnh hưởng của bề dày vật liệu sấy đến  
quá trình sấy tiêu  
Để khảo sát ảnh hưởng của bề dày vật liệu  
109  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 3  
pháp sấy thông thường. Độ đồng đều ẩm độ của  
tiêu sau sấy chưa đo vì khối lượng mẫu nhỏ và  
trong quá trình thí nghiệm thì toàn bộ khối  
lượng tiêu được đảo trộn do quá trình đo đạc để  
lấy mẫu.  
gian sấy tiêu tỉ lệ thuận với vận tốc tác nhân sấy  
và tỉ lệ nghịch với bề dày lớp vật liệu sấy. Ở các  
chế độ sấy đã khảo nghiệm, thời gian sấy tiêu là  
từ 7 - 9 giờ, rút ngắn thời gian hơn so với tiêu  
được làm khô bằng phương pháp phơi nắng (16  
- 18 giờ). Sản phẩm tiêu có màu đen, da nhăn  
nheo, mùi nồng đặc trưng và đảm bảo vệ sinh an  
toàn thực phẩm hơn so với tiêu được phơi nắng.  
3.2.3. Kết quả xét nghiệm hàm lượng vi sinh  
Để đánh giá chất lượng tiêu về đảm bảo an  
toàn vệ sinh thực phẩm cần xét nghiệm các chỉ  
tiêu về vi sinh vật. Tuy nhiên, do kinh phí thực  
hiện đề tài có hạn, nên nhóm nghiên cứu chỉ tiến  
hành xét nghiệm hàm lượng E.coli tại Trung tâm  
Phân tích thực phẩm – Công ty TNHH Thương  
mại Thiết bị Thái Thịnh, Quận Tân Phú,  
Tp.HCM. Kết quả xét nghiệm hàm lượng E.coli  
trong các mẫu tiêu được trình bày ở Bảng 1. Kết  
quả cho thấy không phát hiện vi khuẩn E.coli  
trong các mẫu tiêu sấy. Ở mẫu tiêu khô được  
mua trên thị trường, hàm lượng E.coli đo được  
là 1160 CFU/g. Từ đó cho thấy quá trình sử  
dụng máy sấy để làm khô tiêu đã làm tăng chất  
lượng tiêu sau khi sấy, đảm bảo vệ sinh an toàn  
thực phẩm. Vấn đề này là do khi sấy tiêu bằng  
máy sẽ hạn chế được việc tiêu bị nhiễm bụi, vi  
khuẩn có hại khi tiếp xúc trực tiếp với môi  
trường không khí bên ngoài.  
Tài liệu tham khảo  
Nguyễn Huy Bích (2015). Tính toán, thiết kế, chế tạo  
và khảo nghiệm mô hình máy sấy thịt bò một  
nắng dùng năng lượng mặt trời. Đề tài Nhiên  
cứu khoa học. Trường Đại học Nông Lâm Tp.  
HCM.  
Nguyễn Xuân Cự, Lưu Đức Hải, Trần Thanh Lâm và  
Trần Văn Quy (2008). Tiềm năng và phương  
hướng khai thác các dạng năng lượng tái tạo ở  
Việt Nam. Văn phòng Chương trình Nghị sự 21  
của Việt Nam  
Lê Anh Đức và Nguyễn Huy Bích (2016). Nghiên  
cứu sấy bông atisô dùng năng lượng mặt trời.  
Đề tài Nghiên cứu khoa học. Trường Đại học  
Nông Lâm Tp. HCM.  
Đinh Xuân Đức (2009). Bài giảng Cây đặc sản vùng.  
Trường Đại học Nông Lâm Huế - Dự án hợp  
tác Việt Nam – Hà Lan.  
EVN. 2017. Năng lượng mặttrời–Hướngpháttriển mới  
tại Việt Nam. Truy cập tại http://evn.com.vn/.  
CARD (2008). Collaboration for Agricultural and  
Rural Development Programme. 026/ VIE – 05  
2008. Evaluation of needs and development  
Trends of post-harvest Technology in The  
Mekong Delta of Vietnam. Proceedings of the  
seminar held at Nong Lam University in April  
2008 (in Vietnamese).  
Nguyễn Dương Hoàng Huy (2016). Khảo nghiệm và  
đánh giá máy sấy tiêu 1 tấn/mẻ dùng lò đốt  
củi gián tiếp và lò đốt than đá trực tiếp. Khóa  
luận tốt nghiệp. Trường Đại học Nông Lâm  
Tp. HCM.  
Bảng 1. Kết quả xét nghiệm hàm lượng E.coli  
E.coli  
(CFU/g)  
Loại mꢀu  
Tiêu sấyở t =600C, h = 13 mm, v = 1 m/s KPH*  
Tiêu sấy600C, h =13 mm, v = 1,3 m/s  
KPH  
Tiêu sấy ở t = 600C, h = 13 mm, v = 1 m/s,  
v = 1,6 m/s  
KPH  
Tiêusấyởt=600C, v=1,3m/s, h=25 mm KPH  
Tiêusấyởt=600C,v=1,3m/s,h=40mm/s KPH  
Mẫu tiêu khô trên thị trường  
1160  
*KPH: không phát hiện  
4. Kết luận  
Nguyễn Đức Khuyến, Nguyễn Huy Bích và Nguyễn  
Hữu Hòa (2018). Thiết kế, chế tạo và khảo  
nghiệm máy sấy cá lù đù sử dụng năng lượng  
mặt trời. Tạp chí Cơ khí Việt Nam, số 1+2.  
Nguyễn Thị Triên Ly (2012). Nghiên cứu chiết tách  
và xác định thành phần hóa học trong hạt tiêu  
đen. Khóa luận tốt nghiệp khoa Hóa học.  
Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng.  
Trong nghiên cứu này, một mô hình máy sấy  
tiêu sử dụng năng lượng mặt trời kết hợp với gia  
nhiệt bằng điện trở đã được thiết kế và chế tạo.  
Tiêu tươi được sấy thực nghiệm ở các mức vận  
tốc tác nhân sấy từ 1,0 đến 1,5 m/s, bề dày lớp  
vật liệu sấy từ 13 đến 40 mm, nhiệt độ tác nhân  
sấyđược cố định ở 600C. Kết quả cho thấy thời  
110  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 3  
Nguyễn Văn May (2004). Giáo trình sấy nông sản  
thực phẩm. Nxb Khoa học Kỹ thuật.  
2017. Truy cập tại https://www.customs.gov.vn/  
Lists/ThongKeHaiQuan/  
Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam  
(2018a). Công nghệ chế biến & Phẩm chất hồ  
tiêu. Truy cập tại http://iasvn.org/chuyen-  
muc/Cong-nghe-che-bien-&-pham-chat-Ho-  
Tieu-8224.html.  
Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam  
(2018b). Lịch sử phát triển và vùng trồng tiêu  
Việt Nam. Truy cập tại http://iasvn.org/chuyen-  
muc/Lich-su-Ho-Tieu-8193.html.  
Vương Thành Tiên và Nguyễn Văn Hùng (2016).  
Nghiên cứu công nghệ và thiết bị sấy nâng cao  
chất lượng sản phẩm cá dứa khô, Đề tài  
NCKH, Sở Khoa học và Công nghệ Tp. HCM.  
NguyễnTăngTôn(2012). Tình hình sản xuất và thương  
mại hồ tiêu. Truy cập tại: http://iasvn.org/  
homepage/Tinh-hinh-san-xuat,-thuong-mai-  
Ho-Tieu-va-mot-so-tien-bo-ky-thuat-trong-  
san-xuat-Ho-Tieu-3247.html.  
Tôn Nữ Tuấn Nam (2008). Đánh giá chất lượng và thị  
trường hồ tiêu Việt Nam. Dự án Qủan lý bên  
vững nguồn tài nguyên thiên nhiên miên Trung.  
Mai Thanh Phong (2014). Nghiên cứu và chế tạo hệ  
thống thiết bị sấy cà phê sử dụng kết hợp năng  
lượng mặt trời và nhiên liệu biomass. Đề tài  
NCKH, Trường Đại học Bách Khoa Tp. HCM.  
TổngcụcHảiQuan(2017). Tìnhhìnhxuấtkhẩuhồtiêunăm  
Trương QuangTrường, Nguyễn Văn Kiệp, Nguyễn Hải  
Đăng và Nguyễn Văn Hùng (2013). Thiết kế -  
Chế tạo hệ thống chế biến hồ tiêu đen năng suất  
1000 kg/mẻ tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Đề tài  
NCKH, Trường Đại học Nông Lâm Tp. HCM.  
Hải Vân (2015). Thị trường thiết bị điện mặt trời:  
Vẫn khó trong ngắn hạn. Tạp chí Năng lượng  
Việt Nam.  
111  
pdf 6 trang yennguyen 9760 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu thực nghiệm sấy tiêu bằng máy sấy năng lượng mặt trời", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_thuc_nghiem_say_tieu_bang_may_say_nang_luong_mat.pdf