Kỹ thuật hệ thống điện mặt trời với công nghệ quang điện (Phần 1)

KỸ THUẬT HỆ THỐNG ĐIỆN MẶT TRỜI  
VỚI CÔNG NGHỆ QUANG ĐIỆN  
(Phần 1)  
PgS.tS. ngUYỂn HỮU PHÚC  
Trường ĐH Bách Khoa – ĐH Quốc Gia TP. HCM  
tóm tắt  
Hiện nay, năng lượng mặt trời và năng lượng gió là hai nguồn năng lượng tái tạo tiềm năng nhất  
và đang được phát triển tại Việt Nam. Đặc biệt, đối với nguồn phát điện từ năng lượng mặt trời các  
chính sách ưu đãi về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời sẽ là động lực cho các dự  
án phát triển mạnh mẽ trong tương lai. Các bài báo sau trong Phần 1 sẽ giới thiệu về các kĩ thuật và  
hệ thống phát điện mặt trời với công nghệ quang-điện. Các bài báo tiếp theo của Phần 2 sẽ giới thiệu  
về các vấn đề từ ảnh hưởng của việc xâm nhập của nguồn năng lượng tái tạo- với bản chất không  
ổn định, lên chất lượng điện, cũng như độ ổn định của hệ thống điện nói chung, khi trong tương lai tỉ  
lệ công suất các nguồn phát từ năng lượng tái tạo so với công suất lắp đặt của các nguồn phát truyền  
thống (từ nhiên liệu hóa thạch, thủy điện) tăng lên. Phần 2 cũng sẽ giới thiệu về các qui định đấu nối  
và các giải pháp kĩ thuật nhằm hạn chế tác động tiêu cực từ việc đưa các nguồn phát từ năng lượng  
tái tạo vào làm việc với lưới điện.  
mỞ đầu  
trong nước để hình thành ngành công nghiệp sản  
xuất tấm pin quang điện PV ở Việt Nam. Ước tính  
tới tháng 3/2017, các nhà máy sản xuất tấm pin  
năng lượng mặt trời tại Việt Nam có tổng công  
suất thiết kế khoảng hơn 6.000 MW, và với sản  
lượng thực tế hàng năm khoảng gần 2.000 MW  
(Viện Năng lượng, 2017).  
Với sự phát triển tiến bộ không ngừng về công  
nghệ, mức chi phí đầu tư ban đầu ngày càng  
giảm, chi phí vận hành và bảo dưỡng thấp nên  
giá thành sản xuất điện từ mặt trời đang dần  
cạnh tranh với các nguồn điện từ nhiên liệu hóa  
thạch. Hiện nay, điện từ nguồn năng lượng mặt  
trời đang phát triển mạnh với tốc độ rất cao, với  
tốc độ tăng công suất điện mặt trời khoảng 48%/  
năm trong giai đoạn 2006 – 2016. Năm 2016,  
công suất điện mặt trời từ công nghệ quang- điện  
(PV- Photovoltaics), với ít nhất 75 GWp đã được  
lắp đặt thêm trên thế giới, lần đầu tiên trở thành  
dạng công nghệ được ứng dụng hàng đầu trong  
số các công nghệ năng lượng tái tạo.  
Theo các số liệu đến tháng 08/2017, tổng công  
suất lắp đặt điện mặt trời trên cả nước khoảng  
28 MW, chủ yếu là quy mô nhỏ cấp điện tại chỗ  
(vùng ngoài lưới cho các hộ gia đình và một số dự  
án nối lưới điện hạ áp, lắp đặt trên các tòa nhà,  
công sở). Tuy vậy, trong vòng 2 năm trở lại đây  
nhiều chủ đầu tư trong và ngoài nước đang xúc  
tiến và tìm kiếm cơ hội đầu tư vào dự án điện mặt  
trời nối lưới quy mô lớn trong phạm vi cả nước.  
Hiện nay, có khoảng 115 dự án quy mô công suất  
lớn nối lưới đã và đang được xúc tiến đầu tư tại  
một số tỉnh có tiềm năng điện mặt trời lớn tại các  
tỉnh miền Trung và miền Nam ở các mức độ khác  
nhau: xin chủ trương khảo sát địa điểm, xin cấp  
phép đầu tư, lập dự án đầu tư xây dựng. Tính tới  
giữa năm 2017, tổng công suất các dự án đang  
tiến hành lập dự án đầu tư trên cả nước khoảng  
hơn 17.000 MW.  
Tuy nguồn phát từ năng lượng mặt trời với  
công nghệ quang điện có những ưu điểm nổi bật,  
nhưng nhược điểm do tính không ổn định của  
sản lượng điện phát ra do sự thay đổi của bức xạ  
năng lượng mặt trời là một vấn đề lớn. Trong xu  
thế chung của việc xâm nhập ngày càng lớn của  
nguồn phát từ năng lượng tái tạo- trong đó có  
năng lượng mặt trời với bản chất nguồn công suất  
không ổn định, phụ thuộc nhiều vào thời tiết,  
vào lưới điện hiện hữu sẽ làm phát sinh các vấn  
đề về kĩ thuật như chất lượng điện, và làm ảnh  
hưởng đến tính ổn định của toàn hệ thống. Các  
khía cạnh về kĩ thuật và hệ thống phát điện mặt  
trời, cụ thể là kĩ thuật và hệ thống quang-điện,  
sẽ được giới thiệu trong các bài báo của Phần 1,  
trong khi Phần 2 sẽ trình bày về các Qui định đấu  
nối và các giải pháp kĩ thuật nhằm hạn chế các tác  
động tiêu cực của việc xâm nhập các nguồn phát  
từ năng lượng tái tạo vào lưới điện.  
2. Phát triỂn năng LưỢng mặt trỜi trên  
thế giới và việt nam  
Tính đến năm 2016, tổng công suất nguồn  
điện mặt trời với công nghệ PV được lắp đặt  
trên thế giới khoảng trên 303 GW, với tốc độ tăng  
công suất điện mặt trời khoảng 48%/năm trong  
giai đoạn 2006 – 2016. Trên Hình 1 là 6 quốc gia  
có tổng công suất HTQĐ lớn hơn 10 GW.  
Việc sản xuất các tấm pin quang điện PV đã  
bắt đầu ở Việt nam từ giữa những năm 90, với việc  
Chính phủ Việt Nam hỗ trợ việc chuyể về sản xuất  
BảN TiN HộI ĐIỆN LỰC MIềN NAM - THáNg 4 / 2018 5  
Hình 1. Công  
suất toàn cầu  
của điện mặt  
trời công nghệ  
PV (206-2016)  
và tại 10 nước  
hàng đầu  
Trong Chiến Lược Phát Triển Năng Lượng Tái  
Tạo ở Việt Nam, Quyết định số 2068/QĐ-TTg  
ngày 25/11/2015 nêu rõ “Các đơn vị phát điện  
có công suất lắp đặt trên 1.000MW, tỷ lệ điện  
sản xuất từ năng lượng tái tạo đến năm 2020  
không thấp hơn 3%; năm 2030 không thấp hơn  
10%; năm 2050 không thấp hơn 20%” (eVN+  
GeNCO)**. Theo Quy Hoạch Phát Triển Năng  
Lượng Tái Tạo với Quyết định số 428/QĐ-TTg  
ngày 18/3/2016 (QHĐ VII điều chỉnh) là các số  
liệu sau: trong giai đoạn 2016 – 2020 sẽ đưa vào  
vận hành 3.603MW; giai đoạn 2021 – 2025 đưa  
vàovậnhành6.290MW;giaiđoạn2026–2030đưa  
vào vận hành 15.190MW. Tổng cộng trong giai  
đoạn 2016 – 2030 sẽ có 25.000 MW được đưa vào  
vận hành, trong đó nguồn công suất từ Điện mặt  
trời: 850MW (2020); 4.000M (2025); 12.000MW  
(2030) và từ Điện gió: 800MW (2020);2.000MW  
(2025); 6.000MW (2030).  
Trên Hình 2 là các số liệu từ eVN (tháng  
5.2018), với các quy hoạch và chuẩn bị đầu tư  
(đã xác định địa điểm, công suất) cho các dự án  
nguồn điện mặt trời có công suất ~ 2.275MW.  
Ngoài ra, các dự án Pin Năng Lượng Mặt Trời  
Áp Mái (NLMTAM) (tại trụ sở các Tổng Công Ty  
Truyền tải, Tổng Công Ty Điện Lực, Công Ty Điện  
Lực, Trạm Biến Áp thuộc eVN) với các số liệu sau.  
Năm 2017: tiềm năng các dự án pin NLMTAM nối  
lưới: 55,6 MWp; 2017 - 2018: đã lắp đặt 13 dự  
án, với công suất 758 kWp; 2018 và các năm tiếp  
theo: sẽ tiếp tục lắp đặt hệ thống pin NLMTAM.  
Hình 2. Công suất của các dự án Nguồn Phát Năng Lượng  
Mặt Trời (EVN) [1]  
3. tổng quan về hệ thống quang điện  
3.1 nguyên Lí hoạt động  
Trong các hệ thống quang điện (HTQĐ) và nhà  
máy quang điện (NMQĐ) (Hình 3) năng lượng mặt  
trời được biến đổi trực tiếp thành năng lượng  
điện qua việc sử dụng kĩ thuật chất bán dẫn phù  
hợp được “pha tạp” (doped) phát ra dòng điện  
khi làm việc với bức xạ mặt trời [2].  
Ưu điểm chính của HTQĐ hay NMQĐ:  
• Phát điện phân tán  
• Không phát thải các chất gây ô nhiễm  
• Tiết kiệm nhiên liệu hóa thạch  
• Độ tin cậy cao của các nhà máy do không có các  
6 BảN TiN HộI ĐIỆN LỰC MIềN NAM - THáNg 4 / 2018  
bộ phận quay (tuổi thọ của NMQĐ thường trên  
20 năm)  
• Chi phí vận hành và bảo trì giảm  
• Tính linh hoạt module hệ thống (dễ dàng nâng  
công suất nhà máy theo nhu cầu phụ tải bằng  
cách tăng số lượng các module quang điện).  
Phân Loại htqđ  
Các HTQĐ thường được phân loại:  
1. HTQĐ làm việc độc lập với lưới điện (có hệ  
thống tích trữ năng lượng)  
2. HTQĐ làm việc đấu nối với lưới điện hạ thế  
3. NMQĐ, thường đấu nối với lưới điện trung áp.  
Hai loại HTQĐ 1. và 2. thường có công suất  
dưới 1 MW, trong khi loại 3 là các NMQĐ có công  
suất trên 1 MW.  
Tại một số nước hiện đang áp dụng chính  
sách ưu đãi về giá điện khi điện năng sản xuất từ  
HTQĐ được phát về lưới (Feed- In Tariff- FIT), tuy  
vậy thường chỉ được áp dụng đối với loại 2 và 3,  
với công suất không thấp hơn 1 kW.  
Nhược điểm:  
• Chi phí đầu tư của NMQĐ hiện nay vẫn còn khá  
cao do thị trường chưa đạt được mức độ phát  
triển đầy đủ, xét từ quan điểm kỹ thuật và kinh tế  
• Tính không ổn định của sản lượng điện phát ra  
do sự thay đổi của bức xạ năng lượng mặt trời.  
Sản lượng điện năng hàng năm của NMQĐ phụ  
thuộc vào các yếu tố sau:  
• Năng lượng bức xạ mặt trời ở địa điểm xây dựng;  
• Độ nghiêng và hướng của các module;  
• Hiện tượng che bóng;  
• Hiệu suất kỹ thuật của các bộ phận NMQĐ, chủ  
yếu là các tấm pin mặt trời (module quang điện)  
và biến tần.  
Một HTQĐ thường gồm có: 1. các module mặt  
trời lắp trên các khung sườn bằng nhôm đặt trên  
đất, hay lắp trên cấu trúc công trình xây dựng, 2.  
biến tần và hệ thống điều khiển, 3. hệ thống tích  
trữ năng lượng đối với HTQĐ làm việc độc lập),  
4. các tủ bảng điện và máy cắt hợp bộ đi kèm với  
thiết bị bảo vệ, 5. cáp đấu nối.  
3.2 năng LưỢng mặt trỜi  
Phản ứng tổng hợp nhiệt hạch diễn ra không  
ngừng trong lõi của mặt trời ở hàng triệu độ C  
làm sản sinh ra nguồn năng lượng khổng lồ dưới  
dạng bức xạ điện từ. Chỉ một phần rất nhỏ của  
nguồn năng lượng này đến phần bên ngoài của  
bầu khí quyển của trái đất với bức xạ trung bình  
(hằng số mặt trời) khoảng 1.367 kW/m2 3%, và  
giá trị này thay đổi theo khoảng cách từ Trái Đất  
đến Mặt Trời (Hình 5) và hoạt động của Mặt trời  
(các vết đen trên bề mặt Mặt trời).  
Hình 5 cho thấy cường độ này thay đổi trong  
năm và sụt giảm nhiều nhất vào mùa hè, trong  
khi lại cao nhất vào mùa đông. Điều này là do  
quĩ đạo của trái đất quanh mặt trời có dạng hình  
ellip, với khoảng cách xa nhất vào mùa hè (tháng  
Sáu, tháng Bảy, trong khi khoảng cách gần nhất  
vào mùa đông (tháng Mười Hai, tháng Một).  
Hình 3. Hệ thống phát điện mặt trời quang điện  
Cường độ bức xạ mặt trời (solar irradiance) là  
cường độ của bức xạ điện từ mặt trời trên 1 m2 bề  
mặt [kW/ m2]. Mức bức xạ này là tổng công suất bức  
xạ ứng với mỗi tần số trong phổ bức xạ mặt trời.  
Hình 4. Suất giảm giá USD/Wp theo các năm  
Theo dự báo của Cơ Quan Năng Lượng Quốc  
Tế IeA (International energy Agency), giá của  
các module QĐ sẽ giảm từ 0.6- 0.8 USD/Wp  
hiện nay xuống khoảng 0.3 - 0.4 USD/Wp vào  
năm 2035 (Hình 4).  
Hình 5. Cường độ bức xạ mặt trời W/m2 đến tầng khí  
quyển trái đất thay đổi theo tháng trong năm  
BảN TiN HộI ĐIỆN LỰC MIềN NAM - THáNg 4 / 2018 7  
Cường độ và năng lượng  
bức xạ mặt trời  
Bức xạ phản xạ phụ thuộc  
vào khả năng phản xạ của bề  
mặt và được đo bằng hệ số  
phản xạ albedo tính cho mỗi vật  
liệu (Bảng 1).  
Hình 8 là bản đồ bức xạ trung  
bình [kWh/m2/ngày] tại các khu  
vực trên thế giới trên mặt phẳng  
nghiêng 300 về phía Nam. Ở Việt  
Nam năng lượng bức xạ hàng  
ngày (Hình 9) thay đổi từ 2.6-  
4.6 kWh/kWp và năng lượng  
bức xạ hàng năm trung bình từ  
949 – 1680 kWh/kWp cho các  
vùng miền khác nhau của Việt  
Nam. Bảng 2 là năng lượng bức  
xạ mặt trời ở Việt Nam  
12 tháng trong năm: J- tháng 1, F- tháng 2, M- tháng 3,  
A- tháng 4, J- tháng 6, J- tháng 7, A- tháng 8, S- tháng 9, O- tháng  
10, N- tháng 11, D- tháng 12  
Khi qua bầu khí quyển trái đất, cường độ bức xạ mặt trời suy  
giảm một phần do hiện tượng phản xạ và hấp thụ (do hơi nước và  
bởi các chất khí trong khí quyển). Các bức xạ xuyên qua sau đó lại  
một phần bị khuếch tán bởi không khí và bởi các hạt bụi lơ lửng  
trong không khí (Hình 6).  
Năng lượng bức xạ mặt trời (incident solar radiation) là bức xạ  
mặt trời trong một khoảng thời gian nhất định [kWh/m2]. Do đó,  
năng lượng bức xạ trên một bề mặt ngang là tổng bức xạ trực tiếp,  
từ bức xạ trực tiếp trên bề mặt, bức xạ khuếch tán đến bề mặt từ  
toàn bộ bầu trời ( không từ một phần cụ thể của bầu trời) và bức xạ  
phản xạ từ mặt đất và môi trường xung quanh. Vào mùa đông với  
bầu trời u ám và thành phần bức xạ khuếch tán khi đó lớn hơn so  
với bức xạ trực tiếp (Hình 7).  
Bản đồ BứC xạ mặt trỜi  
trung Bình Ở CáC vùng  
miền việt nam  
• Bản đồ bức xạ trung bình  
[kWh/kWp/ngày và kWh/kWp/  
năm] (Nguồn Ngân Hàng Thế  
Giới) tại các khu vực ở Việt Nam  
ước tính lượng điện có thể sản  
xuất từ HTQĐ là tấm pin mặt  
trời 1 kWp nối lưới, tính toán  
cho khoảng thời gian 9 năm gần  
đây (2007-2015).  
• HTQĐ kiểu cố định, dùng tấm  
pin mặt trời loại silicon tinh  
thể với khung đỡ đặt trên nền  
đất, góc nghiêng trong khoảng  
5- 24o về phía Nam. Biến tần  
là loại có hiệu suất cao. Các  
tính toán điện năng sản xuất  
dựa vào các số liệu nguồn năng  
lượng mặt trời với độ phân giải  
cao và từ phần mềm Solargis.  
Các tính toán có xét đến bức xạ  
mặt trời, nhiệt độ không khí, địa  
hình, mô phỏng quá trình biên  
đổi năng lượng và các tổn thất  
trong module quang điện và  
các bộ phận khác của HTQĐ.  
Các tổn thất do bụi bám vào  
module, cáp dẫn, biên tần và  
máy biến áp được tính là 9%.  
• Cơ sở dữ liệu nguồn năng  
lượng mặt trời được tính toán  
từ các số liệu khí quyển và từ vệ  
tinh với bước thời gian mỗi 30  
phút, độ phân giải không gian  
250 m.  
Hình 6- Hình 7. Bức xạ mặt trời đến trái đất và các thành phần  
8 BảN TiN HộI ĐIỆN LỰC MIềN NAM - THáNg 4 / 2018  
Bảng 1. hệ Số Phản xạ aLBEdo  
Loại bề mặt  
Đường đi  
albedo  
0.04  
0.07  
0.07  
0.10  
0.13  
0.14  
0.20  
0.20  
0.22  
Mặt nước  
Rừng thông vào mùa đông  
Đường nhựa  
Mái nhà và sân thượng  
Mặt đất  
Đồng cỏ khô  
Đá sỏi  
Bêtông  
Rừng/ cánh đồng (mùa thu) 0.26  
Đồng cỏ xanh  
0.26  
0.27  
0.30  
0.60  
0.75  
Bề mặt tối của tòa nhà  
Lá cây mục  
Bề mặt sáng của tòa nhà  
Tuyết  
Hình 8. Bản đồ bức xạ trung bình [kWh/m2/ngày]  
tại các khu vực trên thế giới  
3.3 CáC thành Phần Cơ Bản Của hệ thống điện mặt trỜi  
3.3.1 moduLE quang điện  
Thành phần cơ bản của module quang điện (Module QĐ) (Hình 10) là các tế bào quang điện  
(TBQĐ), nơi chuyển đổi bức xạ mặt trời thành dòng điện. Tế bào bao gồm một lớp mỏng vật liệu bán  
dẫn, thường là silicon, với độ dày khoảng 0,3 mm và diện tích bề mặt từ 100 đến 225 cm2.Silicon,  
có 4 electron hóa trị (tetravalent), được “pha tạp” bằng cách thêm các nguyên tử 3 hóa trị (ví dụ như  
boron - P doping) lên một “lớp” và một lượng nhỏ các nguyên tử 5 hóa trị (ví dụ như phosphorus – N  
doping) lên một lớp khác. Vùng P có một lượng lớn các lỗ trống dư thừa , trong khi vùng N có một  
lượng electron dư thừa (Hình 10.a.). Trong vùng tiếp giáp giữa hai lớp được pha tạp môt cách khác  
nhau (mối nối P-N), các electron tự do di động (mobile electrons) có xu hướng di chuyển từ vùng giàu  
electron (N) đến vùng nghèo electron (P), do đó tạo ra sự tích tụ điện tích âm trong vùng P. Một hiện  
tượng đối ngẫu xảy ra đối với các lỗ trống, với việc tích tụ điện tích dương trong vùng N. Do đó, giữa  
mối nối P-N sẽ xuất hiện một điện trường chống lại hiện tượng khuếch tán các hạt mang điện nói trên  
(Hình 10.b/. và c/. )  
Hình 10. a/. Cấu trúc nguyên tử trong  
Hình 10. (b) Các điện tích trong giai đoạn bắt đầu dịch chuyểnmột tế  
bào quang điện silicon (c) giai đoạn xác lập [3]  
BảN TiN HộI ĐIỆN LỰC MIềN NAM - THáNg 4 / 2018 9  
Năng lượng  
bức xạ  
(kWh/m2,  
ngày)  
Thời gian  
nắng trong  
năm  
Ứng dụng  
Trung  
bình  
Đông Bắc  
Tây Bắc  
1600 – 1750  
1750 – 1800  
3.3 – 4.1  
4.1 – 4.9  
Trung  
bình  
Bắc Trung  
bộ  
1700 – 2000 4.6 – 5.2 Vùng  
Tốt  
Tây Nguyên  
và Duyên  
hải Nam  
2000 – 2600  
4.9 – 5.7  
Rất tốt  
Trung bộ  
Phía Nam  
2200 – 2500  
1700 – 2500  
4.3 – 4.9  
4.6  
Rất tốt  
Tốt  
Trung bình  
toàn quốc  
Hình 9. Bản đồ năng lượng bức xạ trung bình [kWh/kWp/ngày và kWh/kWp/ năm] tại các khu vực ở Việt Nam  
Trường hợp áp lên một điện áp từ bên ngoài lên mối nối P-N, mối nối chỉ cho dòng điện chảy theo  
một hướng nhất định, đây là trường hợp mối nối P-N làm việc với chức năng của một diode. Khi ánh  
nắng rọi vào tế bào, do hiệu ứng quang điện, một số cặp electron-lỗ trống sẽ xuất hiện cả trong vùng  
N cũng như trong vùng P. Điện trường bên trong khiến các electron dư thừa (có được từ sự hấp thụ của  
các photon) được tách ra từ các lỗ trống và đẩy chúng theo các hướng ngược nhau.  
Kết quả là, một khi các electron đã qua vùng kiệt (depletion region) thì chúng không thể di  
chuyển ngược trở lại vì điện trường ngăn không cho chúng chảy theo chiều ngược lại (Hình 11). Khi tế  
bào được chiếu sáng (Hình12), mối nối và dây dẫn bên ngoài tạo thành một mạch điện, và khi đó dòng  
điện chảy từ lớp P có điện thế cao hơn đến lớp N, có điện thế thấp hơn.  
Vùng silicon tạo ra dòng điện là vùng quanh mối nối P-N; điện tích cũng hình thành ở các vùng  
xa hơn, nhưng do không có điện trường và do đó chúng kết hợp lại. Do đó, điều quan trọng là tế bào  
quang điện cần có bề mặt lớn, bề mặt càng lớn, khi đó dòng điện tạo ra càng lớn.  
Hình 12. Dòng điện phát ra bởi tế bào quang điện khi được chiếu sáng  
Hình 11. Mối nối P-N và vùng kiệt  
10 BảN TiN HộI ĐIỆN LỰC MIềN NAM - THáNg 4 / 2018  
Phần trăm % tổn thất của bức xạ mặt trời  
Hình 14 cho thấy nhiều TBQĐ được ghép nối  
tiếp trong một tấm pin mặt trời (module), và  
nhiều module được nối lại với nhau thành bảng  
tấm (panel) pin mặt trời. Nhiều tấm pin mặt trời  
sau đó nối tiếp lại tạo thành nhánh (string). Các  
nhánh lại được nối song song với nhau tạo thành  
dãy (arrays). Một HTQĐ thường bao gồm nhiều  
dãy nối song song phát ra công suất và điện áp  
yêu cầu. Các module quang điện được ghép nối  
thành bảng tấm pin mặt trời (panel), và được lắp  
Hình 13 của dòng chảy công suất của hiệu  
ứng quang điện cho thấy một phần đáng kể năng  
lượng mặt trời không được chuyển đổi thành điện  
năng, và sẽ gây ra tổn thất nhiệt trong một TBQĐ.  
Trong số 100% năng lượng của bức xạ mặt trời  
đi đến tế bào, % năng lượng không được chuyển  
đổi thành điện năng, và do đó mất mát dưới dạng  
tổn thất nhiệt sẽ như sau:  
- 3% : do phản xạ và che bóng mặt trước của đặt trên mái các công trình hay trên khung đỡ đặt  
module  
- 23% : do số photon có bước sóng cao, với mức  
trên nền đất của HTQĐ (Hình 15).  
Trong thực tế, các tế bào trong các module  
năng lượng không đủ để giải phóng các electron có thể không hoàn toàn giống nhau do dung  
tự do, do đó sẽ mất mát dưới dạng tổn thất nhiệt sai trong quá trình sản xuất và do đó, hai tế bào  
ghép song song sẽ có điện áp khác nhau. Dòng  
- 32% : do số photon có bước sóng thấp, với  
điện chạy quẩn từ tế bào có điện áp cao hơn tới  
mức năng lượng cao (hơn mức năng lượng cần  
tế bào ở điện áp thấp hơn gây ra tổn thất năng  
thiết để giải phóng các electron tự do), do đó sẽ  
lượng. Hiện tượng tổn thất năng lượng cũng xảy  
mất mát dạng tổn thất nhiệt  
ra khi các tế bào nhận bức xạ mặt trời khác nhau,  
- 8,5% : do hiện tượng các điện tích tự do kết  
khi một phần bề mặt của các tấm panel bị che  
hợp lại  
bóng hay già hóa trong quá trình làm việc.  
- 20% : do tổn thất điện áp đặc trưng bằng tỉ số  
Các tế bào bị che bóng khi đó sẽ làm việc  
Fv= eVB/eg của mối nối  
như các diode, chặn dòng phát ra từ các tê bào  
còn lại được chiếu năng đầy đủ. Mặt khác, điện áp  
(ngược) từ các tế bào còn lại đặt lên các diode này  
có thể gây hiện tượng đánh thủng mối nối của tế  
bào với tổn thất do quá nhiệt cục bộ và làm hư  
hỏng các module.  
- 0.5% : do tổn thất nhiệt trên điện trở nối tiếp  
Như vậy còn lại khoảng 14% là năng lượng  
điện sử dụng được.  
Trong điều kiện hoạt động tiêu chuẩn (bức xạ  
1 kW/m2 ở nhiệt độ 25° C) một tế bào quang điện  
tạo ra một dòng điện khoảng 3A với điện áp 0.5V  
và công suất đỉnh bằng 1.5-1.7 Wp.  
Các module quang điện trên thị trường có cấu  
tạo từ tập hợp các tế bào. Phổ biến nhất là loại  
module gồm 36 hay 72 tế bào nối tiếp, với diện  
tích từ 0.5 đến 1m2.  
1. Các điện tích phân li; 2. Tái hợp; 3. Chuyển  
dịch; 4. Phản xạ và che bóng mặt trước  
a.  
b.  
c.  
Hình 14. Lắp ghép các tấm pin mặt trời  
a. Tế bào quang điện (PV cell) Hình 15. Bảng tấm pin mặt trời  
b. Module quang điện (PV module)  
c. Dãy (array) HTQĐ gồm nhiều module quang điện nối tiếp tạo  
thành nhánh (string) và nhiều nhánh song song với nhau  
Hình 13. Hiệu ứng quang điện và các thành phần tổn  
thất năng lượng  
BảN TiN HộI ĐIỆN LỰC MIềN NAM - THáNg 4 / 2018 11  
Hiện tượng tổn thất năng lượng cũng xảy ra khi các tế bào nhận  
bức xạ mặt trời khác nhau, khi một phần bề mặt của các tấm panel  
bị che bóng hay già hóa trong quá trình làm việc. Các tế bào bị che  
bóng khi đó sẽ làm việc như các diode, chặn dòng phát ra từ các tê  
bào còn lại được chiếu năng đầy đủ. Mặt khác, điện áp (ngược) từ  
các tế bào còn lại đặt lên các diode này có thể gây hiện tượng đánh  
thủng mối nối của tế bào với tổn thất do quá nhiệt cục bộ và làm  
hư hỏng các module. Để hạn chế hiện tượng tiêu cực này, thường  
có các diode rẽ nhánh (by-pass diode) song song với các module  
để ngắn mạch các tế bào bị che bóng hoặc phần module bị hỏng.  
Trong công nghệ màng mỏng,  
kết nối điện là một phần của  
quy trình của quá trình sản  
xuất các tế bào, được đảm bảo  
bởi một lớp oxid kim loại trong  
suốt, chẳng hạn như oxid kẽm  
hoặc oxid thiếc.  
Hiện tượng tổn thất năng lượng cũng xảy ra khi điện áp của các  
dãy quang điện trở nên mất cân bằng do hiện tượng bóng che hay  
sự cố trong các dãy. Thường dùng diode chặn (blocking diode) nối  
tiếp trên mỗi dãy để chống việc dòng điện chạy theo chiều ngược  
(Hình 16).  
Các tế bào trong một module hay một tấm pin năng lượng mặt  
trời được đóng gói với các đặc tính:  
• cách điện tế bào với bên ngoài;  
• bảo vệ các tế bào khỏi các tác nhân xâm hại khí quyển và tác động  
cơ học;  
• bảo vệ chống tia cực tím ở nhiệt độ thấp, các thay đổi nhiệt độ đột  
ngột và hiện tượng ăn mòn;  
Hình 17. a. Mặt cắt ngang của một  
module silicon tinh thể  
• thoát nhiệt dễ dàng để tránh hiện tượng tăng nhiệt độ khi công  
suất cung cấp bởi module giảm.  
Nhà sản xuất phải bảo đảm các đặc tính này trong suốt thời gian  
làm việc của các module.  
Hình 17. b. Module silicon đơn tinh  
thể  
Hình 16. Diode chặn trên mỗi nhánh giúp tránh hiện tượng dòng ngược khi  
có hiện tượng hư hỏng hay bóng che trên một nhánh, a. Khi không có diode  
chặn, b. Khi có diode chặn  
Hình 17 cho thấy mặt cắt ngang của một module silicon tinh thể,  
được tạo thành bởi:  
• lớp bảo vệ ngoài cùng có độ trong suốt cao tiếp xúc với ánh sáng  
(vật liệu được sử dụng nhiều nhất là kính cường lực);  
• lớp bao bọc bằng Ethylene Vinyl Acetate (EVA) tránh tiếp xúc trực  
tiếp giữa lớp kính và tế bào, loại bỏ các khe do bề mặt không hoàn  
hảo của các tế bào và cách điện tế bào với phần còn lại của panel;  
Hình 17. c. Module silicon đa tinh thể  
• mặt đỡ phía sau (thủy tinh, kim loại, nhựa);  
• khung đỡ kim loại, thường bằng nhôm.  
Trong công nghệ silicon tinh thể, sử dụng công nghệ hàn để kết nối  
điện các tế bào sau khi được sản xuất;  
12 BảN TiN HộI ĐIỆN LỰC MIềN NAM - THáNg 4 / 2018  
Hình 17. d. Module màng mỏng gốc CdTe-CdS  
Công nghệ CáC tấm Pin quang điện (Pv)  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. “Hiện Trạng và Dự Kiến  
Phát Triển Ngành Điện Việt  
Nam”, Hội Thảo Tích Hợp Nuôi  
Trồng Thủy Sản với các Hệ  
Thống Năng Lượng Tái Tạo-  
Động Lực Thúc Đẩy Phát Triển  
Năng Lượng Tái Tạo ở Việt  
Nam, Tập Đoàn Điện Lực Việt  
Nam eVN, TP HCM ngày 11  
tháng 05.2018  
[2]. aBB Technical application  
Papers No.10 Photovoltaic  
PV thế hệ đầu: đã phát triển thương mại, sử dụng công nghệ  
tinh thể silicon wafer-based (c-Si), hoặc tinh thể đơn (sc-Si) hoặc  
đa tinh thể (mc-Si). Hiệu suất thương mại khoảng 16- 22 % (Hình  
15).  
PV thế hệ thứ hai: công nghệ PV màng mỏng (thin film), đang  
được triển khai ở quy mô thương mại; nhưng một số khác vẫn  
ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển. Hiệu suất thương mại  
khoảng 7-10 %.  
Thế hệ thứ ba: bao gồm các công nghệ như PV tập trung (CPV=  
Concentrated PV) và tế bào quang hữu cơ, công nghệ này vẫn đang  
trong giai đoạn nghiên cứu, chưa được thương mại hóa rộng rãi.  
Hiệu suất lên đến khoảng 30% .  
[3]. Gilbert M. Masters ,  
Renewable and efficient electric  
Power Systems, John Wiley &  
Sons, Inc., ISBN 0-471-28060-  
7, 2004  
[4]. Yang, Y., & Blaabjerg,  
F., Overview of Single-Phase  
Grid-Connected Photovoltaic  
Systems, electric Power  
Components & Systems,  
43(12), 1352-1363, 2015  
[5]. Ha¨berlin, Heinrich.,  
Photovoltaics : System Design  
and Practice, translated by  
Herbert eppel, John Wiley &  
Sons, Ltd, ISBN 978-1-119-  
99285-1, 2012  
Hình 18. Hiệu suất và diện tích/kWp các module QĐ theo các công nghệ khác nhau  
BảN TiN HộI ĐIỆN LỰC MIềN NAM - THáNg 4 / 2018 13  
pdf 9 trang yennguyen 151780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kỹ thuật hệ thống điện mặt trời với công nghệ quang điện (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfky_thuat_he_thong_dien_mat_troi_voi_cong_nghe_quang_dien_pha.pdf