Phân tích cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực công nghệ xạ trị ở Việt Nam
DOI: 10.31276/VJST.63(6).68-72
Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ
Phân tích cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực
công nghệ xạ trị ở Việt Nam
Hoàng Anh Tuấn*, Đinh Văn Chiến
Cục Năng lượng nguyên tử
Ngày nhận bài 5/2/2021; ngày chuyển phản biện 8/2/2021; ngày nhận phản biện 16/3/2021; ngày chấp nhận đăng 1/4/2021
Tóm tắt:
Trong nghiên cứu này, các tác giả tổng hợp và phân tích kết quả điều tra thống kê năm 2019-2020 về cơ sở hạ tầng và
nguồn nhân lực của các cơ sở xạ trị ở Việt Nam, từ đó đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu Quy hoạch chi tiết phát
triển, ứng dụng bức xạ trong y tế đến năm 2020, đồng thời đánh giá tỷ lệ sử dụng xạ trị thực tế (ARUR) của Việt
Nam. Kết quả điều tra thống kê đã được phân tích để thảo luận về phân bố địa lý và đánh giá các tỷ số đặc trưng PT/
LINAC, PT/RO, PT/ROMP, PT/RTT của các cơ sở xạ trị trong ứng dụng công nghệ xạ trị LINAC. Kết quả nghiên
cứu chỉ ra rằng, tuy Việt Nam chưa đạt mục tiêu quy hoạch đến năm 2020, nhưng đã đạt nhiều thành tựu về phát
triển mạng lưới cơ sở xạ trị trong toàn quốc và đầu tư thiết bị xạ trị LINAC đạt mức 0,73 thiết bị LINAC/triệu dân;
tỷ lệ sử dụng xạ trị thực tế bằng LINAC đạt 20% với việc ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến như IMRT, VMAT, IGRT,
SRS, SBRT và đầu tư thiết bị mô phỏng CT, MRI, PET/CT. Tổng số bác sỹ, nhân viên y vật lý, kỹ thuật viên xạ trị
trong toàn quốc tương ứng là 318, 151 và 356 người. Các cơ sở xạ trị và đội ngũ chuyên gia chủ yếu tập trung ở Hà
Nội và TP Hồ Chí Minh với 67% thiết bị LINAC đáp ứng 80% số bệnh nhân xạ trị LINAC hàng năm. Một mô hình
dự báo nhu cầu xạ trị đã được đề xuất và áp dụng để xác định số lượng thiết bị LINAC, nguồn nhân lực kỳ vọng cần
thiết cho giai đoạn 2020-2040 nhằm đạt tỷ lệ sử dụng xạ trị thực tế 25-35% số bệnh nhân mắc ung thư mới hàng năm.
Theo đó, số lượng thiết bị LINAC kỳ vọng cần thiết đến năm 2030 và năm 2040 tương ứng đạt tỷ lệ 1,1 LINAC/triệu
dân và 1,7 LINAC/triệu dân, nhu cầu nguồn nhân lực RO, ROMP, RTT được dự báo sẽ tăng tương ứng tối thiểu 12,
34 và 67% từ năm 2021 đến năm 2030 và 71% cho giai đoạn 2031-2040.
Từ khóa: cơ sở hạ tầng, dự báo nhu cầu, LINAC, nguồn nhân lực, quy hoạch, tỷ lệ sử dụng xạ trị thực tế, xạ trị.
Chỉ số phân loại: 2.11
số bệnh nhân và số lượng nhân viên y vật lý xạ trị (PT/ROMP), tỷ
số giữa số bệnh nhân và số lượng kỹ thuật viên xạ trị (PT/RTT).
Đặt vấn đề
Theo số liệu thống kê của Cơ quan Nghiên cứu ung thư quốc
Đây là các tỷ số được chấp nhận rộng rãi trong lĩnh vực ứng dụng
tế (IARC), số ca mắc ung thư mới của Việt Nam năm 2020 là
công nghệ xạ trị trên thế giới và thường được sử dụng để đánh giá
183.000 người và với xu hướng ngày càng tăng trong giai đoạn đến
mức độ hợp lý trong mối quan hệ giữa số lượng bệnh nhân được
2040 [1]. Quy hoạch chi tiết phát triển, ứng dụng bức xạ trong y tế
điều trị hàng năm và nguồn nhân lực của các cơ sở xạ trị hoặc của
đến năm 2020 được ban hành theo Quyết định số 1958/QĐ-TTg
một quốc gia. Số liệu điều tra thống kê của Việt Nam và của các cơ
ngày 04/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ (Quy hoạch chi tiết) đã
quan chuyên môn quốc tế sẽ được sử dụng làm cơ sở xây dựng mô
đặt ra mục tiêu đến năm 2020: thành lập và hoàn thiện mạng lưới
hình dự báo nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực xạ
các cơ sở y tế ứng dụng bức xạ trong khám, chữa bệnh, đào tạo và
trị, góp phần xây dựng quy hoạch thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến
nghiên cứu khoa học, với các mục tiêu cụ thể là: 80% tỉnh, thành
năm 2050 theo Nghị định số 41/2019/NĐ-CP ngày 15/5/2019 của
phố trực thuộc Trung ương có cơ sở y học hạt nhân và cơ sở ung
Chính phủ quy định chi tiết việc lập, thẩm định, phê duyệt, công
bướu có thiết bị xạ trị; toàn quốc đạt tỷ lệ ít nhất 01 thiết bị xạ trị
bố, thực hiện, đánh giá và điều chỉnh quy hoạch phát triển, ứng
và 01 thiết bị xạ hình trên 01 triệu dân… Để đánh giá kết quả đạt
được so với mục tiêu, nhiệm vụ của Quy hoạch chi tiết trong lĩnh
dụng năng lượng nguyên tử.
vực xạ trị, đồng thời đánh giá nhu cầu phát triển trong giai đoạn
sau 2020, chúng tôi đã tiến hành điều tra thống kê về cơ sở hạ tầng
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Tiến hành điều tra thống kê về cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực
của các cơ sở xạ trị trong toàn quốc. Tổng hợp và phân tích số liệu
điều tra thống kê để đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu quy hoạch
đến năm 2020, xác định tỷ lệ sử dụng xạ trị thực tế ở Việt Nam,
thảo luận về phân bố địa lý và các tỷ số đặc trưng PT/LINAC, PT/
và nguồn nhân lực của các cơ sở xạ trị trong toàn quốc. Ngoài ra,
kết quả điều tra thống kê sẽ được sử dụng làm cơ sở để thảo luận
về phân bố địa lý, đánh giá và so sánh các tỷ số đặc trưng trong ứng
dụng công nghệ xạ trị ở Việt Nam. Các tỷ số đặc trưng [2, 3] bao
gồm tỷ số giữa số bệnh nhân và số thiết bị LINAC (PT/LINAC), tỷ
số giữa số bệnh nhân và số lượng bác sỹ xạ trị (PT/RO), tỷ số giữa RO, PT/ROMP, PT/RTT đối với các cơ sở ứng dụng công nghệ xạ
*Tác giả liên hệ: Email: [email protected]
63(6) 6.2021
68
Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ
trị ở Việt Nam. Tỷ lệ sử dụng xạ trị thực tế (ARUR) là tỷ lệ giữa
số bệnh nhân được xạ trị và tổng số ca ung thư mới trong năm của
một quốc gia, liên hệ chặt chẽ với tỷ số PT/LINAC và số thiết bị
xạ trị trên một triệu dân.
Analysis of radiotherapy
technology infrastructure
and human resources in Vietnam
Các số liệu được tổng hợp từ một số nguồn, bao gồm kết quả
điều tra thống kê ứng dụng công nghệ xạ trị năm 2019-2020, dữ
liệu của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), Cơ quan
Nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC), Hiệp hội Xạ trị và ung thư
học châu Âu (ESTRO) và các tài liệu liên quan. Số liệu điều tra
thống kê của Việt Nam và của các cơ quan chuyên môn quốc tế sẽ
được sử dụng làm cơ sở xây dựng mô hình dự báo nhu cầu phát
triển cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực xạ trị trong quy hoạch cho
giai đoạn 2020-2040. Trong mô hình dự báo, chúng tôi sử dụng
hàm mục tiêu là tỷ lệ sử dụng xạ trị thực tế kỳ vọng của Việt Nam
và các tham số PT/LINAC, RO/LINAC, ROMP/LINAC, RTT/
LINAC để dự báo số lượng thiết bị LINAC, số lượng bác sỹ, nhân
viên y vật lý, kỹ thuật viên xạ trị kỳ vọng cần thiết.
Anh Tuan Hoang*, Van Chien Dinh
Vietnam Atomic Energy Agency
Received 5 February 2021; accepted 1 April 2021
Abstract:
In this study, the authors synthesise and analyse the re-
sults of the 2019-2020 statistical survey on infrastructure
and human resources of radiotherapy centers in Viet-
nam, thereby assessing the results of the detailed plan-
ning on the development and application of radiation in
health to 2020, and at the same time assessing the actual
radiotherapy utilisation rate of Vietnam. Statistical sur-
vey results were analysed to discuss geographic distribu-
tion and evaluate the characteristic ratios of PT/LINAC,
PT/RO, PT/ROMP, PT/RTT of the radiotherapy centers
in the application of LINAC radiotherapy technology.
Research results show that although Vietnam has not
met its planned target by 2020, it has obtained many
achievements in developing a network of radiotherapy
centers nationwide and investing in LINAC radiothera-
py equipment reaching 0.73 LINAC/mil. people and the
actual radiotherapy utilisation rate (ARUR) being 20%
with application of advanced technologies such as IMRT,
VMAT, IGRT, SRS, SBRT, simulation devices such as
CT, MRI, PET/CT. The total number of radiotherapists,
medical physicists, and technicians nationwide are 318,
151, and 356 people, respectively. Radiotherapy centers
and specialists are highly concentrated in Hanoi and Ho
Chi Minh city with 67% of LINAC machines, respond-
ing to 80% of patients receiving cancer treatment by
LINAC annually. A model for forecasting radiotherapy
demand has been proposed and applied to determine the
expected number of LINAC machines, human resourc-
es needed for the period 2020-2040 to achieve the actual
radiotherapy utilisation rate of 25-35% of new cancer
cases annually. Accordingly, the number of LINAC ma-
chines needed by 2030 and 2040 will reach 1.1 LINAC/
million people and 1.7 LINAC/million people. The de-
mand for RO, ROMP, and RTT human resources is fore-
casted to increase at least by 12, 34, and 67% from 2021
to 2030, respectively, and 71% for all from 2031 to 2040.
Trong năm 2019, chúng tôi đã xây dựng phương án, mẫu phiếu
điều tra thống kê ứng dụng công nghệ xạ trị và gửi đến 40 cơ sở
xạ trị trên cả nước. Các chỉ tiêu điều tra thống kê trong mẫu phiếu
bao gồm số lượng thiết bị xạ trị LINAC, Tele-Co60, xạ trị áp sát,
xạ phẫu, số lượng bệnh nhân xạ trị, bác sỹ xạ trị, nhân viên y vật
lý xạ trị, kỹ thuật viên xạ trị trong các năm 2017, 2018, 2019 và
các thông tin liên quan của cơ sở xạ trị. Công tác điều tra thống
kê được tiến hành theo 2 đợt: đợt 1 từ tháng 8-12/2019, đợt 2 từ
tháng 8-12/2020. Năm 2020, 04 cơ sở xạ trị được thành lập mới,
nâng tổng số cơ sở xạ trị trong toàn quốc là 44 cơ sở. Đến tháng
12/2020, chúng tôi đã nhận được báo cáo cập nhật số liệu đến hết
tháng 12/2019 và thông tin về số lượng thiết bị, nhân lực, bệnh
nhân cập nhật đến tháng 9/2020 của 35/44 cơ sở xạ trị gửi về Cục
Năng lượng nguyên tử. Cần lưu ý rằng, mặc dù 09/44 cơ sở xạ trị
(bao gồm 04 cơ sở mới được thành lập) chưa có số liệu cập nhật
về nguồn nhân lực và số bệnh nhân xạ trị, nhưng không ảnh hưởng
đáng kể đến kết quả điều tra thống kê.
Kết quả và thảo luận
Kết quả điều tra thống kê
Kết quả điều tra thống kê về cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực
ứng dụng công nghệ xạ trị của các cơ sở xạ trị bao gồm các chủng
loại, số lượng thiết bị xạ trị, số lượng bác sỹ xạ trị (RO), nhân viên
y vật lý xạ trị (ROMP), kỹ thuật viên xạ trị (RTT).
Năm 2019, theo kết quả điều tra thống kê, Việt Nam có 40 cơ
sở xạ trị tại 40 bệnh viện với tổng số 95 thiết bị xạ trị và xạ phẫu,
trong đó: 66 thiết bị LINAC tại 33 cơ sở (07 cơ sở chưa có thiết bị
LINAC), 08 thiết bị xạ phẫu tại 06 cơ sở, 05 Tele-Co60 (thực tế chỉ
có 02 thiết bị đang được sử dụng) và 16 thiết bị áp sát tại một số
cơ sở. Đối với 35 cơ sở xạ trị có báo cáo nguồn nhân lực (87,5%),
tổng số RO, ROMP, RTT tương ứng là 276, 131 và 310 người,
trong đó, tổng số RO, ROMP, RTT của 28 cơ sở xạ trị LINAC
tương ứng là 250, 123 và 277 người. Đa số nhân viên y vật lý ở
các cơ sở xạ trị đã có kinh nghiệm trên 05 năm, tốt nghiệp cử nhân
hoặc thạc sỹ chuyên ngành vật lý hạt nhân, kỹ thuật hạt nhân từ các
trường đại học ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh. Một thực tế cần được
Keywords: actual radiotherapy utilisation rate, demand
projection, human resources, infrastructure, LINAC,
planning, radiotherapy.
Classification number: 2.11
69
63(6) 6.2021
Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ
70
80
60
40
20
0
nhấn mạnh đối với lĩnh vực y vật lý ở Việt Nam là chưa hình thành
một hệ thống đáp ứng thực sự chuẩn mực quốc tế về đào tạo văn
bằng ở trường đại học và đào tạo lâm sàng tại cơ sở xạ trị. Tổng
số bệnh nhân xạ trị LINAC của 28/33 cơ sở với 60 thiết bị LINAC
là 34.580 bệnh nhân (không tính số bệnh nhân xạ trị LINAC của
05 cơ sở còn lại với 06 thiết bị LINAC); tổng số bệnh nhân được
điều trị xạ phẫu, Tele-Co60, xạ trị áp sát là 4.687 bệnh nhân. Từ
số liệu của IARC [1] về số ca mắc ung thư mới ở Việt Nam trong
các năm 2018 và 2020, ước tính số ca mắc ung thư mới năm 2019
ở Việt Nam là 174.000 ca. Do đó, trong năm 2019, với tổng số
34.580 bệnh nhân được xạ trị LINAC, thì tỷ lệ ARUR ở Việt Nam
là 19,87%. Nếu tính thêm số lượng bệnh nhân được xạ trị LINAC
chưa thống kê được của 05 cơ sở xạ trị với 06 thiết bị LINAC tại
Hà Nội và TP Hồ Chí Minh thì tỷ lệ ARUR ở Việt Nam là 20%
hoặc cao hơn một ít.
45
44
40
26
23
2015
Cơ sở xạ trị
2018
2020
Thiết bị xạ trị LINAC
Hình 1. Số lượng cơ sở xạ trị và thiết bị LINAC ở Việt Nam giai đoạn
2015-2020.
Phân bố địa lý các cơ sở xạ trị
Phân bố địa lý và kết quả hoạt động xạ trị trong năm 2019 của
33 cơ sở xạ trị có thiết bị LINAC theo ba vùng Bắc Bộ, Trung
Bộ - Tây Nguyên, Nam Bộ và 03 thành phố Hà Nội, Đà Nẵng, TP
Hồ Chí Minh được trình bày trong bảng 1. Phân bố địa lý các cơ
sở xạ trị LINAC, thiết bị LINAC, số bệnh nhân xạ trị LINAC năm
2019 được thể hiện trong hình 2. Các cơ sở xạ trị LINAC chủ yếu
tập trung ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, đặc biệt là ở Bệnh
viện K Hà Nội, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Bệnh viện
Ung bướu TP Hồ Chí Minh, Bệnh viện Chợ Rẫy. Tổng số thiết bị
LINAC và số bệnh nhân xạ trị LINAC của Hà Nội và TP Hồ Chí
Minh tương ứng là 44 LINAC (66,7%), 27.416 bệnh nhân (79,3%).
Năm 2020, với việc đầu tư 04 thiết bị LINAC tại 04 cơ sở xạ
trị mới được thành lập, Việt Nam có tổng số 99 thiết bị xạ trị và
xạ phẫu tại 44 cơ sở xạ trị của 44 bệnh viện, trong đó: 70 thiết bị
LINAC tại 37 cơ sở, 08 thiết bị xạ phẫu, 05 Tele-Co60 và 16 thiết
bị áp sát. Dựa trên tổng số RO, ROMP, RTT của 28 cơ sở xạ trị
với 60 thiết bị LINAC tương ứng là 250, 123, 277 người, các hệ số
RO/LINAC, ROMP/LINAC và RTT/LINAC của Việt Nam được
đánh giá tương ứng là 4,2-2,0-4,6. Khi sử dụng các hệ số này để
ước tính số lượng nhân lực của 09 cơ sở xạ trị với 10 LINAC, thì
đến năm 2020, Việt Nam có tổng số RO, ROMP, RTT ước tính
tương ứng là 318, 151 và 356 người.
Bảng 1. Phân bố địa lý các cơ sở xạ trị LINAC năm 2019.
Số thiết
bị xạ trị
LINAC
Tỷ lệ thiết
bị LINAC
(%)
Số bệnh
Tỷ lệ bệnh nhân Dân số năm
Số cơ sở xạ
trị LINAC
Khu vực, thành phố
nhân xạ trị
LINAC*
xạ trị LINAC
(%)
2019 (triệu
người)
Bắc Bộ
16
8
32
12
22
66
25
5
48,5
18,2
33,3
100
17.961
4.114
51,94
11,9
35
26
35
96
8
Trung Bộ - Tây Nguyên
Nam Bộ
9
12.505
34.580
15.363
1.284
36,16
100
Sự phát triển ứng dụng công nghệ xạ trị
Tổng
33
10
3
Trong những năm qua, nhiều cơ sở xạ trị ở Việt Nam đã được
xây dựng, phát triển và đầu tư thiết bị xạ trị LINAC ứng dụng các
kỹ thuật tiên tiến như xạ trị điều biến liều (IMRT), xạ trị cung tròn
điều biến liều theo thể tích (VMAT), xạ trị theo hướng dẫn hình
ảnh (IGRT), xạ phẫu (SRS), xạ trị lập thể định vị thân (SBRT)
nhằm nâng cao chất lượng điều trị. Công nghệ Varian Truebeam
đã được ứng dụng từ năm 2018 tại các bệnh viện Trung ương Quân
đội 108, Ung bướu TP Hồ Chí Minh, Vinmec Central Park [4-
7]. Ngoài ra, nhiều thiết bị LINAC hiện đại đã được ứng dụng
như Elekta Versa HD tại Bệnh viện Chợ Rẫy (2018), Bệnh viện K
(2019); Elekta Infinity tại Bệnh viện K (2017); Elekta Synergy ở
Bệnh viện K (2018), Đa khoa Hợp Lực (2018), Ung bướu NghệAn
(2019), Ung bướu Bắc Giang (2020), Đa khoa Ninh Bình (2020),
Đa khoa Hưng Yên (2020), Hữu nghị Lạc Việt (2020)...
Hà Nội
37,9
7,6
44,43
3,71
Đà Nẵng
1,1
9
TP Hồ Chí Minh
Tổng
7
19
49
28,8
74,3
12.053
28.700
34,86
83,0
20
18,1
*Không tính 5 cơ sở xạ trị với 6 thiết bị LINAC chưa có số liệu cập nhật về số bệnh nhân.
40
30
20
10
0
32
22
17,961
16
12,505
12
9
8
4,114
Cơ sở xạ trị
LINAC
Thiết bị LINAC
Bệnh nhân
(x1.000)
Bắc Bộ
Trung Bộ-Tây Nguyên
Nam Bộ
Hình 2. Phân bố địa lý các cơ sở xạ trị LINAC, thiết bị LINAC, số bệnh
nhân xạ trị LINAC năm 2019.
Theo các tài liệu [5-7] và kết quả điều tra thống kê của chúng
tôi, sự phát triển số cơ sở xạ trị và thiết bị LINAC ở Việt Nam
được thể hiện trong hình 1. Giai đoạn 2015-2020 đánh dấu sự phát
triển nhanh chóng về số lượng các cơ sở xạ trị và số lượng thiết bị
LINAC được đầu tư, phản ánh việc đáp ứng nhu cầu điều trị ung
thư ngày càng tăng ở Việt Nam và kết quả thực hiện Quy hoạch
chi tiết. Trong giai đoạn 2015-2020, số cơ sở xạ trị tăng gần 2,0
lần (đạt tỷ lệ 35% tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương có cơ sở
ung bướu có thiết bị xạ trị so với mục tiêu 80% trong Quy hoạch
chi tiết), số lượng thiết bị LINAC tăng 2,7 lần (đạt tỷ lệ 0,73 thiết
bị LINAC/triệu dân so với mục tiêu tối thiểu 01 thiết bị xạ trị/triệu
dân vào năm 2020 của Quy hoạch chi tiết).
Tỷ số đặc trưng và phân loại các cơ sở xạ trị
Thông thường, giá trị của các tỷ số đặc trưng PT/LINAC, PT/
RO, PT/ROMP, PT/RTT nằm trong một khoảng nhất định. Khi tỷ
số này lớn hơn giới hạn thì cần xem xét việc bổ sung thiết bị, nhân
lực hoặc ngược lại khi tỷ số thấp hơn giới hạn có nghĩa là hiệu quả,
tính kinh tế của việc đầu tư trang thiết bị còn thấp, cần xem xét
nâng cao theo điều kiện thực tế. Trong nghiên cứu này, các tỷ số
đặc trưng lần đầu tiên được xác định cho 28 cơ sở xạ trị có thiết bị
LINAC và được trình bày trong bảng 2 và hình 3 (sắp xếp theo thứ
tự tăng dần của tỷ số PT/LINAC).
63(6) 6.2021
70
Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ
Bảng 2. Tỷ số đặc trưng PT/LINAC, PT/RO, PT/ROMP, PT/RTT của 28 cơ
sở xạ trị LINAC năm 2019.
< 400. Theo phân nhóm như trên, có 10 cơ sở thuộc nhóm I với 33
thiết bị LINAC, 6 cơ sở thuộc nhóm II với 10 thiết bị LINAC, 12 cơ
sở xạ trị thuộc nhóm III với 17 thiết bị LINAC. Trong bảng 2, danh
sách các cơ sở xạ trị thuộc các nhóm I, II, III tương ứng số thứ tự là
19-28, 13-18 và 1-12. Các tỷ số đặc trưng theo IAEA [2], ESTRO [3]
cùng với các tỷ số đặc trưng trong ứng dụng công nghệ xạ trị của Việt
Nam theo ba nhóm cơ sở xạ trị LINAC được trình bày trong bảng 3.
Số
PT/
LINAC
34
PT/
RO
17
PT/
ROMP
34
PT/
RTT
6
STT
Cơ sở xạ trị
LINAC
1
C Đà Nẵng
1
1
2
2
1
2
1
2
1
1
2
1
1
1
2
2
3
1
1
1
2
4
1
2
2
12
1
7
2
Đa khoa Hợp Lực
Đa khoa Đà Nẵng
Đa khoa Kiên Giang
Đa khoa Bắc Ninh
Ung bướu Nghệ An
Đa khoa Đồng Nai
Bãi Cháy
91
30
46
30
3
105
125
140
200
202
227
240
309
325
347
475
478
480
520
527
530
656
686
687
690
732
750
753
779
800
976
42
70
42
4
83
42
50
Bảng 3. Tỷ số đặc trưng của ba nhóm cơ sở xạ trị LINAC của Việt Nam,
IAEA, ESTRO.
5
35
47
47
6
67
80
44
7
51
67
101
41
PT/LINAC
PT/RO
250-300
200-250
53-394
53-198
17-174
PT/ROMP
300-400
450-500
183-667
173-265
34-309
PT/RTT
100-150
-
8
76
151
240
309
217
174
238
239
240
173
264
265
328
229
344
460
183
500
376
667
267
273
IAEA
400-500
9
Việt Nam - Thụy Điển (Uông Bí)
Đa khoa Bình Định
Quân y 103
120
155
81
120
77
ESTRO
400-450
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
Nhóm I (600-1.000)
Nhóm II (400-600)
Nhóm III (<400)
73-328
87-160
6-163
163
87
Đa khoa Thái Bình
19-8 Bộ Công an
Y học phóng xạ và U bướu Quân đội
Quân y 175
174
158
96
Việt Nam (2019)
95
96
Dựa trên số liệu được trình bày trong bảng 2 và bảng 3, có thể
đưa ra các đánh giá so sánh và khuyến cáo như sau:
96
160
87
Ung bướu Đà Nẵng
Trung ương Quân đội 108
Phổi Trung ương
Ung bướu Thanh Hóa
Hữu nghị Việt Tiệp
Trung ương Huế
Chợ Rẫy
116
198
53
105
177
328
137
137
120
73
Đối với nhóm I: 02 bệnh viện ở TP Hồ Chí Minh (Chợ Rẫy và
Nhân dân 115) có tỷ số PT/RO >300, cần sớm có kế hoạch đầu tư
thiết bị LINAC, bổ sung số lượng bác sỹ và nhân viên y vật lý xạ trị.
Bệnh viện K Hà Nội có tỷ số PT/ROMP là 667, vượt quá giới hạn
của IAEA và ESTRO, cần có kế hoạch bổ sung khoảng 30% nhân
viên y vật lý, đầu tư thiết bị LINAC. Các bệnh viện Ung bướu Hà
Nội, K Hà Nội, Nhân dân 115, Ung bướu Thanh Hóa có tỷ số PT/
RTT >150 theo khuyến cáo của IAEA, cần có kế hoạch kịp thời bổ
sung số lượng kỹ thuật viên xạ trị.
60
137
125
394
92
Đa khoa Phú Thọ
Nhân dân 115
375
188
267
53
214
167
183
133
137
Ung bướu Hà Nội
K Hà Nội
Bạch Mai
Đối với nhóm II: các tỷ số đặc trưng của 6 cơ sở xạ trị nhóm II
về cơ bản nằm trong giới hạn khuyến cáo của IAEA, chỉ có tỷ số PT/
RTT của Bệnh viện 175 là 160, vượt giới hạn 150.
Ung bướu TP Hồ Chí Minh
127
Đối với nhóm III: các tỷ số đặc trưng của 12 cơ sở xạ trị nhóm III
về cơ bản nằm trong giới hạn khuyến cáo của IAEA, ESTRO, chỉ có
tỷ số PT/RTT của Bệnh viện Quân y 103 là 163, vượt giới hạn 150.
Tuy nhiên, cần phải nâng cao năng lực điều trị, chất lượng nguồn
nhân lực và hiệu quả đầu tư đối với 12 cơ sở xạ trị thuộc nhóm III.
Mô hình dự báo nhu cầu LINAC và nguồn nhân lực
Việc lập kế hoạch quốc gia về phát triển ứng dụng công nghệ xạ
trị đòi hỏi phải có hiểu biết kỹ lưꢀng về hồ sơ dịch tễ học ung thư
của đất nước, tỷ lệ sử dụng xạ trị thực tế ARUR và dự báo tương lai
của dữ liệu này. Theo IAEA, tỷ lệ ARUR ở các nước có thu nhập
trung bình là 28% (9-46%) và tỷ tệ xạ trị tối ưu là 52% (47-56%)
[9]. Theo kết quả điều tra thống kê ứng dụng công nghệ xạ trị ở
Việt Nam được trình bày ở trên, tỷ lệ sử dụng xạ trị LINAC thực tế
ARUR ở Việt Nam là 20%, do đó chúng ta có thể kỳ vọng tỷ lệ này
sẽ tăng dần trong giai đoạn sau 2020.
Hình 3. Phân bố các tỷ số đặc trưng của 28 cơ sở xạ trị (năm 2019).
Theo tài liệu “Xạ trị ung thư: Đối mặt với thách thức toàn cầu”
[8], công suất xạ trị (PT/LINAC) của một thiết bị LINAC từ 400 đến
600 bệnh nhân/năm. Số lượng bệnh nhân được xạ trị của một thiết bị
LINAC trong một năm còn tùy thuộc vào cơ sở xạ trị cụ thể. Để tính
toán số lượng LINAC cần thiết cho một cơ sở xạ trị, vùng địa lý hoặc
cả nước cần thiết phải sử dụng số liệu PT/LINAC ở phạm vi thích
hợp. Tỷ số PT/LINAC năm 2019 của Việt Nam ước tính khoảng 540
bệnh nhân xạ trị/LINAC. Phân tích số liệu về các tỷ số đặc trưng của
28 cơ sở xạ trị được trình bày trong bảng 2 và hình 3, có thể phân
loại các cơ sở xạ trị ở Việt Nam theo ba nhóm sau đây: nhóm I: cơ
sở xạ trị có tỷ số PT/LINAC ≥ 600; nhóm II: cơ sở xạ trị với 400 ≤
tỷ số PT/LINAC < 600; nhóm III: cơ sở xạ trị có tỷ số PT/LINAC
Trong mô hình dự báo nhu cầu, chúng tôi đặt mục tiêu tỷ lệ
kỳ vọng ARUR sử dụng LINAC tương ứng là 25% cho giai đoạn
2020-2030 và 35% cho giai đoạn 2030-2040. Ngoài ra, theo báo
cáo của Bộ Y tế bang Victoria (Úc) [10], số lượng cần thiết RO,
ROMP, RTT tỷ lệ với số thiết bị LINAC kỳ vọng với các hệ số
tương ứng là 3,0-1,7-10,0. Theo kết quả điều tra thống kê, các hệ số
RO/LINAC, ROMP/LINAC và RTT/LINAC của Việt Nam đã được
xác định tương ứng là 4,2-2,0-4,6. Kết hợp kết quả nghiên cứu của
71
63(6) 6.2021
Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ
IAEA [8], Úc [10] và kết quả điều tra thống kê trong nghiên cứu
này, chúng tôi sử dụng các hệ số PT/LINAC, RO/LINAC, ROMP/
LINAC và RTT/LINAC trong mô hình đánh giá dự báo tương ứng là
500-3,0-1,7-5,0. Số lượng LINAC kỳ vọng cần thiết sẽ là (ARUR x
N)/500, trong đó N là số ca mắc ung thư mới hàng năm theo số liệu
của IARC. Kết quả đánh giá dự báo số lượng LINAC, RO, ROMP,
RTT cần thiết kỳ vọng tối thiểu cho giai đoạn đến 2040 được trình
bày trong bảng 4 (các số liệu có dấu (-) vào năm 2020 là số lượng
LINAC, ROMP, RTT thiếu hụt so với nhu cầu kỳ vọng).
được phân loại theo ba nhóm. Căn cứ các tỷ số đặc trưng PT/RO,
PT/ROMP, PT/RTT được xác định đối với 28 cơ sở xạ trị LINAC,
cần phải kịp thời bổ sung nhân lực và đầu tư thiết bị đối với các cơ
sở xạ trị thuộc Nhóm I với số bệnh nhân là 600-1.000/LINAC/năm
bởi vì các tỷ số đặc trưng của cơ sở xạ trị này vượt quá giới hạn
khuyến cáo của IAEA và ESTRO; cần phải nâng cao năng lực điều
trị, chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả đầu tư đối với 12 cơ sở xạ
trị thuộc nhóm III với số bệnh nhân dưới 400/LINAC/năm.
Cần thiết sử dụng tỷ lệ xạ trị thực tế ở Việt Nam làm mục tiêu
thay cho chỉ tiêu số thiết bị xạ trị trên một triệu dân trong việc xây
dựng Quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử thời
kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo Quyết định số 108/
QĐ-TTg ngày 22/01/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Với mục tiêu
sử dụng xạ trị thực tế đạt tỷ lệ 25-35% cho giai đoạn 2030-2040, số
lượng thiết bị LINAC cần thiết đến năm 2030 và 2040 được dự báo
theo mô hình chúng tôi đề xuất là 119 và 204 thiết bị, tương ứng tỷ
lệ 1,1 LINAC/triệu dân và 1,7 LINAC/triệu dân. Nhu cầu nguồn
nhân lực bác sỹ xạ trị, nhân viên y vật lý và kỹ thuật viên dự báo
tăng tương ứng tối thiểu 12, 34 và 67% từ năm 2021 đến năm 2030
và 71% trong giai đoạn 2031-2040.
Bảng 4. Dự báo nhu cầu LINAC và nguồn nhân lực xạ trị đến năm 2040.
Số ca ung thư
Số ca điều trị
kỳ vọng
Số
Năm
RO ROMP RTT
mới [1]
LINAC
2020 183.000
2025 209.000
2030 237.000
2035 265.000
2040 291.000
45.750
52.250
59.250
92.750
101.850
92 (-22)
105
276 156 (-5) 460 (-104)
315 179
357 202
558 316
612 347
525
119
595
186
930
204
1.020
Với giả thiết tỷ lệ tăng trưởng dân số của Việt Nam là 1,16%/
năm, thì đến năm 2030 và năm 2040, số lượng LINAC/triệu dân dự
báo tương ứng đạt tỷ lệ 1,1 LINAC/triệu dân và 1,7 LINAC/triệu
dân. Nhu cầu nguồn nhân lực RO, ROMP, RTT được dự báo tăng
tương ứng tối thiểu 12, 34 và 67% từ năm 2021 đến năm 2030 và
71% trong giai đoạn 2031-2040.
LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu này được thực hiện trong khuôn khổ Đề tài “Xây
dựng bản đồ công nghệ bức xạ và đồng vị phóng xạ trong lĩnh vực
y tế, công nghiệp” mã số ĐM.48.DA/19, thuộc Chương trình Đổi
mới công nghệ quốc gia. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ
nhiệm và các cơ quan quản lý Chương trình, các bệnh viện có cơ sở
xạ trị đã hỗ trợ thực hiện nghiên cứu này.
Như vậy, sử dụng tỷ lệ xạ trị thực tế ở Việt Nam làm mục tiêu
thay cho chỉ tiêu số thiết bị xạ trị trên một triệu dân trong quy hoạch
phát triển ứng dụng công nghệ xạ trị cho phép xác định các nguồn
lực và giải pháp phát triển cần thiết một cách đồng bộ. Ngoài việc
đầu tư thiết bị LINAC ứng dụng các kỹ thuật hiện đại như IMRT,
IGRT, VMAT, SRS, SBRT, cần thiết tiến hành nghiên cứu khả thi
các dự án đầu tư công nghệ hiện đại như MRI/LINAC, xạ trị proton,
xạ trị BNCT ứng dụng chùm nơtron từ lò phản ứng nghiên cứu hoặc
thiết bị gia tốc. Để khai thác hiệu quả thiết bị xạ trị hiện đại, cần phải
đồng thời đầu tư thiết bị mô phỏng như CT mô phỏng, MRI, PET/
CT, PET/MRI và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua
một chương trình đào tạo quốc gia trong lĩnh vực xạ trị.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
unit=10000.
[2] International Atomic Energy Agency (2010), “Planning national radiotherapy
services: a practical tool”, IAEA Human Health Series, 14, pp.31-58.
[3] B. Slotman, B. Cottier, S. Bentzen, et al. (2005), “Overview of national
guidelines for infrastructure and staffing of radiotherapy. ESTRO-QUARTS: work
package 1”, Radiotherapy and Oncology, 75, p.6.
[4] Đặng Huy Quốc Thịnh, Nguyễn Trung Hiếu (2018), “Ứng dụng xạ trị kỹ thuật
cao bằng máy Truebeam-Varian tại Bệnh viện Ung bướu TP Hồ Chí Minh”, Hội thảo
khoa học quốc gia lần thứ III ứng dụng năng lượng nguyên tử phục vụ phát triển kinh
tế - xã hội, Cục Năng lượng nguyên tử, tr.71-75.
Kết luận
Lần đầu tiên tiến hành điều tra thống kê và tổng hợp, phân tích
số liệu về cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực của các cơ sở xạ trị ở
Việt Nam, đã ghi nhận sự tăng trưởng đáng kể về số cơ sở xạ trị, số
thiết bị xạ trị LINAC trong giai đoạn thực hiện Quy hoạch chi tiết
phát triển, ứng dụng bức xạ trong y tế đến năm 2020 theo Quyết
định của Thủ tướng Chính phủ. Đến năm 2020, Việt Nam đã đầu
tư, phát triển 44 cơ sở xạ trị, đạt tỷ lệ 0,73 LINAC/triệu dân và
35% tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương có cơ sở ung bướu có
thiết bị xạ trị. Tổng số bác sỹ, nhân viên y vật lý, kỹ thuật viên xạ
trị trong toàn quốc tương ứng là 318, 151 và 356 người. Có sự tập
trung cao đội ngũ chuyên gia, thiết bị LINAC (67%) và bệnh nhân
xạ trị LINAC (80%) ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Năm 2019, với
tổng số 34.580 bệnh nhân xạ trị LINAC, tỷ lệ sử dụng xạ trị thực tế
(ARUR) ứng dụng công nghệ LINAC ở Việt Nam đạt khoảng 20%.
[5] Hoàng Anh Tuấn (2015), “Tổng hợp kết quả giai đoạn 2006-2015 thực hiện
Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2020”, Tuyển
tập báo cáo 10 năm thực hiện Chiến lược Ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích
hòa bình đến năm 2020 (giai đoạn 2006-2015), Cục Năng lượng nguyên tử, tr.11-28.
[6] Mai Trọng Khoa (2015), “Tình hình ứng dụng năng lượng bức xạ ion hóa trong
ngành y tế Việt Nam”, Tuyển tập báo cáo 10 năm thực hiện Chiến lược Ứng dụng năng
lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2020 (giai đoạn 2006-2015), Cục Năng
lượng nguyên tử, tr.77-83.
[7] Hoàng Anh Tuấn (2018), “Tổng quan về ứng dụng năng lượng nguyên tử phục
vụ phát triển kinh tế - xã hội”, Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ III ứng dụng năng
lượng nguyên tử phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, Cục Năng lượng nguyên tử, tr.7-11.
[8] M. Barton, M. Williams (2017), “Assessing needs and demand for radiotherapy”,
Radiotherapy in cancer care: facing the global challenge, IAEA, pp.43-57.
[9] E. Rosenblatt, et al. (2018), “Radiotherapy utilization in developing countries:
an IAEA study”, Radiother Oncol, 128, pp.400-405.
[10] Hua Zhang (2010), Victorian Medical Radiations: Workforce Supply and
Demand Projections (2010-2030), Published by the Modelling, GIS and Planning
Products Unit, Victorian Government, Department of Health, Melbourne, Victoria,
Australia, pp.9.
Nhờ việc xác định tỷ số đặc trưng giữa số lượng bệnh nhân trên
một thiết bị LINAC (PT/LINAC), các cơ sở xạ trị của Việt Nam
63(6) 6.2021
72
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực công nghệ xạ trị ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phan_tich_co_so_ha_tang_va_nguon_nhan_luc_cong_nghe_xa_tri_o.pdf

