Nghiên cứu mô hình cơ học và tính toán sự ổn định của thiết bị phát điện từ năng lượng sóng biển

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NĂNG LƯỢNG - TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC  
(ISSN: 1859 - 4557)  
NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH CƠ HỌC VÀ TÍNH TOÁN SỰ ỔN ĐỊNH  
CỦA THIẾT BỊ PHÁT ĐIỆN TỪ NĂNG LƯỢNG SÓNG BIỂN  
STUDY ON THE MECHANICAL MODEL AND CALCULATING STABILITY  
OF AN ELECTRICAL GENERATOR FROM SEA WAVE ENERGY  
Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Đông Anh  
Viện Cơ học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam  
Ngày nhận bài: 27/05/2020, Ngày chấp nhận đăng: 16/03/2021, Phản biện: TS. Nguyễn Quốc Tuấn  
Tóm tắt:  
Báo cáo đưa ra các kết quả đạt được trong nghiên cứu thiết lập mô hình cơ học về thiết bị chuyển  
đổi năng lượng sóng biển sang năng lượng điện. Mô hình thiết bị hoạt động theo phương thẳng  
đứng của sóng biển, phao thả nổi trên mặt biển và truyền năng lượng nhận được từ sóng biển đến  
môtơ phát điện được gắn cố định ở đáy biển thông qua dây cáp. Các tính toán đưa ra một cấu trúc  
mô hình thiết bị được nghiên cứu và thiết lập, chỉ ra vùng hoạt động ổn định và mất ổn định của mô  
hình, phạm vi dao động và xác định mức công suất thiết bị nhận được theo các điều kiện sóng biển  
thực tế Việt Nam.  
Từ khóa:  
Năng lượng tái tạo, năng lượng sóng biển, máy phát điện, chuyển đổi năng lượng.  
Abstract:  
This paper presents some results achieved in study on the mechanical model of device for converting  
sea wave energy into electrical energy. The device model works in the vertical direction of sea  
waves. The buoy of device floats on the sea surface to receive the energy from sea waves, it is  
directly connected via a rope to the electrical generating motor fixed on the seabed. The calculations  
give the main structure of device model to be studied and established, indicating the stable and  
unstable operating area of the model, the range of oscillation and determining the mechanical power  
level of device received according to Vietnam’s actual sea wave conditions.  
Keywords:  
Renewable energy, sea wave energy, electrical generator, power conversion.  
1. GIỚI THIỆU CHUNG  
Trên thế giới, các mô hình thiết bị phát chế tạo theo nhiều phương pháp và cách  
thức hoạt động khác nhau, nhưng chủ yếu  
Điển, Úc, Ý,... Các mô hình thiết bị được  
điện từ năng lượng sóng biển đã đang  
được nghiên cứu và phát triển ở các nước được chia thành hai loại chính là thiết bị  
Anh, Mỹ, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Thụy hoạt động nổi trên mặt biển và thiết bị lắp  
24  
Số 25  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NĂNG LƯỢNG - TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC  
(ISSN: 1859 - 4557)  
đặt cố định ở đáy biển, tiêu biểu như Nghiên cứu cơ khí đã thực hiện đề tài  
[1-9]:  
KC.05-17/06-10, nghiên cứu thiết kế chế  
tạo thiết bị phát điện sử dụng năng lượng  
sóng biển. Thiết bị được chế tạo gồm năm  
khoang phao, trong đó ba khoang để thu  
nhận năng lượng sóng và hai khoang chứa  
môtơ phát điện, các khoang được kết nối  
bằng các bộ khớp thủy lực. Với công suất  
phát điện được tính toán từ 5÷10 kW [10].  
Thiết bị phát điện lắp đặt cố định ở đáy  
biển được nghiên cứu, chế tạo với phần  
phát điện của thiết bị gắn cố định ở đáy  
biển kết nối với phao thả nổi trên mặt biển  
qua dây cáp được định hướng chuyển  
động lên xuống theo phương thẳng đứng.  
Công suất phát điện của thiết bị được chế  
tạo vào khoảng 10 kW [1-6].  
Ngoài ra, giữa Trường Đại học Bách khoa  
Hà Nội và Viện Nghiên cứu cơ khí đã  
thực hiện nghiên cứu tính toán động lực  
học hệ thống phát điện bằng năng lượng  
sóng. Các tác giả tính toán thiết kế mô  
hình thiết bị được đặt trên một trụ đứng  
và gắn cố định trên bề mặt sóng. Năng  
lượng sóng biển từ phao nhận được thông  
qua hệ thống thủy lực truyền dẫn đẩy  
quay môtơ phát điện và phát ra điện năng,  
công suất phát điện được tính toán ở mức  
dưới 0,5 kW [11]; Tại Viện Hàn lâm  
Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã  
Thiết bị phát điện thả nổi trên mặt biển  
với công suất phát điện từ 10÷750 kW,  
chủ yếu gồm các loại: Thiết bị phát điện  
dạng phao trụ nổi sử dụng môtơ phát điện  
loại chuyển động tịnh tiến lên xuống theo  
phương thẳng đứng và phát điện trực tiếp  
[5-7]; thiết bị phát điện dạng rắn biển  
(Pelamis) được chế tạo gồm bốn khoang  
phao thả nổi trên mặt biển, các khoang  
phao được kết nối với nhau bởi các bộ  
khớp thủy lực. Dưới tác động của sóng  
biển, hệ thống thủy lực hoạt động đẩy dầu  
nạp vào bình được tích áp. Dầu từ bình thực hiện nghiên cứu hai mô hình thiết bị  
tích áp được điều chỉnh cấp ra với dòng  
năng lượng dầu có áp suất cao và lưu  
lượng ổn định được truyền dẫn đẩy quay  
các môtơ phát điện [5-7]; Ngoài ra, tại  
Nhật Bản, các nhà khoa học đã đưa ra mô  
hình thiết bị phát điện lắp đặt cố định trên  
mặt biển. Cấu trúc của thiết bị gồm phao  
chuyển động lên xuống theo phương  
thẳng đứng và các cơ cấu truyền động để  
kéo môtơ phát điện hoạt động và phát ra  
điện năng [6,8,9].  
gồm: Thiết bị hoạt động nổi trên mặt biển  
được chế tạo gồm hai khoang chứa trên  
dưới, khoang ở trên nhận nước biển đổ  
vào trong nửa chu kỳ sóng tiến từ bụng  
sóng đến đỉnh sóng và đồng thời khoang  
dưới xả nước đẩy quay môtơ phát điện  
[12]. Thiết bị gắn cố định ở đáy biển được  
xây dựng gồm hai phần chính, phần phát  
điện được gắn cố định ở đáy biển sử dụng  
một môtơ phát điện ba pha loại nam châm  
vĩnh cửu và hoạt động theo phương thẳng  
đứng, phao của thiết bị được thả nổi trên  
mặt biển và truyền năng lượng sóng biển  
nhận được xuống phần phát điện ở đáy  
Tại Việt Nam, đã có một số đơn vị thực  
hiện nghiên cứu chế tạo thiết bị phát điện  
từ năng lượng sóng biển như: Viện  
Số 25  
25  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NĂNG LƯỢNG - TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC  
(ISSN: 1859 - 4557)  
biển thông qua dây cáp [13,14].  
ngoài khơi đạt từ 6÷9 m [15,16]. Do vậy,  
để xây dựng một mô hình thiết bị phù hợp  
và hiệu quả theo điều kiện thực tế biển  
Việt Nam. Mô hình được nghiên cứu hoạt  
động theo phương thẳng đứng, phần phát  
điện của thiết bị được gắn cố định ở đáy  
biển kết nối với phao thả nổi trên mặt  
biển.  
Mặt khác, qua các số liệu quan trắc và  
thống kê, trung bình mỗi năm Việt Nam  
thường hứng chịu khoảng 10 cơn bão, đây  
là mối gây nguy hại trực tiếp cho các thiết  
bị phát điện từ năng lượng sóng biển hoạt  
động ở biển. Các số liệu khảo sát cho thấy  
độ cao sóng biển ở ven bờ trong khoảng  
0,6÷1,4 m với chu kỳ sóng từ 2÷8 giây, ở  
ngoài khơi độ cao sóng từ 1,2÷2 m với  
chu kỳ từ 6÷8 giây. Đặc biệt khi biển  
động độ cao sóng ven bờ đạt từ 3,5÷5 m,  
Phân tích xây dựng mô hình thiết bị:  
Cấu trúc mô hình thiết bị phát điện từ  
năng lượng sóng biển được xây dựng như  
hình 1.  
Sóng biển  
Phao  
Giá định hướng trục chuyển động  
theo phương thẳng đứng  
Piston  
Thanh răng  
Bánh răng  
Tăng tốc  
chuyển động  
Tăng tốc  
chuyển động  
Điện áp cấp ra  
Môtơ  
Môtơ  
phát 1  
phát 2  
Lò xo  
Vỏ thiết bị  
Tích hợp và ổn định điện áp  
Hình 1. Sơ đồ nguyên lý mô hình thiết bị phát điện từ năng lượng sóng biển  
26  
Số 25  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NĂNG LƯỢNG - TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC  
(ISSN: 1859 - 4557)  
Trong đó, các bộ phận chính của mô hình dưới tác dụng của sóng biển được đưa ra  
thiết bị được thiết lập gồm: phao dạng trụ ở hình 2. Trong đó, hình 2a là mô hình cơ  
tròn; dây cáp; các cơ cấu ghép nối thanh học của thiết bị được thiết lập sử dụng hai  
răng - piston; các bộ tăng tốc chuyển động môtơ phát và hình 2b là mô hình tương  
quay để chuyển đổi các chuyển động quay đương.  
chậm ban đầu nhận được từ sóng biển  
sang chuyển động quay nhanh tại môtơ  
phát điện, bộ tăng tốc chuyển động một  
đầu ghép nối với thanh răng và đầu còn  
lại ghép nối với môtơ phát điện; lò xo  
chuyển động một đầu được ghép nối với  
thanh răng, đầu còn lại gắn xuống chân đế  
thiết bị, chức năng của lò xo được thiết kế  
để kéo trục thanh răng - piston chuyển  
động đi xuống và môtơ phát điện hoạt  
động khi sóng biến đổi từ đỉnh sóng  
xuống bụng sóng. Trong mô hình tác giả  
đưa vào sử dụng hai môtơ phát điện,  
nhằm tối ưu về thiết kế lắp đặt và thuận  
lợi trong việc lựa chọn loại môtơ phát  
điện hiệu suất cao.  
zS(t)  
m
z(t)  
k1  
γ1 k2  
γ2  
(a) Mô hình cơ học của thiết bị  
sử dụng hai môtơ phát  
zS(t)  
m
Trong nghiên cứu này, trước tiên tác giả  
thu thập và phân tích số liệu về sóng biển,  
tiếp theo thiết lập mô hình thiết bị, thực  
hiện các tính toán mô phỏng số nhằm xác  
định vùng hoạt động ổn định, phạm vi dao  
động của hệ theo các thông số mô hình và  
mức công suất thiết bị nhận được theo các  
điều kiện thực tế sóng biển Việt Nam.  
z(t)  
k
γ
2. THIẾT LẬP PHƯƠNG TRÌNH  
CHUYỂN ĐỘNG  
(b) Mô hình tương đương  
Hình 2. Mô hình cơ học thiết bị phát điện  
từ năng lượng sóng biển  
Từ sơ đồ nguyên lý của mô hình được xây  
dựng (hình 1), mô hình cơ học của thiết bị  
phát điện từ năng lượng sóng biển được  
quy về một vật khối lượng m chuyển  
Trong đó, các hệ số cản và đàn hồi của lò  
xo tương ứng: γ = γ1 + γ2; k = k1 + k2, ở  
đây γ1 là hệ số cản của môtơ phát 1, γ2 là  
động lên xuống theo phương thẳng đứng hệ số cản của môtơ phát 2, k1 là hệ số đàn  
Số 25  
27  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NĂNG LƯỢNG - TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC  
(ISSN: 1859 - 4557)  
hồi lò xo 1 và k2 là hệ số đàn hồi lò xo 2.  
cản điện γem của môtơ phát điện nên được  
bỏ qua. Việc bỏ qua hệ số cản nhớt của  
nước biển cũng tương đồng theo các  
nghiên cứu ở các công trình [3,4]. Do vậy,  
phương trình (1) được viết lại có dạng:  
Phương trình chuyển động của mô hình  
được thiết lập quy về một vật là phao  
được ghép nối gắn chặt với các trục thanh  
răng – piston chuyển động lên xuống theo  
phương thẳng đứng z, được viết như sau:  
d2z  
dz  
dt  
m
gSb(zs z) mg em  
2
d2z  
dz  
dt  
dt  
(2)  
m
gSb(zs z) mg   
kL(z z0) kN(z z0)3.  
2
dt  
(1)  
kL(z z0) k N(z z0)3.  
3. TÍNH TOÁN SỰ HOẠT ĐỘNG ỔN  
ĐỊNH CỦA MÔ HÌNH THIẾT BỊ  
Các thành phần trong phương trình (1)  
gồm: m là khối lượng phao và các thanh  
răng – piston, trong đó thành phần nước  
kèm tác động lên mô hình được bỏ qua  
[3,4]; lực acsimet tác dụng lên phao  
ρgSb(zs - z) với ρ là khối lượng riêng nước  
biển, g là gia tốc trọng trường, diện tích  
của đáy phao là Sb=πr2 với r là bán kính,  
zs là khoảng cách từ đáy biển đến bề mặt  
sóng biển, z là chuyển động của phao và  
thanh răng - piston (là khoảng cách từ đáy  
biển đến đáy phao); mg là trọng lượng của  
phao và các thanh răng - piston; lực cản  
dz  
Để tính toán sự hoạt động ổn định của mô  
hình, ta khảo sát dao động của hệ trong  
trường hợp cộng hưởng. Từ phương trình  
chuyển động (2), ta thực hiện đổi biến  
z – z0 = x. Phương trình chuyển động (2)  
của hệ được viết lại dưới dạng:  
d2x  
dt2  
m
gSb(zs z0 x) mg  
(3)  
dx  
dt  
em  
kLx k Nx3.  
Xét hàm sóng có dạng:  
zs Acos(t) z0.  
với γ là hệ số cản; lực đàn hồi của lò  
gSb k  
Đặt:  
kN  
m
em  
dt  
2   
L ;   
; c   
;
xo kL(z - z0) với kL là hệ số đàn hồi của lò  
xo, kN là hệ số phi tuyến của lò xo, z0 là  
khoảng cách từ đáy biển đến đáy phao khi  
mặt biển tĩnh.  
m
m
gSb A  
Thay vào biểu thức (3), ta  
.
B   
m
được:  
d2x  
dx  
Trong tính toán hệ số cản γ được xét gồm:  
γ = γf + γem, với γf là hệ số cản nhớt của  
nước biển, γem là hệ số cản điện của môtơ  
phát để chuyển đổi từ năng lượng cơ sang  
năng lượng điện. Theo các tài liệu đã  
công bố về độ cản nhớt của nước biển  
[17,18], tác giả nhận thấy hệ số cản nhớt  
γf của nước biển sẽ là rất nhỏ so với hệ số  
2x  c x3 Bcos(t) g.  
2
dt  
dt  
(4)  
Trong trường hợp gần cộng hưởng  
2 2 ,thực hiện biến đổi ta được:  
d2x  
2
  x f (x, x,t),  
(5)  
2
dt  
28  
Số 25  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NĂNG LƯỢNG - TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC  
(ISSN: 1859 - 4557)  
với ký hiệu:  
Áp dụng phương pháp trung bình hóa của  
cơ học phi tuyến, hệ phương trình (8)  
được viết dưới dạng:  
dx  
3
f (x, x,t)  c x x Bcos(t) g.  
dt  
Thực hiện biến đổi phương trình vi phân  
(5) về dạng chuẩn Lagrange-Bogoliubov,  
sử dụng phép biến đổi [19,20]:  
2  
da  
dt  
1
1
   
F(a,,)sin d,  
0
2  
2  
d  
1
1
a
   
F(a,,)cos d.  
0
x acos(t ) x0.  
(6)  
dt  
2  
Thực hiện tính toán, ta có hệ phương trình  
(9)  
a
xác định  
và anhư sau:  
Thực hiện tính toán ta được:  
f (acos(t ) x0 ,  
da  
dt  
1
1
   
ca  Bsin,  
a   
asin(t ),  
sin(t ),  
2  
2
d  
3
t)   x0  
1   
3
a
   
a a 3ax 2 Bcos.  
0
(7)  
2  
f (acos(t ) x0 ,  
dt  
4
1
a   
asin(t ),  
cos(t ).  
Cho a ta được các công thức  
xác định nghiệm dừng:  
2
t)   x0  
Để xác định nghiệm của hệ phương trình  
(7), ta thực hiện phép đổi biến:  
  t . Thực hiện biến đổi, ta được:  
Bsin0  ca0,  
3
2   
Bcos  a02 3x0 a .  
0
0
4
casin a cos  
(10)  
3
x0 (a cos  x0 )  
da  
dt  
1
   
sin ,  
Giải hệ phương trình (10), ta nhận được  
phương trình hàm biên độ - tần số như  
sau:  
  B coscos  
2
Bsin sin  x0 g  
casin a cos  
3
B2  
2
2 2 a02 3x0   
c22 .  
3
2
x0 (a cos  x0 )  
d  
4
1
a0  
a
   
cos.  
  B coscos  
dt  
(11)  
2
Bsin sin  x0 g  
Hình 3 đưa ra các đồ thị biểu diễn sự phụ  
thuộc giữa biên độ a0 theo tần số Ω2 với  
các thông số được lấy như sau: m = 25 kg;  
r = 0,35 m; g = 9,81 m/s2; x0 = 0,4 m;  
kL = 1900 N/m và kN = 700 N/m3, ở các  
trường hợp hệ số cản γem khác nhau tại  
sóng biển có biên độ 0,5 m.  
(8)  
Ta đặt:  
F(a,,) casinacosx0  
(acos  x0)3 Bcoscos  
Bsinsin 2x0 g.  
Số 25  
29  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NĂNG LƯỢNG - TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC  
(ISSN: 1859 - 4557)  
tần số với hệ số cản γem = 40 trên hình 3  
và γem = 80 trên hình 4, cho thấy khi Ω2  
tăng, biên độ dao động dừng a0 nhận các  
giá trị trên nhánh đi từ điểm (I) qua điểm  
(II) đến điểm (III). Tại điểm (III) xảy ra  
hiện tượng mất ổn định, biên độ dao động  
tụt xuống điểm (V), rồi nhận các giá trị  
trên nhánh đi từ điểm (V) sang điểm (VI).  
Khi Ω2 giảm, biên độ dao động dừng nhận  
các giá trị trên nhánh đi từ điểm (VI) qua  
điểm (V) đến điểm (IV). Tại điểm (IV) có  
hiện tượng nhảy vọt biên độ dao động từ  
điểm (IV) lên điểm (II), rồi biên độ nhận  
các giá trị trên nhánh đi từ điểm (II) về  
phía điểm (I). Do vậy, nhìn chung vùng  
dao động ổn định là nhánh trong vùng tần  
số từ điểm (I) đến điểm (II) và vùng tần  
số từ điểm (V) đến điểm (VI). Trong vùng  
tần số đi từ điểm (II) đến điểm (III) và  
giảm từ điểm (V) về điểm (IV), dao động  
của hệ có nhảy mức với biên độ dao động  
không ổn định, đây là vùng nguy hiểm  
cần tránh khi tính toán chế tạo thiết bị  
hoạt động. Mặt khác, nếu có đủ số liệu về  
điều kiện sóng biển thực tế tại các vùng  
biển có biên độ sóng lớn, ta có thể khai  
thác mô hình hoạt động ở vùng tần số ổn  
định gần điểm (II) để biên độ dao động  
của hệ nhận được là lớn nhất và năng  
lượng hệ nhận được từ sóng biển là lớn  
nhất. Do vậy, để thiết bị hoạt được ổn  
định và phù hợp với điều kiện thực tế của  
sóng biển, thiết bị nên được lựa chọn chế  
tạo hoạt động trong vùng tần số ở miền  
(I), các giá trị tần số trong miền (I) là đều  
an toàn so với phạm vi dao động của sóng  
biển thực tế Việt Nam.  
Hình 3. Đồ thị đường cong cộng hưởng biên độ  
theo tần số Ω2, với A = 0,5 m  
Hình 4 đưa ra các đồ thị biểu diễn sự phụ  
thuộc giữa biên độ a0 theo tần số Ω2 với  
các thông số mô hình: m = 35 kg; r = 0,45  
m; g = 9,81 m/s2; x0 = 0,5 m; kL = 2200  
N/m và kN = 2000 N/m3, các hệ số cản γem  
thay đổi tại sóng biển có biên độ 0,75 m.  
Hình 4. Đồ thị đường cong cộng hưởng biên độ  
theo tần số Ω2, với A = 0,75 m  
Từ biểu thức (11) và các đồ thị trên cho  
thấy, với từng hệ số cản γem, dạng đường  
cong biên độ theo tần số Ω2 của hệ là  
khác nhau và phức tạp. Cụ thể, trong  
trường hợp đồ thị đường cong biên độ -  
30  
Số 25  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NĂNG LƯỢNG - TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC  
(ISSN: 1859 - 4557)  
4. KHẢO SÁT SỰ HOẠT ĐỘNG CỦA  
THIẾT BỊ VÀ THẢO LUẬN  
Các kết quả tính toán cho phép xác định  
biên độ dao động của phao, quỹ đạo pha  
và đồ thị công suất cơ hệ P của thiết bị  
nhận được từ năng lượng sóng biển. Hình  
5 đưa ra đồ thị về chuyển động của phao  
và sóng biển theo thời gian.  
Trong tính toán mức công suất cơ hệ P  
của mô hình thiết bị nhận được từ năng  
lượng sóng biển được xác định theo biểu  
thức [1,2]:  
1  
2
P   
em z(t) dt,  
(12)  
0
với τ là khoảng thời gian được xét.  
Trong thực tế sự biến đổi của sóng biển là  
phức tạp, các số liệu về sóng biển thường  
được xác định từ quan trắc và khảo sát  
thực nghiệm. Giá trị độ cao sóng biển  
được sử dụng trong các tính toán là mức  
độ cao sóng trung bình, tần số của sóng  
biển được sử dụng là tần số sóng xuất  
hiện với tần suất liên tục trong thời gian  
dài. Do vậy, hàm sóng biển tác dụng lên  
mô hình được xét dưới dạng sóng tuyến  
tính chuyển động theo phương thẳng đứng  
z có dạng:  
Hình 5. Chuyển động của phao và sóng biển  
theo thời gian  
Từ kết quả đồ thị nhận được cho thấy  
chuyển động của phao luôn trễ pha so với  
chuyển động của sóng biển là 33,93o. Với  
biên độ của sóng biển là 0,75 m, biên độ  
dao động của hệ phao ghép nối thanh răng  
- piston là 0,418 m.  
(13)  
zs Asin(t) z0,  
Trong mô phỏng số các thông số mô hình  
được xác định với: A = 0,75 m; m = 30  
kg; Sb = 0,5027 m2; γem = 3400 Ns/m; kL =  
2200 N/m; kN = 2000 N/m3; z0 = 5,5 m và  
ω = 1,47 rad/s (là tần số sóng biển xuất  
hiện với tần suất lớn tại biển Hòn Dấu –  
Hải Phòng đã được khảo sát đo đạc thực  
tế [13]). Các thông số của mô hình đã  
được tác giả tính toán tối ưu với kết quả  
nhận được ở các công trình [13,14,21].  
Các số liệu về biên độ và chu kỳ sóng  
được tính toán cho biển Hòn Dấu – Hải  
Phòng để tiến tới sau khi chế tạo sẽ đưa  
thiết bị vào sử dụng tại biển Hòn Dấu.  
Hình 6 đưa ra đồ thị quỹ đạo pha mô hình  
chuyển động dưới tác dụng của sóng biển.  
Hình 6. Quỹ đạo pha  
Số 25  
31  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NĂNG LƯỢNG - TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC  
(ISSN: 1859 - 4557)  
Từ đồ thị nhận được cho thấy quỹ đạo đồ thị đường cong công suất nhận được  
chuyển động của mô hình thiết bị có dạng cho ta định lượng mức công suất điện  
đường elip khép kín. Do vậy, mô hình phát ra của thiết bị khi hoạt động thực tế  
thiết bị hoạt động ổn định dưới tác dụng tại biển.  
của sóng biển, phạm vi dao động xung  
Để khảo sát sự ảnh hưởng của thành phần  
quanh vị trí cân bằng ở mặt nước biển  
phi tuyến trong mô hình, tác giả tính toán  
5,5 m (với hệ tọa độ được gắn ở đáy biển).  
mức công suất cơ hệ của thiết bị nhận  
Hình 7 đưa ra đồ thị xác định mức công được theo biên độ sóng biển tại tần số  
suất cơ hệ của thiết bị nhận được từ năng sóng biển 1,47 rad/s (xem hình 8). Trong  
lượng sóng biển tại các chu kỳ sóng đó, hệ số phi tuyến kN được lấy với các  
T1 = 3,5 giây; T2 = 4,0 giây; T3 = 4,26 giây giá trị kN = 0 (xét hệ tuyến tính); kN = 700  
và T4 = 4,5 giây theo biên độ sóng biển.  
N/m3; kN = 1400 N/m3 và kN = 2000 N/m3.  
Các kết quả nhận được cho thấy ở biên độ  
sóng nhỏ, chẳng hạn ở biên độ sóng 0,3  
m, giá trị công suất chênh lệch giữa hai  
trường hợp khi xét hệ tuyến tính và phi  
tuyến với kN = 2000 N/m3 là rất nhỏ. Với  
sóng biển có biên độ 0,75 m, giá trị công  
suất chênh lệch trong hai trường hợp là  
5,5%. Tương tự với sóng có biên độ 1,5 m  
giá trị chênh lệch là 19,4%.  
Hình 7. Đồ thị công suất cơ hệ của thiết bị  
nhận được theo biên độ sóng  
tại các chu kỳ sóng biển  
Từ đồ thị ta thấy, mức công suất cơ hệ  
của thiết bị phụ thuộc đồng thời vào cả  
biên độ và chu kỳ của sóng biển. Ở sóng  
biển có chu kỳ nhỏ mức công suất nhận  
được là lớn hơn ở sóng biển có chu kỳ  
lớn. Do ở chu kỳ sóng nhỏ, sóng biến đổi  
nhanh nên tốc độ chuyển động của trục  
thanh răng – piston sẽ nhanh và kéo môtơ  
phát điện chuyển động nhanh, dẫn đến  
mức điện áp và cường độ dòng điện phát  
ra đạt lớn. Giá trị công suất tăng dần khi  
biên độ sóng biển càng lớn. Ngoài ra, từ  
Hình 8. Đồ thị đặc trưng công suất cơ hệ  
nhận được theo biên độ sóng biển  
Từ kết quả nhận được cho thấy khi thiết  
bị hoạt động ở sóng biển có biên độ từ  
0,75 m trở lên, sự khác biệt khi xét mô  
hình có ảnh hưởng của sự phi tuyến lò xo  
32  
Số 25  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NĂNG LƯỢNG - TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC  
(ISSN: 1859 - 4557)  
và bỏ qua thành phần phi tuyến (ứng với định ở đáy biển sẽ không bị ảnh hưởng  
kN = 0) là rõ rệt. Do vậy, khi tính toán bởi sóng và bão biển tác động. Phao của  
thiết bị hoạt động ở vùng biển có biên độ thiết bị thả nổi trên mặt biển và truyền  
sóng lớn, sự phi tuyến của lò xo trong mô năng lượng nhận được từ sóng biển đến  
hình cần được xét đến nhằm thu được kết môtơ phát điện của thiết bị. Mô hình thiết  
quả sát với thực tế.  
bị được phân tích xây dựng với việc sử  
dụng môtơ phát điện công nghiệp sẵn có  
trên thị trường để phát điện ổn định. Các  
kết quả tính toán nhận được đã chỉ ra  
vùng hoạt động ổn định và không ổn định  
của mô hình, phạm vi dao động của mô  
hình và mức công suất thiết bị nhận được  
theo điều kiện sóng biển thực tế Việt  
Nam.  
Với các kết quả nhận được trong tính toán  
khảo sát sự hoạt động của thiết bị, sẽ là cơ  
sở xác định các thông số của thiết bị trong  
thiết kế như: kích thước phao, chiều dài  
các trục thanh răng - piston, lựa chọn  
môtơ phát điện và mức tỉ số truyền của bộ  
tăng tốc chuyển động quay, nhằm đạt  
được mức công suất điện cần phát ra theo  
điều kiện thực tế của sóng biển tại nơi  
thiết bị sau khi chế tạo sẽ đưa vào khai  
thác sử dụng.  
Các kết quả nhận được sẽ là cơ sở để tiến  
tới thiết kế chế tạo thiết bị sử dụng trong  
thực tế. Nhằm góp phần cung cấp điện  
năng cho kinh tế biển nói chung, điện  
năng sử dụng trên các nhà dàn DKI hay  
các đảo ngoài khơi, cũng như điện năng  
5. KẾT LUẬN  
Báo cáo đã đưa ra cấu trúc một mô hình  
thiết bị phát điện từ năng lượng sóng biển đảm bảo an ninh quốc phòng ngoài biển  
được thiết lập hoạt động theo phương  
thẳng đứng, phần phát điện được gắn cố  
đảo.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] M. Eriksson, J. Isberg, M. Leijon, Hydrodynamic modelling of a direct drive wave energy  
converter, International Journal of engineering Science 43, pp. 1377-1387, 2005.  
[2] J. Engstro, M. Erikson, J. Isberg, M. Leijon, Wave energy converter with enhanced amplitude  
response at frequencies coinciding with Swedish west coast sea states by use of a supplementary  
submerged body, Journal of Applied Physics, 106, 064512, 2009.  
[3] Marco Trapanese. Optimization of sea wave energy harvesting electromagnetic device, IEEE  
Transactions on Magnetics, 44, pp. 4365-4368, 2008.  
[4] Vincenzo Franzitta, Antonio Mesineo and Marco Trapanese, An approach to the conversion of the  
power generated by an offshore wind power farm connected into sea wave power generator, The  
open renewable energy journal, 4, pp. 19-22, 2011.  
[5] António F.O. Falcão. Modelling of Wave Energy Conversion. Instituto Superior Técnico,  
Universidade Técnica de Lisboa, Portugal, 2014.  
Số 25  
33  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NĂNG LƯỢNG - TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC  
(ISSN: 1859 - 4557)  
[6] Nagulan Santhosh, Venkatesan Baskaran, Arunachalam Amarkarthik, A review on front end  
conversion in ocean wave energy converters, Front. Energy 2015, 9 (3): 297–310, 2015.  
[7] B. Drew, A.R. Plummer, and MN Sahinkaya, A review of wave energy converter technology, Proc.  
IMechE Vol. 223 Part A: J. Power and Energy, pp.887-902, 2009.  
[8] Keisuke Taneura, Kimihiko Nakano, Pallav Koirala and Kesayoshi Hadano, On the resonance  
characteristics of the float type wave power generation device, Journal of Environment and  
Engineering, 6 (3), pp. 542-553, 2011.  
[9] J.H. Choi, J.S. Park, G.S. Ham, J.S. Choi, Simulation of wave generation system with linear  
generator, Proceedings of the 3rd International Conference on Industrial Application Engineering  
2015, Japan, pp. 537-541, 2015.  
[10] Đề tài cấp Nhà nước (KC.05-17/06-10), Nghiên cứu thiết kế chế tạo thiết bị phát điện sử dụng  
năng lượng sóng biển, Bộ Khoa học và công nghệ, 2011.  
[11] Nguyễn Thế Mịch, Nguyễn Chí Cường, Nghiên cứu tính toán hệ thống phát điện bằng năng lượng  
sóng quy mô công suất nhỏ, Hội nghị Cơ học kỹ thuật toàn quốc, tr. 361-366, 2014.  
[12] Báo cáo đề tài cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Nghiên cứu thiết kế, thử  
nghiệm mô hình phát điện ổn định, hiệu suất cao bằng năng lượng sóng biển - VAST07.04/14-15,  
2016.  
[13] Báo cáo đề tài cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam: Nghiên cứu, chế tạo mẫu  
thiết bị phát điện từ năng lượng sóng biển, VAST01.10/16-17”, 2018.  
[14] Nguyen Van Hai, Nguyen Dong Anh, Nguyen Nhu Hieu, Fabrication and experiment of an  
electrical generator for sea wave energy, Vietnam Journal of Science and Technology, 55 (6),  
pp. 780-792, 2017.  
[15] Nguyễn Mạnh Hùng, Dương Công Điển và nnk, Năng lượng sóng biển khu vục biển đông và vùng  
biển Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội, 2009.  
[16] Phùng Văn Ngọc, Nguyễn Thế Mịch, Lê Vĩnh Cẩm, Đoàn Thị Vân, Nghiên cứu thiết bị chuyển đổi  
năng lượng sóng biển thành năng lượng điện dạng phao nổi, Tạp chí Khoa học và Công nghệ  
thủy lợi, tr. 52-59, 2014.  
[17] ITTC-Recommended Procedures: Fresh Water and Seawater Properties, 26th ITTC Specialist  
Committee on Uncertainly Analysis, No. 7.5-02-01-03, 2011.  
[18] Đinh Văn Ưu, Nguyễn Thọ Sáo, Phùng Văn Hiếu, Thủy Lực Biển, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia  
Hà Nội, 2006.  
[19] Nguyễn Văn Đạo, Trần Kim Chi, Nguyễn Dũng, Nhập môn Động lực học phi tuyến và Chuyển  
động hỗn độn, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.  
[20] Nguyễn Văn Khang, Dao động phi tuyến ứng dụng, Nhà xuất bản Bách khoa Hà Nội, 2016.  
[21] Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Đông Anh, Nguyễn Như Hiếu, Nghiên cứu, tính toán thiết bị phát điện  
công suất nhỏ từ năng lượng sóng biển, Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 2 về Cơ kỹ thuật và  
Tự động hóa, Hà Nội (7-8/10/2016), tr. 216-219, 2017.  
34  
Số 25  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NĂNG LƯỢNG - TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC  
(ISSN: 1859 - 4557)  
Giới thiệu tác giả:  
Tác giả Nguyễn Văn Hải tốt nghiệp đại học và nhận bằng Thạc sĩ tại Trường Đại  
học Khoa học tự Nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội vào các năm 1998 và 2004; năm  
2019 nhận bằng Tiến sĩ chuyên ngành cơ kỹ thuật (cơ điện tử) tại Học viện Khoa  
học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Hiện nay tác  
giả đang công tác tại Viện Cơ học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ  
Việt Nam.  
Hướng nghiên cứu chính: nghiên cứu mô hình, tính toán thiết kế và xây dựng các  
hệ thống phát điện từ các nguồn năng lượng mới và tái tạo, đặc biệt là phát điện  
từ nguồn năng lượng sóng biển.  
Tác giả Nguyễn Đông Anh tốt nghiệp đại học tại Đại học Tổng hợp Quốc gia  
Taskent năm 1977, nhận bằng Tiến sĩ chuyên ngành cơ học tại Đại học Tổng hợp  
Quốc gia Kiev năm 1985; nhận bằng Tiến sĩ khoa học chuyên ngành cơ học tại Đại  
học Tổng hợp Quốc gia Kiev năm 1986; năm 1996 được công nhận học hàm Giáo  
sư. Hiện nay tác giả đang công tác tại Viện Cơ học, Viện Hàn lâm Khoa học và  
Công nghệ Việt Nam.  
Hướng nghiên cứu chính: dao động của các hệ cơ học, dao động ngẫu nhiên và  
tiền định phi tuyến, điều khiển kết cấu, giảm dao động có hại cho các hệ kỹ thuật.  
Số 25  
35  
pdf 12 trang yennguyen 10580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu mô hình cơ học và tính toán sự ổn định của thiết bị phát điện từ năng lượng sóng biển", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_mo_hinh_co_hoc_va_tinh_toan_su_on_dinh_cua_thiet.pdf