Nghiên cứu mô hình sạc năng lượng cho xe điện và phương án bố trí mô hình trên đường phục vụ du lịch tại thành phố Đà Nẵng

110  
Phạm Minh Mận  
NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH SẠC NĂNG LƯỢNG CHO XE ĐIỆN  
VÀ PHƯƠNG ÁN BỐ TRÍ MÔ HÌNH TRÊN ĐƯỜNG PHỤC VỤ DU LỊCH  
TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG  
AN INVESTIGATION INTO A MODEL FOR SUPPLYING POWER  
TO ELECTRIC VEHICLESAND OPTIONS FOR PLACING MODELS IN STREETS  
FOR TOURISM IN DANANG CITY  
Phạm Minh Mận  
Trường Cao đẳng Công nghệ, Đại học Đà Nẵng; [email protected]  
Tóm tắt - Việc xây dựng mô hình cung cấp năng lượng sử dụng  
năng lượng mặt trời cho xe điện đóng vai trò lớn và ý nghĩa quan  
trọng cho các phương tiện phục vụ du lịch xanh tại Đà Nẵng. Bài  
báo đã phân tích quá trình tối ưu các phương án cung cấp năng  
lượng để nạp điện cho xe điện trong thời gian ngắn nhất và tiết  
kiệm năng lượng nhất. Mô hình đã được chế tạo và bố trí theo các  
phương án tại các điểm dừng của xe điện trong thời gian vận  
chuyển khách tại thành phố Đà Nẵng. Kết quả sau khi tối ưu các  
phương án đã đưa ra các thông số của năng lượng để so sánh và  
đánh giá được nhu cầu sử dụng năng lượng mặt trời để cung cấp  
cho xe điện trong tương lai. Bài báo cũng đã đưa ra các giải pháp  
trong quá trình cung cấp năng lượng cho xe điện để tiết kiệm năng  
lượng và giảm ô nhiễm môi trường góp phần phát triển bền vững  
trong vấn đề giao thông sạch trong cả nước.  
Abstract - One of the most crucial issues in promoting green  
tourism in Danang City is building models of supplying power from  
the sun to electric vehicles. The paper analyses the optimization of  
options of supplying power to electric vehicles in the shortest  
possible time and in the most economical way. Models are  
established and placed differently according to stops of electric  
vehicles transporting tourists in Danang City. Results obtained  
from the optimization of the options showed power parameters to  
compare and assess demands for solar power used for electric  
vehicles in the future. The paper also gives several suggestions  
about the process of powering electric vehicles to gain energy  
efficiency and reduce environmental pollution to ensure  
sustainable development of clean transportation in the whole  
country.  
Từ khóa - Xe điện; hiệu quả năng lượng; năng lượng mặt trời; du  
Key words - electric vehicle; energy efficiency; solar power; green  
lịch xanh; giảm ô nhiểm môi trường  
tourism; reduce environmental pollution  
cho ắc quy của xe điện cũng được chú trọng gần đây bởi  
các nhà khoa học Việt Nam [4], nhằm phát triển xe điện  
không ô nhiểm môi trường cho ngành du lịch vận chuyển  
hành khách không khói thải. Nguồn năng lượng mặt trời là  
nguồn năng lượng sạch, không gây ô nhiễm môi trường và  
rất dồi dào, nó có khả năng ứng dụng nhiều trong ngành  
công nghiệp giao thông trong tương lai gần. Để phân tích  
đánh giá các phương án bố trí một cách tối ưu, chúng tôi  
cũng tìm được các mối liên quan giữa nhu cầu sử dụng  
năng lượng mặt trời để cung cấp cho xe điện và phân tích  
ảnh hưởng của xe điện thông qua số lượng xe điện được  
sạc điện cũng như các cơ sở hạ tầng đáp ứng nhu cầu về  
năng lượng trong khi nghiên cứu và khảo sát. Để thể hiện  
nỗi bậc nhu cầu nguồn năng lượng mặt trời cung cấp cho  
hệ thống xe điện tại thành phố du lịch- thành phố Đà Nẵng.  
Bài báo không những tiến hành phân tích nhu cầu về năng  
lượng mặt trời kết hợp lưới điện trong nhà để nạp cho xe  
điện mà còn đưa ra những giải pháp hữu ích bằng các  
phương án bố trí được tối ưu để giảm ô nhiểm môi trường  
và tiết kiệm năng lượng.  
1. Giới thiệu  
Trên thế giới một số nước sử dụng nguồn năng lượng  
mặt trời để lưu trữ và cung cấp năng lượng cho các hoạt  
động công nghiệp và phát triển, kết hợp nghiên cứu để ứng  
dụng trong sinh hoạt và phục vụ đời sống con người. Các  
nước khác cũng đưa vào sử dụng các tấm pin năng lượng  
mặt trời có khả năng tích trữ nguồn năng lượng lớn sẵn có  
từ ánh sáng mặt trời như Úc, Canada, Mỹ, Hàn Quốc,  
Singapore, để phục vụ và cung cấp năng lượng cho thiết bị  
giao thông vận tải, mà nhất là xe điện hoặc xe lai điện.  
Những nghiên cứu trước đây cũng trình bày xe điện được  
nạp điện từ nhiều nguồn khác nhau sau khi tích trữ như:  
gió, mặt trời, địa nhiệt, trạm sạc công cộng sử dụng nguồn  
năng lượng mặt trời, hay tại lưới điện của các tòa nhà, hoặc  
các khu làm việc là khá tốt và thu hút nhiều nhà đầu tư cũng  
như các nhà khoa học thực hiện các bước ứng dụng để tiết  
kiệm năng lượng [1, 2].  
Bên cạnh đó, trong một số nghiên cứu khác như [3]  
cũng phân tích tiềm năng để triển khai nguồn năng lượng  
mặt trời, hoặc gió, hoặc là kết hợp trên các bãi đậu xe ô tô  
tại các nước khối EU của Châu Âu. Tất cả những nghiên  
cứu này đã chỉ ra một mối quan hệ lẫn nhau về các nhu cầu  
sử dụng năng lượng của các loại phương tiện giao thông  
2. Đánh giá nhu cầu về năng lượng và xe điện  
2.1. Nguồn năng lượng sạch tại Việt Nam  
Khi nói đến các nguồn năng lượng sạch tại Việt Nam  
thay thế trong tương lai, mà chủ yếu là xe điện không có thì phải nói đến các loại như các nguồn năng lượng từ mặt  
khói thải. Mục tiêu được đưa ra trong bài báo là nghiên cứu trời, gió, sóng biển, hoặc năng lượng từ nhiên liệu thay thế  
mô hình lý thuyết của hệ thống cung cấp năng lượng là các như biogas, biofuel, LPG, Biomas,... Trong bài báo, nguồn  
trạm sạc từ năng lượng mặt trời góp phần bảo vệ môi năng lượng sạch được nói đến là năng lượng mặt trời,  
trường và tiết kiệm năng lượng (được bố trí theo các nguồn năng lượng này có tại hầu hết các khu vực trung tâm  
phương án khác nhau). Tại thành phố Đà Nẵng, nhu cầu của Việt Nam và thay đổi liên tục thời gian 24h trong ngày  
năng lượng và dự trữ để cung cấp năng lượng từ mặt trời dưới sự chuyển động của mặt trời, các đám mây, cũng như  
ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 11(96).2015, QUYỂN 2  
111  
dựa vào mùa có 12 tháng trong năm.  
Ở Việt Nam, với nguồn năng lượng mặt trời, hàng năm  
có đến 5000 giờ nắng, mật độ trung bình có thể đạt được  
100 đến 175 kcal/cm2/ năm, tạo ra tổng lượng năng lượng  
mặt trời lên đến hơn 1744.5 kWh/m2/năm. Các giá trị của  
bức xạ mặt trời được sử dụng cho các tấm pin mặt trời đã  
Hình 2. Xe điện phục vu du lịch tại thành phố Đà Nẵng  
được thảo luận tại ba thành phố lớn của Việt Nam trong  
báo cáo [4] được thể hiện trong Hình 1.  
Theo khảo sát nghiên cứu của các nước cho thấy khả  
năng phát triển xe điện là rất lớn, nếu dùng nguồn năng  
lượng sạch là mặt trời hay lưới điện kết hợp như trong báo  
cáo [6, 8] để cung cấp và sạc điện cho ắc quy dự trữ. Với  
nguồn động lực chính của xe điện là động cơ điện, các ắc  
quy được cung cấp điện từ một trong hai nguồn tương ứng  
với các điều kiện khác nhau: thứ nhất là nguồn điện từ lưới  
điện lấy từ những khu nhà nghỉ, nơi mà hệ thống xe điện  
được tập trung về nạp điện trong khoảng thời gian những  
người lái xe không làm việc (khoảng 11 giờ tối đến 6 giờ  
sáng hàng ngày); thứ hai là nguồn điện sạc từ lưới điện sạch  
sử dụng năng lượng mặt trời tại những nơi công cộng (nơi  
có lắp các trạm sạc công cộng được sạc trong khoảng thời  
gian còn lại).  
Hình 1. Ánh sáng và bức xạ từ mặt trời tại Đà Nẵng so với  
Bảng 1. Đặc điểm chính của các bộ phận trên xe điện  
thành phố ở hai đầu đất nước [4]  
Đặc tính  
Động cơ điện  
Thông số  
1000 W/48 V brush DC  
7–12 kWh/100 km  
30 Km/h  
Ánh sáng và bức xạ năng lượng mặt trời tại ba thành phố  
lớn là Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh được thể  
hiện với giá trị khác nhau. Năng lượng mặt trời được sử dụng  
một cách ngẫu nhiên dưới sự phụ thuộc vào quá trình thay đổi  
của thời tiết trong năm. Với địa bàn thành phố Đà Nẵng, bức  
xạ mặt trời và ánh sang mặt trời cũng chiếm lượng lớn vào các  
tháng từ tháng tư đến tháng tám. Việc sử dụng năng lượng mặt  
trời vào mục đích cung cấp năng lượng cho xe điện được thực  
hiện trong những mùa nắng nóng tại các khu vực có sử dụng  
phương tiện này.  
Năng lượng  
Tốc độ lớn nhất  
Tổng khối lượng  
Kích thước tổng thể  
Khoảng cách sạc  
30 kg  
3.0 m× 1.4m × 2.0 m  
Gần nhất đến 100 km  
Các thông số chung của một số chi tiết trong xe điện  
được thể hiện trong Bảng 1. Với giá trị cho phép làm việc  
của động cơ điện là 1000 W và dòng điện định mức là 18A,  
dòng điện từ ắc quy được dự trữ sau khi sạc từ hai nguồn  
khác nhau trong thời gian tính toán ban đầu là 10h và thời  
gian sử dụng của một lần sạc đi được tối đa 100 km để đạt  
được yêu cầu sử dụng trong các tuyến đường du lịch.  
2.2. Xe điện phục vụ du lịch tại Đà Nẵng  
Bên cạnh các loại phương tiện giao thông truyền thống,  
các loại khác sử dụng năng lượng kết hợp hay duy nhất  
nguồn điện. Xe điện phục vụ du lịch, nguồn điện chủ yếu  
là từ ắc quy. Trong suốt thời gian di chuyển với quãng  
đường đi tương ứng, quá trình lưu trữ điện năng được tích  
trữ tại các ắc quy sau khi mắc nối tiếp hoặc song song. Đối  
với các nước phát triển, xe điện được chú trọng sử dụng  
năng lượng sạch và thân thiện với môi trường [5]. Bên cạnh  
đó, quá trình sạc cho xe điện cũng được đảm bảo trong  
khoảng thời gian nhất định và năng lượng đủ lớn để đáp  
ứng nhu cầu cho người sử dụng trong suốt thời gian vận  
chuyển tương ứng với quãng đường cần thiết.  
Bảng 2. Đặc điểm chính của ắc quy trên mỗi xe điện  
Đặc tính  
Điện thế  
Thông số  
12 V × 4 pcs (48 V)  
120 Ah  
Cường độ  
Năng lượng  
Khối lượng  
Thời gian sạc  
Dòng điện sạc  
5.760 kWh  
160 kg  
Hình 2 thể hiện hình ảnh một số loại xe điện được sử  
dụng phục vụ chở khách du lịch trong các thành phố lớn  
của Việt Nam, trong đó có Đà Nẵng. So với các loại xe  
thông thường sử dụng động cơ, xe điện có cấu tạo đơn giản  
như các bộ phận: bánh xe trước, capo trước, kính chắn gió,  
cửa, ghế ngồi, capo, bánh xe sau, gương chiếu hậu, đèn  
pha, đèn xi nhan và thậm chí có đủ các bộ phận của các hệ  
thống liên quan như những ô tô khác,… Tuy nhiên, nguồn  
động lực chính là động cơ điện, đó là nơi tiếp nhận nguồn  
năng lượng chủ yếu được lưu trữ từ ắc quy và cung cấp cho  
xe chuyển động trong suốt quá trình hoạt động theo quảng  
đường cho phép.  
6–8 h  
18 A  
Các phương án nghiên cứu để bố trí xây dựng trạm sạc  
điện trên các tuyến đường nơi công cộng hoặc tại các khu  
nhà nghỉ kế gần nhau với khoảng cách cho phép. Dung  
lượng của các ắc quy được sử dụng theo tiêu chuẩn, và  
được chọn từ loại bình Li-ion có hiệu điện thế 12 V và dung  
lượng 100 AH như Bảng 2. Để đảm bảo nguồn điện cung  
cấp cho động cơ điện hoạt động là 48 V thì trong mỗi xe  
điện có 4 bình ắc quy được mắc nối tiếp nhau hoặc các khối  
ắc quy được mắc song song để bổ sung thời gian cung cấp  
112  
Phạm Minh Mận  
năng lượng trong đoạn đường dài hơn 100 km tùy theo khả sạc cho ắc quy bên trong xe điện theo các thông số như: số  
năng vận chuyển số lượng khách của xe.  
lượng xe, số lượng ắc quy, thời gian ra vào sau khi làm việc  
và cung cấp năng lượng. Những điều kiện ban đầu được tối  
ưu hóa là số lượng lớn xe điện hoạt động trong suốt thời  
gian được cung cấp năng lượng, các giá trị của các thông  
số như: số lượng xe được nạp năng lượng tại các nơi có  
trạm sạc, thời gian sạc cho số lượng ắc quy có trong xe,  
thời gian cao điểm khi các xe điện đến nơi sạc và rời đi sau  
khi được cung cấp đầy năng lượng là những giá trị được  
thống kê làm cơ sở lý thuyết.  
2.3. Thiết lập mô hình cung cấp năng lượng cho xe điện  
Điểm xuất phát để lấy năng lượng cho xe điện phục vụ  
du lịch tại thành phố Đà Nẵng được cung cấp với nguồn  
điện từ ổ cắm điện có nguồn điện từ tòa nhà (lưới điện)  
hoặc các trụ sạc công cộng, nơi được bố trí sử dụng nguồn  
năng lượng sạch (năng lượng mặt trời). Mô hình cung cấp  
năng lượng cho xe điện được thực hiện và thí nghiệm tại  
xưởng ô tô của trường Cao đẳng Công nghệ, với việc sử  
dụng tấm pin năng lượng mặt trời để thu năng lượng và kết  
hợp với lưới điện sẵn có để kết nối và cung cấp cho ắc quy  
như Hình 3. Với kết cấu của tấm pin năng lượng mặt trời  
có kích thước (400 mm x 400 mm); đường kính của trụ  
cung cấp năng lượng 200 mm; chiều dài tổng cộng của trụ  
là 1200 mm; kích thước của đế trụ (400 mm x 400 mm x  
20 mm); bên trong được bố trí 4 ắc qui và bộ lưu trữ năng  
lượng được điều khiển bán tự động để chọn chế độ nguồn  
năng lượng khi cần thiết.  
Mọi cơ sở đánh giá ban đầu được xuất phát từ quá trình  
phân phối số lượng xe điện và thu nhận vào để sạc tại những  
nơi cung cấp điện, trong phân bố xác suất được dựa theo  
phương pháp của Gaussian và thông kê tối ưu theo phương  
pháp Taguchi. Các giá trị trung bình và phương sai của quá  
trình phân phối được xây dựng phù hợp với điều kiện và các  
số liệu cho phép từ khu vực khảo sát khi dùng xe điện phục  
vụ trên các tuyến đường vận chuyển theo quy định.  
3.1.1. Thuyết tối ưu trên cơ sở mô hình cung cấp năng  
lượng trong quá trình sạc  
Trong bất kỳ thời gian (t) nào đó được khảo sát, số  
lượng xe điện (S) đã và đang được tập trung vào nơi nạp  
điện để sạc ắc quy trong khoảng thời gian (t) đó. Để xác  
định được số lượng xe điện tập trung vào và rời khỏi trạm  
sạc đặt tại nơi công cộng hoặc lưới điện sử dụng trong  
khoảng thời gian (t), thì tập hợp các phần tử của các xe điện  
được xem xét, đồng thời tổng thời gian sạc điện khi đến và  
dừng lại trong khoản thời gian là (t-1) và (t) được xác định  
bởi các công thức theo báo cáo [8].  
b. Tấm Pin mặt trời  
ꢀ
ꢀ
∑
( ) ( )  
∑
Sꢀ = ꢆꢇꢈ Sđã ꢁừꢂꢃ k − ꢆꢇꢈ Nꢄờꢅ k  
(1)  
c. Bộ chuyển đổi  
Trong đó: t là thời gian được xác định để xe tập trung  
và rời khỏi nơi sạc, S là số lượng xe được xác định trong  
( )  
các trường hợp khác nhau và: Sꢄờꢅ k = ∗ ꢉa: k − 1 <  
( )  
Tꢁừꢂꢃ a + Tđỗ(a) ≤ kꢊ. Số phần tử của một tập hợp được  
( )  
thực hiện trong các trường hợp như: Sđã ꢁừꢂꢃ t là số xe  
a. Mô hình thực tế cung cấp năng  
lượng cho xe điện được chế tạo  
d. Bộ kết nối ắc quy  
( )  
điện đã tập trung vào sạc trong thời gian t-1 và t, Nꢄờꢅ t là  
số xe điện rời sau khi sạc trong thời gian t-1 và t, Tꢁừꢂꢃ, Tđỗ  
là thời gian tương ứng khi xe dừng lại và thời gian xe sạc  
Hình 3. Mô hình cung cấp năng lượng cho xe điện  
Thời gian sạc là lúc xe điện ngừng chở hành khách hoặc  
đậu đỗ đúng thời điểm cung cấp năng lượng theo quy định  
(được nghiên cứu trong các phương án bố trí của bộ sạc).  
Các giai đoạn sạc điện dựa theo các phương pháp nghiên  
cứu trước đó của báo cáo [7]. Nguồn năng lượng mặt trời  
cung cấp cho xe điện được xây dựng trên cơ sở phân phối  
dòng điện và lựa chọn theo thời gian từ hai nguồn khác  
nhau để cung cấp đến các ắc quy, hai nguồn điện nạp cho  
ắc quy là năng lượng duy nhất không có khí thải trong quá  
trình sử dụng. Mô hình này có nhiều ưu điểm và có khả  
năng cạnh tranh cao đến nhu cầu sử dụng năng lượng trên  
phương tiện giao thông vận tải du lịch như xe điện của Đà  
Nẵng.  
( )  
điện, Sđã ꢁừꢂꢃ t , Tđỗ(t) được xác định bằng cách sử dụng  
chức năng phân phối xác suất thống kê được khảo sát từ  
chỗ sạc xe điện.  
Tại khu khảo sát, thực tế hệ thống xe điện được kiểm  
soát trong ngày bởi những người quản lý, các xe điện tập  
trung về nơi cung cấp điện duy nhất trong khoản thời gian  
11 giờ đêm đến 6 giờ sáng. Nhưng không có xe nào về trạm  
sạc sau 10 giờ đêm, do đó giá trị trung bình của phân phối  
là 10 giờ đêm đến 6 giờ sáng. Ngoài ra, các phân bố xác  
suất về nhu cầu năng lượng cần sạc cho ắc quy của hệ thống  
xe điện đi vào bên trong khu vực đỗ xe phụ thuộc vào dung  
lượng nạp của ắc quy Cắc quy và đoạn đường các xe di  
chuyển trong suốt một ngày 24 giờ trong ngày. Năng lượng  
của một xe điện khi đi vào khu vực đỗ xe để sạc ắc quy  
3. Thiết lập phương án bố trí mô hình cung cấp năng  
lượng cho xe điện phục vụ du lịch  
( )  
được quy định bởi phương trình sau: Qꢂꢋꢌ ꢍầꢌ i =  
( ) {  
( )}  
Cắꢍ ꢎꢌꢏ i . Cꢐꢑꢒ − C i với, Cắc quy là sức chứa của ắc quy  
kWh, C phần trăm sức chứa của ắc quy, Cmax là giá trị phần  
trăm lớn nhất để sạc cho ắc quy, Qnhucầu là năng lượng yêu  
cầu sạc cho xe điện trong thời gian i.  
3.1. Xây dựng cơ sở lý thuyết dựa vào phương án bố trí  
mô hình cung cấp năng lượng  
Mô hình cung cấp năng lượng cho xe điện du lịch trên  
địa bàn thành phố Đà Nẵng được đánh giá qua quá trình  
ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 11(96).2015, QUYỂN 2  
113  
Việc xác định lượng điện cung cấp từ năng lượng mặt  
trời hay lưới điện trong nhà cho ắc quy trong xe điện theo  
phương pháp điều khiển được ứng dụng theo các nghiên  
cứu trước đây như trong báo cáo [9], nó được xét đến tại  
những nơi tập trung xe điện của các khu nghỉ mát, hoặc nhà  
ở. Trong chiến lược kiểm soát chế độ của xe điện, chỉ có  
năng lượng của ắc quy được sử dụng để cung cấp năng  
lượng chính cho động cơ điện cần thiết cũng như năng  
lượng được sạc vào theo yêu cầu. Dựa vào các tiêu chuẩn  
và yêu cầu cũng như các giới hạn cho phép trong điều kiện  
biên, hàm lượng và điện năng cần thiết một giả thuyết hợp  
lý bởi các xe điện được thực hiện trong việc kiểm soát khả  
năng sử dụng và quản lý năng lượng khi chúng hoạt động  
ra và vào nơi được cung cấp năng lượng, do đó, C =  
Max ꢓCꢐꢅꢂ, Cꢐꢑꢒ − Cꢐꢅꢂ ꢕꢔꢖ, với; R là tổng số xe điện  
(
)
Hình 4. Sơ đồ bố trí mô hình sạc điện theo các tuyến đường đi  
được ước lượng đi ra và vào trong thời gian sạc, L là  
khoảng cách của các trạm sạc điện cho xe trên đoạn đường  
công cộng và Cmin là giá trị nhỏ nhất cho phép của C trong  
của xe điện du lịch ở Đà nẵng  
Mô hình sạc điện được bố trí tương ứng với tổng số  
lượng xe điện trên địa bàn thành phố được triển khai để  
phục vụ khách du lịch, xe điện được cung cấp với phương  
án đầu tiên là những chỗ hay tập trung và là khu vực khách  
có thể dừng chân để thăm quan nhiều nhất để có thời gian  
nạp điện.  
(
)
một khoản thời gian sạc tối thiểu. PrꢉCꢗꢊ = Pr dꢘ ; Cꢗ >  
∑
= ꢁꢙꢚ Pr d ; Cj = Cmin với, (dꢘ =  
( )  
Cꢐꢅꢂ  
ꢛ ꢕ(ꢅ)  
ꢜ
ꢘꢝꢛꢐꢅꢂ(ꢅ)). Thời gian sạc là tối thiểu được xác định giữa  
thời gian đậu xe cần thiết cho toàn bộ thời gian dừng lại  
3.2. Kết quả tối ưu quá trình sạc cho xe điện trong điều  
kiện sử dụng hai nguồn năng lượng  
như được đưa ra bởi phương trình; Ti  
=
ꢠ
MinꢞTđậꢌ ꢒꢟ i , ꢡꢢꢣ ꢤầꢣ (ꢥ)ꢩ và giá trị năng lượng sạc cho  
( )  
ꢦꢧꢨꢈ  
Để tìm điểm tối ưu, bài báo đã sử dụng hai thuật toán  
tương ứng để kiểm soát thời gian sạc của mỗi xe cần thiết  
trong quá trình hoạt động của xe theo các điều kiện cho  
phép của phương pháp.  
bình ắc quy trong mỗi giờ được cho bởi công thức [8]:  
5760 t ≤ k < ꢬ + T  
ꢅ
(
)
(
)
Q
ꢂꢋꢌ ꢍầꢌ − 5760 Tꢂ − 1  
Eꢪạꢍ đꢅệꢂ i, k = ꢫ  
(2)  
0 trường hợp khác  
3.2.1. Quá trình sạc điện trong điều kiện tối ưu không có  
thông số kiểm soát  
Với k = t + Tꢂ  
Nhu cầu năng lượng cung cấp cho ắc quy của xe điện  
được tính là tổng năng lượng sạc được vào mỗi xe điện  
được ra và vào nơi cung cấp năng lượng và theo công  
∑
(
)
thức: Eꢪạꢍ total (t) = ꢐꢇꢘ:ꢭ Eꢪạꢍ m, t ; t = 1: 24 giờ.  
Với điều kiện cần thiết để sạc vào ắc quy là: 0 ≤  
( )  
Eꢪạꢍꢝꢀꢮꢀꢑꢯ t ≤ 5760. S (t)  
( )  
Eꢪạꢍꢝꢀꢮꢀꢑꢯ 0 =  
và  
( )  
Eꢪạꢍꢝꢀꢮꢀꢑꢯ T = 0 thì giá trị cần thiết của năng lượng để sạc  
cho ắc quy của tất cả các xe điện trong một ngày làm việc  
được xác định theo công thức sau [8]:  
(
)
( )  
( )  
Eꢪạꢍꢝꢀꢮꢀꢑꢯ t + 1 = Eꢪạꢍꢝꢀꢮꢀꢑꢯ t + ꢰꢱꢲꢳ ꢴầꢳ t −  
( )  
(Eꢐặꢀ ꢀꢄờꢅ ꢬ + Eꢯướꢅ đꢅệꢂ(t))∆u  
(3)  
3.1.2. Lập phương án bố trí mô hình cung cấp năng lượng  
tại các tuyến đường tại Đà Nẵng  
Hình 5. Mức năng lượng sạc cho ắc quy xe điện khi  
không có kiểm soát  
Bộ cung cấp năng lượng được bố trí tại các nơi khác nhau  
trên các tuyến đường, với các khoảng cách khác nhau, thời  
gian vận chuyển cho phép. Vì thế, để có thể phân tích thì  
chúng ta chia ra hai trường hợp cụ thể là: dùng một xe điện  
để sạc trong khoảng thời gian ra và vào, hơn nữa cũng xét  
đến một số lượng xe điện để sạc theo thời gian khác nhau  
sau khi làm việc trong ngày. Trong Hình 5, thời gian sạc cho  
ắc quy của xe điện được xác định khác nhau, quá trình được  
thực hiện trong bất cứ thời gian nào của 24 giờ trong ngày.  
Giai đoạn sạc điện cho ắc quy, được xem xét là sạc cả ban  
ngày (lúc đang hoạt động) và ban đêm (lúc xe tập trung về  
nơi đậu đỗ). Các giá trị tiêu thụ của năng lượng cho cả ngày  
lẫn đêm cũng được đánh giá dựa vào các nghiên cứu như  
Sau khảo sát các tuyến đường phục vụ du lịch trên địa  
bàn thành phố Đà Nẵng, các xe điện sử dụng năng lượng  
mặt trời đang được triển khai để chở hành khách thăm quan  
theo các tuyến đường quanh biển và khu vực phục vụ du  
lịch của Thành phố. Cần đảm bảo cho xe điện hoạt động  
trên địa bàn rộng, số lượng xe lớn, thời gian hoạt động liên  
tục và quãng đường di chuyển dài hơn so với thời gian mà  
năng lượng ắc quy trong xe điện hoạt động. Trên cơ sở của  
bản đồ du lịch thành phố, trong Hình 4 đã đưa ra hai tuyến  
đường là Nguyễn Tất Thành và Võ Nguyên Giáp để bố trí  
mô hình cung cấp năng lượng cho xe điện với số lượng là  
6 địa điểm, gần chỗ các hành khách dừng chân và xe điện  
tạm nghĩ sau thời gian hoạt động.  
114  
Phạm Minh Mận  
trong báo cáo [8].  
ưu năng lượng điện từ các tòa nhà được sạc đạt đỉnh cao  
hơn nhưng ngược lại khi có kiểm soát các thông số thì mức  
sử dụng năng lượng mặt trời là lớn nhất.  
Năng lượng mặt trời được chuyển đổi để đạt được kết  
quả lớn nhất là lúc làm việc trên đường khoản 40 kW đến  
50 kW và lưu trữ để cung cấp cho các xe điện nhiều hơn  
vào ban ngày, tức là từ 6 giờ sáng đến 18 giờ tối hằng ngày.  
Trong trường hợp này, khi cung cấp điện trong thời gian từ  
lúc bắt đầu đến lúc đã đủ năng lượng cho ắc quy, số liệu  
thống kê với khoảng thời gian tập trung hay đỗ xe Tđỗ (i)  
và lượng năng lượng điện được sạc C dùng để tính toán  
thời gian sạc cho ắc quy một cách liên tục mãi đến 5.76  
kW, như bảng dung lượng của ắc quy trong Bảng 1.  
4. Kết luận  
Sau khi xây dựng mô hình thực tế và thực hiện phương án  
lý thuyết để bố trí mô hình trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.  
Ngoài ra, xác định điểm tốt nhất để cung cấp năng lượng cho  
xe điện phục vụ du lịch, bài báo đã đánh giá khả năng sử dụng  
năng lượng mặt trời hoặc lưới điện để cung cấp cho xe điện  
trong thời gian 24h trong hai trường hợp có và không có thông  
số kiểm soát trong quá trình nghiên cứu. Sau quá trình thiết  
lập mô hình, đánh giá thời gian cung cấp năng lượng theo  
phương pháp Gaussian và Taguchi đến với từng xe điện trong  
quảng đường giới hạn cho phép. Kết quả đã so sách, đánh giá  
và đáp ứng được thời gian và quảng đường cũng như số lượng  
xe điện ra vào trong suốt thời gian nạp năng lượng. Ngoài ra,  
khi phân tích nhu cầu năng lượng cung cấp cả ban ngày (năng  
lượng mặt trời) và ban đêm (lưới điện) cho xe điện trên điều  
kiện ánh sáng mặt trời trong ngày, nghiên cứu cũng đưa ra mô  
hình điều khiển sạc vào ban đêm là tốt nhất và nó được thực  
hiện trong khoảng thời gian bắt đầu từ 11 giờ khuya đến 6 giờ  
sáng ngày tiếp theo.  
3.2.2. Quá trình sạc điện trong điều kiện tối ưu có thông số  
kiểm soát  
Dung lượng và thời gian cần thiết để sạc cho ắc quy  
trong hệ thống xe điện được tính toán dựa vào các phép đo  
là nạp và xả điện khi cần thiết. Mức năng lượng tối đa để  
nạp được 100% cho ắc quy là rất quan trọng để đáp ứng  
quảng đường vận chuyển, tại lúc điện áp được sạc vào phải  
đạt được các mức có khả năng tối đa và công suất tương  
ứng với các loại ắc quy được sử dụng trong xe.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] P. Tulpule, V. Marano, S. Yurkovich, G. Rizzoni, “Economic and  
environmental impacts of a PV powered workplace parking garage  
charging station”, Apply Energy, số 108, 2013, trang 323–332.  
[2] D.P. Birnnie III, “Solar-to-vehicle (S2V) systems for powering  
commuters of the future”, J Power Sources, số 186, 2009, trang 539–  
542.  
[3] H.M. Neumann, D. Schär, F. Baumgartner, “The potential of  
photovoltaic carports to cover the energy demand of road passenger  
transport”, Prog Photovolt: Res Appl, số 20, 2012, trang 639–649.  
Hình 6. Mức năng lượng sạc cho ắc quy xe điện  
[4] Binh Van Doan, Bach Ngoc Nguyen, “The current status and  
renewable energy outlook in Vietnam up to 2030”, In: Presented at  
Asian Renewable Energy Workshop, Chiang Mai, Thailand, 2013,  
trang 16.  
khi có thông số kiểm soát  
Theo thuật toán, để điều khiển và kiểm soát khi tối ưu  
được thiết lập thì các tính chất ngẫu nhiên của nguồn năng  
lượng mặt trời thông qua ánh sáng thay đổi theo giờ, thời  
tiết, mùa, và các yếu tố ảnh hưởng khác cũng rất quan  
trọng. Đồng thời, số lượng xe điện ra vào tại khu vực đậu  
đỗ trong suốt thời gian sạc và nhu cầu cần thiết của từng xe  
được cung cấp điện từ năng lượng mặt trời đạt được điểm  
tối ưu. So sánh nguồn năng lượng điện để sạc cho ắc quy  
từ nguồn năng lượng mặt trời và lưới điện khi sử dụng hai  
thuật toán điều khiển thể hiện khá rõ nét trên đồ thị của  
Hình 5 và Hình 6, và mức tiêu thụ của năng lượng mặt trời  
cho xe điện là nhiều nhất. Trên hình cũng cho thấy khả  
năng phân bố của năng lượng và sạc cho xe điện từ năng  
lượng mặt trời và lưới điện là khác nhau. Đánh giá tại các  
điểm tối ưu khi sử dụng năng lượng mặt trời và lưới điện  
đáp ứng nguồn năng lượng cho xe điện được thực hiện trên  
biểu đồ. Tại các nơi sạc cho ắc quy của xe điện, trong  
trường hợp không có thông số kiểm soát của điều kiện tối  
[5] Aoife. Foley, Barry. Tyther, Patrick. Calnan, Brian Ó. Gallachóir,  
“Impacts of electric vehicle charging under electricity market  
operations”, Appl Energy, số 101, 2013, trang 93–102.  
[6] Samveg Saxena, Anand Gopal, Amol Phadke, “Electrical  
consumption of two-, three- and four-wheel light-duty electric  
vehicles in India”, Appl Energy, số115, 2014, trang 582–590.  
[7] Pinak J. Tulpule, Vincenzo Marano, Stephen Yurkovich, Giorgio  
Rizzoni, “Economic and environmental impacts of a PV powered  
workplace parking garage charging station”, Applied Energy, số  
108, 2013, trang 323-332.  
[8] Minh Man Pham, Minh Nhan Pham, Tra Qui Phan, “An  
investigation into green energy-powered vehicles for tourism in  
Vietnam”, Procceding of The 2nd International Conference on Green  
Technology and Sustainable Development 2014, ISBN: 978-604-  
73-2817-8, Vol. 1, S1, 58-63.  
[9] Ferreira Joao C, Afonso Joao Luiz. “Towards  
a collective  
knowledge for a smart electric vehicle charging strategy”. IEEE 3rd  
international conference on communication software and networks  
(ICCSN) 2011, 2011, trang 735–39.  
(BBT nhận bài: 30/07/2015, phản biện xong: 01/10/2015)  
pdf 5 trang yennguyen 8620 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu mô hình sạc năng lượng cho xe điện và phương án bố trí mô hình trên đường phục vụ du lịch tại thành phố Đà Nẵng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_mo_hinh_sac_nang_luong_cho_xe_dien_va_phuong_an_b.pdf