Một số nghiên cứu tiêu biểu về dòng biến lượng và máng tràn bên

KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TIÊU BIỂU VỀ DÒNG BIẾN LƯỢNG  
VÀ MÁNG TRÀN BÊN  
Hoàng Nam Bình  
Trường Đại học Giao thông Vận tải  
Tóm tắt: Đường tràn ngang là loại công trình tháo lũ tiêu biểu của loại đập vật liệu địa phương  
khi địa hình nhỏ hẹp không thể bố trí loại tràn dọc. Loại công trình thủy lực máng tràn bên của  
đường tràn ngang trong công trình hồ chứa nước đã được các nhà thủy lực học quan tâm nghiên  
cứu từ những năm đầu của thế kỷ XX. Dòng chảy trong máng tràn bên là bài toán tiêu biểu cho  
dòng chảy có lưu lượng thay đổi dọc theo chiều dòng chính. Công trình đập Hoover trên sông  
Colorado trên biên giới bang Nevada và Arizona - Mỹ được biết đến là công trình đầu tiên ứng  
dụng loại đập tràn ngang dựa trên kết quả của dự án nghiên cứu thử nghiệm lớn vào giữa những  
năm 30 của thế kỷ XX. Bài báo sẽ điểm lại những công trình khoa học đáng chú ý trong nước và  
thế giới về việc nghiên cứu loại công trình thủy lực này cũng như phương trình dòng biến lượng  
có lưu lượng tăng dần dọc theo chiều dòng chảy chính. Những thông tin trong bài báo sẽ là tài  
liệu tham khảo cho các nhà khoa học nghiên cứu về hiện tượng thủy lực thú vị này.  
Từ khoá: Máng tràn bên, Dòng biến lượng, Đập tràn ngang.  
Summary: Side-channel spillway is representative types of earth or rockfill dams to discharge  
floods instead of frontal-weir when terrains are narrow. The side-channels have been being studied  
since the early years of the twentieth century. Flow in side-channel is a typical hydraulics for  
spatially varied flow with increasing discharge. Hoover dam in the Colorado river on the Nevada  
and Arizona border (USA) is known as the first side-channel spillway in the world base on the  
results of a large test project in the mid 1930s. This article will review some remarkable study of  
hydraulic structures and spatially varied flow. Some information in this paper will be a reference  
for studying this exciting hydraulics phenomenon.  
Keywords: Side-channel, Spatially varied flow, Side weir.  
1. GIỚI THIỆU *  
tràn ngang thường có mặt cắt ngang hình chữ  
nhật hoặc hình thang (hình 5, hình 6, hình 7).  
Trong thực tế, hệ thống máng thu nước mưa  
Đáy máng theo phương dòng chảy có thể thẳng  
trên mái nhà (hình 1), máng thoát nước tràn của  
hoặc cong với độ dốc nào đó phù hợp với tính  
bể bơi (hình 2) hay rãnh biên (hình 3), rãnh  
toán thủy lực. Ưu điểm của máng tràn bên là  
đỉnh, mương cắt dốc (hìn 4) là ứng dụng của  
vận tốc dòng chảy nhỏ ở khu vực đầu vào máng,  
máng tràn bên có lưu lượng tăng dần dọc theo  
mực nước trong hồ tăng không đáng kể khi lưu  
chiều dài của máng.  
lượng xả lớn, phụ thuộc vào cấu trúc và hình  
Các công trình thủy lợi đầu mối thường áp dụng  
dạng máng. Năng lượng được tiêu tán tốt hơn,  
hình thức tràn ngang khi gặp địa hình dốc, hẹp  
cột nước đầu kênh chuyển tiếp lớn hơn so với  
ở khu vực xây dựng công trình, sườn núi không  
tràn dọc với cùng lưu lượng đơn vị, giảm nguy  
có vị trí thích hợp để bố trí tràn dọc hay các hình  
cơ xói. Nhược điểm là mực nước hồ tăng đột  
thức tháo lũ khác. Máng tràn bên của đường  
Ngày nhận bài: 20/9/2018  
Ngày duyệt đăng: 28/11/2018  
Ngày thông qua phản biện: 11/11/2018  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
1
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
biến khi dòng chảy trong máng chuyển trạng lan truyền xuống máng liền kề hoặc kênh tháo.  
thái từ tự do sang chảy ngập và dòng xoáy sẽ  
Hình 1. Máng thu nước mưa trên mái nhà  
Hình 2. Máng thu nước tràn của bể bơi  
Hình 3. Rãnh biên thoát nước ven đường  
Hình 4. Kênh tiêu cắt dốc  
Hình 5. Mặt cắt ngang dòng chảy trong máng bên hình chữ nhật và hình thang  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
2
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Hình 6. Đường tràn ngang và máng bên  
hồ Đa My, tỉnh Bình Thuận  
Hình 7. Đường tràn ngang và máng bên  
đập Hoover, Mỹ  
n là hằng số). Phương trình động lượng thể hiện  
mối quan hệ giữa chiều sâu dòng chảy, lưu tốc và  
lưu lượng trong máng như sau:  
2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU  
TRÊN THẾ GIỚI  
Dòng chảy không ổn định và dòng chảy biến đổi  
gấp trong lòng dẫn hở là những hiện tượng thủy lực  
đã được nghiên cứu từ thế kỷ XVIII. Dòng biến  
lượng là một dạng riêng của vật thể chuyển động có  
khối lượng thay đổi. Các nhà cơ học đặt ra những  
cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu hiện tượng này  
từ cuốithế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.  
dh v dv qv2  
(1)  
dx g dx gQ  
trong đó: g - gia tốc trọng trường, g = 9,81m/s2.  
Lời giải của phương trình (1) được tìm bằng  
phương pháp cộng từng bước, bắt đầu từ điều  
kiện biên và dòng chảy ở hạ lưu máng bên là dòng  
chảy êm. Trong trường hợp dòng chảy đoạn đầu  
kênh nối tiếp máng bên là dòng chảy xiết, Hinds  
(1926) giả thiết gần đúng chiều sâu dòng chảy tại  
đó là chiều sâu phân giới. Các thí nghiệm thường  
quan sát thấy hiện tượng không khí bị cuốn vào  
dòng chảy làm tăng sự xáo trộn bề mặt tới gần  
cuối hạ lưu máng tràn bên. Các đặc trưng cấu trúc  
dòng xoắn trong máng tràn bên phụ thuộc dòng  
gia nhập. Các dòng xoáy đó được gọi là dòng  
xoắn ốc.  
Hinds J. được biết đến là tác giả đầu tiên trên thế  
giới nghiên cứu chế độ thủy lực trong máng tràn  
bên và được công bố năm 1926. Theo đó, chế độ  
thủy lực trong máng tràn bên là dòng biến lượng  
có lưu lượng tăng dần dọc theo máng, phụ thuộc  
vào lưu lượng gia nhập ở cạnh bên.  
Julian Hinds sinh ngày22/12/1881 tại Warrenton,  
bang Alabama, Mỹ và mất ngày 15/7/1977 tại  
Santa Barbara, bang California, Mỹ. Quá trình  
làm việc, Hinds đã đạt nhiều giải thưởng và là tác  
giả hoặc đồng tác giả nhiều bài báo và sách về  
công trình đập, thí nghiệm thủy lực công trình  
[17].  
Henry Favre sinh ngày 10/6/1901 tại Genève,  
Thụy Sĩ và mất ngày 30/5/1966 tại Zurich, Thụy  
Sĩ. Favre lần đầu nghiên cứu về dòng biến lượng  
năm 1933 [9], trong đó phương trình cơ bản của  
dòng ổn định trong kênh thu nhận được từ  
phương trình năng lượng và phương trình động  
lượng. Sau đó Favre tiến hành nghiên cứu chi tiết  
cho trường hợp dòng chảy có lưu lượng tăng dần  
dọc theo kênh dẫn. Các giải pháp và luận giải chặt  
chẽ hơn nghiên cứu ban đầu của Hinds (1926).  
Favre đã đưa ra được giải pháp nghiên cứu khá  
chính xác đối với chất lỏng lý tưởng trong kênh  
dẫn mặt cắt hình chữ nhật, được kiểm chứng bằng  
các kết quả thí nghiệm và phù hợp với lý thuyết.  
Nghiên cứu ban đầu của Hinds (1926) cho thấy,  
tổn thất năng lượng dòng chảy trong máng có thể  
xác định bằng phương trình động lượng, phụ  
thuộc vào lưu lượng gia nhập ở cạnh bên. Đối với  
những dòng chảy dạng này, Hinds giả định rằng  
lưu lượng tăng tuyến tính dọc theo chiều dài  
máng, Q = qx (với q là lưu lượng đơn vị và x là  
tọa độ dọc theo máng). Tại vị trí đầu máng (x = 0)  
thì lưu lượng Q = 0, tức là cạnh đầu máng không  
có dòng chảy. Hinds cũng tiếp tục giả định vận  
tốc dòng chảy bình quân dọc theo máng có mối  
quan hệ với tọa độ dọc máng là v = axn (với a và  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
3
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Phương trình dòng biến lượng được bổ sung thêm máng tràn bên của đập Boulder Canyon. Các thí  
thành phần tổn thất năng lượng tỷ lệ thuận với lưu nghiệm chủ yếu thực hiện đo đạc quan trắc đường  
tốc cục bộ, hướng dòng chảy gia nhập ở cạnh bên mặt nước trong máng tràn bên có mặt cắt hình  
và tỷ lệ giữa lưu lượng gia nhập với lưu lượng thang và so sánh với kết quả tính toán từ phương  
trong máng bên tại vị trí gia nhập [8].  
trình động lượng  
(1). Tác giả đã đưa ra  
nhận định rằng sẽ xuất hiện dòng xoắn mạnh ba  
chiều khi lưu lượng xả qua tràn nhỏ do chênh lệch  
cao trình đỉnh tràn ngang với đáy máng tràn bên  
[8].  
Năm1934, Meyer - Peter và Favre đã áp dụng các  
kết quả nghiên cứu trước đó cho máng tràn bên  
của đập Boulder, nay là đập Hoover trên sông  
Colorado (Hình). Các kết quả nghiên cứu cho  
thấy mức độ phù hợp giữa lý thuyết và thực Cho đến nay, công trình nghiên cứu về thủy lực  
nghiệm là tương đối tốt.  
máng bên được trích dẫn nhiều nhất là công trình  
nghiên cứu của tác giả Camp (1940). Thomas  
Ringgold Camp sinh ngày 05/11/1895 tại San  
Antonio, bang Taxas, Mỹ và mất ngày  
15/11/1971 tại Boston, bang Massachusetts, Mỹ  
[18]. Nghiên cứu dòng chảy trong máng tràn bên,  
Camp cũng sử dụng phương trình động lượng với  
việc đơn giản hóa thành phần ma sát và máng có  
mặt cắt lăng trụ với chiều rộng đáy không đổi.  
Mặt cắt máng bên được nghiên cứu cho cả dạng  
hình chữ nhật và khác hình chữ nhật. Phương  
trình nhận được nghiệm đóng có dạng một đẳng  
thức tích phân. Thành phần ma sát được xác định  
từ thực nghiệm khi nghiên cứu bằng dòng ổn  
định. Kết quả nghiên cứu của Camp đã giúp giải  
quyết được bài toán của trạm xử lý nước thải,  
chẳng hạn như việc thiết kế hệ thống lọc cặn nước  
thải [8].  
Cũng trong năm 1934, tác giả Beij đã công bố kết  
quả nghiên cứu của mình. Karl Hilding Beij sinh  
ngày 10/11/1893 tại Hartford, bang Connecticut,  
Mỹ và mất ngày 26/02/1986 tại Franklin, bang  
New Hampshire, Mỹ[18]. Beij đã nghiên cứu chế  
độ thủy lực trong máng thu nước mưa trên mái  
nhà và kết luận rằng đây là trường hợp ứng dụng  
đặc biệt của máng tràn bên. Hình dạng mặt cắt  
máng thu nước mưa được xem xét với ba dạng cơ  
bản là nửa hình tròn, hình tam giác và hình chữ  
nhật. Phương trình xác định đường mặt nước  
được thiết lập dựa trên phương trình động lượng  
tương tự Hinds (1926). Ngoài ra, Beij bước đầu  
nghiên cứu chế độ thủy lực chuyển tiếp từ máng  
tràn bên sang đoạn kênh nối tiếp. Beij thiết lập  
trạng thái chảy trong đoạn kênh nối tiếp là dòng  
chảy xiết. Quan sát chi tiết thí nghiệm, nhận thấy  
chiều sâu dòng chảy lớn nhất xảy ra trên đoạn đầu  
kênh nối tiếp, giá trị lần lượt là [2]:  
Những năm đầu thập niên 40 của thế kỷ XX, các  
nhà khoa học thủy lực ở Châu Âu đã nghiên cứu  
bổ sung về lý thuyết và thực nghiệm cho dòng  
3hk  
đối với kênh có mặt cắt hình chữ nhật; và chảy trong máng tràn bên. Giulio De Marchi là  
một nhà khoa học về thủy lực ở Châu Âu nổitiếng  
3 5  
2
trong lĩnh vực nghiên cứu thủy lực máng tràn bên.  
Giulio De Marchi sinh ngày 06/8/1890 tại  
hk  
đối với kênh có mặt cắt hình tam giác,  
trong đó: hk - chiều sâu phân giới.  
Canneto Pavese, Ý và mất ngày 15/3/1972 tại  
Milano, Ý [18]. De Marchi, G. (1941) đã áp dụng  
phương trình động lượng cho dòng biến lượng để  
xác định đường mặt nước trong máng tràn bên ở  
trạng thái chảy êm, chảy xiết và trạng thái chảy  
xiết - êm thông qua nước nhảy. Tác giả đã nghiên  
cứu lý thuyết và thực nghiệm dạng đường mặt  
nước trên kênh lăng trụ mặt cắt hình chữ nhật.  
Từ nghiên cứu thực nghiệm, Beij đã xác định  
được khả năng tháo của máng thu nước mưa trên  
mái nhà và đã viết chỉ dẫn thiết kế máng thu nước  
mưa.  
John Chatfield Page sinh ngày 12/10/1887 tại  
Syracuse, bang Nebraska, Mỹ và mất ngày  
23/3/1955 tại Denver, bang Colorado, Mỹ [18].  
Với vai trò chủ nhiệm dự án Boulder Canyon của  
Cục Khai hoang Mỹ, John C. Page đã thực hiện  
nhiều dự án điều tra khảo sát thủy lực công trình  
đập, trong đó có dự án nghiên cứu chế độ thủy lực  
Duilio Citrini là nhà khoa học kế cận các nghiên  
cứu của De Marchi. Duilio Citrini sinh ngày  
26/4/1913 tại Milano, Ý và mất ngày 06/01/2006  
[18]. Citrini (1942) đã nghiên cứu chi tiết dòng  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
4
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
f v2  
chảy trong máng bên khi có lưu lượng gia nhập  
tăng dần dọc theo máng. Tác giả đã bổ sung tham  
số vào phương trình đường mặt nước. Tham số  
đó phụ thuộc vào chiều rộng kênh và số Froude.  
Cũng theo nghiên cứu của tác giả, dòng chảy phía  
thượng lưu máng bên ở trạng thái êm có chiều sâu  
lớn nhất khi mặt cắt là hình tam giác và nhỏ nhất  
khi mặt cắt là hình chữ nhật. Citrini (1948) đã  
nghiên cứu chi tiết hơn về hiện tượng nước nhảy,  
tổn thất năng lượng trong máng bên và ảnh hưởng  
của hướng dòng chảy gia nhập tới dạng đường  
mặt nước.  
S   
thủy lực là  
. Như vậy, từ phương trình  
f
h 2g  
(2) nhận được hệ phương trình (3):  
f v2  
h 2g  
2q2x  
gb2h2  
S   
0  
0
(3)  
q2x2  
1  
0  
gb2h3  
Trong hệ phương trình (3), hệ số ma sát f được  
xác định theo kết quả thí nghiệm của Beij (1934).  
Hệ phương trình được ứng dụng để khảo sát  
đường mặt nước trong máng bên. Theo kết quả  
nghiên cứu thực nghiệm của Keulegan G. H.  
(1952) thì hệ phương trình (3) cho kết quả tương  
đối phù hợp khi chiều sâu dòng chảy trong máng  
rất nhỏ.  
Garbis H. Keulegan được biết đến là một nhà  
khoa học về toán học và thủy lực học, tiểu sử và  
các công trình khoa học tiêu biểu của tác giả được  
giới thiệu trong Tuyển tập các nhà khoa học về  
thủy lực ở Châu Âu giai đoạn 1800 - 2000 [9].  
Keulegan sinh ngày 12/7/1890 tại Armenia (Thổ  
Nhĩ Kỳ) và mất ngày 28/7/1989 tại Vicksburg,  
bang Mississippi, Mỹ. Keulegan là người đầu tiên  
ứng dụng phương pháp tìm điểm suy biến từ  
phương trình vi phân khảo sát đường mặt nước  
trong máng bên trên cơ sở phương pháp của De  
Marchi. Theo nghiên cứu của Keulegan G. H.  
(1952), phương trình mô phỏng đường mặt nước  
trong máng tràn bên lăng trụ mặt cắt hình chữ  
nhật có dạng: [11]  
Li W. H. cũng nghiên cứu dòng chảy một chiều  
trong máng tràn bên bằng phương trình động  
lượng. Wen Hsiung Li sinh ngày 05/11/1918 tại  
tỉnh Sin Hiu, Trung Quốc và mất ngày 13/9/2002  
tạiHartford, bang Connecticut, Mỹ[18]. Li W. H.  
đặc biệt quan tâm nghiên cứu ảnh hưởng của độ  
dốc đáy máng và phân loại chúng theo số Froude  
S0L  
và tỷ số  
, trong đó L là chiều dài đường tràn  
hTW  
Q Q  
ngang, S0 là độ dốc đáy máng và hTW là chiều sâu  
dòng chảy cuối máng tràn bên. Hình dạng mắt cắt  
máng được nghiên cứu là hình chữ nhật và một số  
dạng mặt cắt hình thang. Tác giả cũng nghiên cứu  
dòng chảy trong máng ở cả hai trạng thái êm và  
xiết. Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy ảnh  
hưởng của độ nhám mái máng bên là không đáng  
kể, do đó có thể bỏ qua ảnh hưởng của chúng tới  
chế độ thủy lực trong máng [14].  
S0 Sf 2  
gA2  
x  
dh  
1Fr2  
dx  
2q2 x  
(2)  
S0 Sf   
gb2h2  
q2x2  
gb2h3  
1  
Sassoli đã thực hiện một dự án thí nghiệm nghiên  
cứu dạng đường mặt nước trong máng tràn bên  
của đường tràn ngang. Franco Sassoli sinh ngày  
15/5/1923 tại Pisa, Ý [9]. Sassoli tiến hành thí  
nghiệm trên máng bên có chiều dài 10m, chiều  
rộng 0,5m, mặt cắt hình chữ nhật, trong đó 2,5m  
đầu máng có lưu lượng gia nhập cạnh bên. Độ dốc  
đáy máng được thiết kế 10 cấp từ S0 = 0,05 đến  
S0 = 0,15. Lưu tốc trong máng bên được đo bằng  
ống Pito để từ đó xác định hệ số hiệu chỉnh động  
lượng. Dạng mặt nước trên mặt cắt ngang được  
trong đó:  
S0 - độ dốc đáy máng bên;  
Sf - độ dốc ma sát (độ dốc thủy lực).  
b- chiều rộng đáy máng bên(b là hằng số vì máng  
có dạng lăng trụ);  
q - lưu lượng trên một đơn vị chiều dài máng bên.  
Tại điểm suy biến, dòng chảy ở trạng thái chảy  
phân giới(Fr2 = 1), khiđó cả tử số và mẫu số cùng  
tiến tới "0". Cũng tại điểm suy biến này thì độ dốc  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
5
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
mô phỏng toán học bằng cách bổ sung thêm lưới nên chỉ dừng ở việc tham chiếu lại từ tác giả khác.  
tính một chiều [15].  
Konovalov I. M. (1937) đã công bố nghiên cứu về  
Chow V. T. là một nhà khoa học nổi tiếng trong  
lĩnh vực thủy lực, thủy văn. Ven Te Chow sinh  
ngày 07/10/1919 tại Hàng Châu, Trung Quốc và  
mất ngày 30/7/1981 tại Champaign, bang Illinois,  
Mỹ [18]. Chow V. T. đã xây dựng phương trình  
chuyển động cho dòng ổn định có lưu lượng thay  
đổi dọc đường trong kênh hở và ứng dụng cho các  
đập tràn ngang tháo lũ. Trong khi thiết lập phương  
trình chuyển động, tác giả đã cho rằng, dòng chảy  
phụ chảy vuông góc vào dòng chính. Vấn đề khảo  
sát các phương trình rất phức tạp, không dễ dàng  
như khi khảo sát dòng chảy trong kênh lăng trụ  
chảy ổn định với lưu lượng không đổi. Chow V. T.  
gọi dòng chảy như vậy là dòng chảy thay đổi theo  
không gian [4].  
dòng biến lượng trong cuốn Dòng chảy có lưu  
lượng thay đổi (Движение жидкости с  
переменным расходом). Theo đó, phương trình  
khảo sát đường mặt nước trong máng được thiết  
lập dựa trên nguyên lý năng lượng. Phương trình  
thu nhận được là tổ hợp sự biến đổi của cột nước  
lưu tốc trung bình mặt cắt và tỷ lệ giữa cột nước  
lưu tốc trung bình đoạn tính toán với chiều dài  
đoạntính toán. Phương trình của Konovalov có xét  
đến ảnh hưởng của hướng dòng chảy gia nhập hay  
phân tán. Phương trình có dạng: [1] [13]  
Q dQ Q2 A  
S0 Sf k0  
gA2  
gA3  
dx  
x  
dh  
dx  
(6)  
1Fr2  
Áp dụng nguyên lý động lượng và năng  
lượng, Chow V. T. đã thiết lập được phương  
trình vi phân đường mặt nước trong máng tràn  
bên có lưu lượng tăng dần theo chiều dài  
máng. Các phương trình nhận được lần lượt là  
trong đó:  
k0 - hệ số, k0 = 1 +   n0;  
- hệ số hiệu chỉnh động năng;  
(4) và  
(5) [4]:  
n0 - tỷ số giữa hình chiếu của lưu tốc toàn phần  
của khối gia nhập hoặc phân tán lên phương  
chuyển động vlx và vận tốc của dòng chủ v. Nếu  
khối gia nhập hoặc phân tán chuyển động thẳng  
góc với dòng chủ thì vlx = 0 và n0 = 0.  
Qq  
gA2  
S0 Sf 2  
dh  
dx  
(4)  
(5)  
Q2  
gA2  
1  
h
3. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU  
TRONG NƯỚC  
Qq  
gA2  
S0 Sf   
dh  
dx  
GS. Nguyễn Văn Cung nguyên hiệu trưởng  
Trường Đại học Thủy lợi thời kỳ 1974 - 1981.  
Giáo sư sinh ngày 15/9/1930 tại xã Bùi Xá,  
huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh và mất năm 1981  
tại Hà Nội. GS. Nguyễn Văn Cung (1964) đã  
xây dựng phương trình động lực cho dòng chảy  
ổn định có lưu lượng thay đổi dọc dòng chảy  
chính. Gia tốc của dòng phụ tác động lên dòng  
chảy chính được tác giả tìm ra nhờ nguyên lý  
bảo toàn động lượng. Các kết quả nghiên cứu  
đó đưa đến phương trình động lực đối với dòng  
chất lỏng lý tưởng. Phương trình có dạng:  
Q2  
gA2  
1  
h
Phương trình (4) của Chow V. T. cũng giống  
phương trình (2) của Keulegan G. H, trong đó  
A
là chiều sâu trong bình trong máng và B  
h  
B
là chiều rộng mặt thoáng. Các ký hiệu khác như  
đã biết ở trên.  
Các nhà khoa học về thủy lực ở Liên Xô (cũ) như  
Konovalov I. M., Malisevski N. G., Milovitov A.  
IA., Nenko IA. G., Gaxanov G. T. ... cũng có  
những công trình nghiên cứu về dòng biến lượng  
và máng tràn bên [1] [13]. Tuy nhiên, do chưa  
được tiếp cận với các tài liệu gốc của các tác giả  
v vlx  
gQ  
p
v2  
2g  
z   
dQ hf const (7)  
  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
6
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
GS. TS. Hoàng Tư An nguyên giảng viên bộ thủy lực cho đường tràn ngang, máng tràn bên  
môn Thủy lực, trường Đại học Thủy lợi (1965 - tháo lũ ở các hồ chứa, các hệ thống dẫn nước có  
2006). Giáo sư sinh ngày 20/4/1941 tại xã Nhân đường tràn bên và các hệ thống tiêu nước vùng  
Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Năm triều...  
1987, khi nghiên cứu về dòng chảy trên hệ  
4. KẾT LUẬN  
thống kênh dẫn trạm thủy điện nhỏ kiểu đường  
Hiện nay, việc thiết kế thủy lực máng tràn bên  
dẫn hở, GS. TS. Hoàng Tư An và cs. đã phối  
của đường tràn ngang đã được trình bày trong  
hợp với Công ty Điện lực Sông Đà phát triển  
các sổ tay tính toán thiết kế công trình thủy lợi  
các ý tưởng của GS. Nguyễn Văn Cung và các  
trong và ngoài nước. Hiện tượng dòng biến  
nhà khoa học khác để mở rộng bài toán dòng  
lượng trong máng tràn bên tuy bắt đầu nghiên  
không ổn định có lưu lượng thay đổi dọc theo  
cứu từ những thập niên đầu của thế kỷ XX,  
dòng chính.  
muộn hơn so với nghiên cứu các dạng chuyển  
Phương trình cơ bản của chuyển động ổn định có  
động khác của chất lỏng, nhưng đến khoảng  
lưu lượng thay đổi dọc đường dẫn khi có dòng gia  
nhập hoặc phân tán có dạng như sau [1]:  
giữa thế kỷ XX, lý thuyết về hiện tượng thủy  
lực này đã gần như được hoàn thiện. Vì có sự  
1
g
v2  
2g  
p
gia nhập dòng chảy liên tục dọc theo chiều dài  
máng bên nên tổn thất năng lượng trong dòng  
chảy khá lớn, do đó phương trình năng lượng  
không mô phỏng được hiện tượng mà phải sử  
dụng phương trình động lượng. Dựa vào  
1n0  
vdQ   
z hf const (8)  
A
Các đại lượng trong phương trình (7) và (8)  
như sau:  
n0 - tỷ số giữa hình chiếu của vận tốc toàn phần phương trình động lượng và điều kiện biên,  
của khối gia nhập hoặc phân tán lên phương đường mặt nước trong máng được xác định.  
chuyển động vlx và vận tốc của dòng chủ v, Phương pháp nghiên cứu dần được hoàn thiện  
vlx  
khi Keulegan G. H. lần đầu tiên sử dụng  
phương pháp phân tích suy biến phương trình  
vi phân dòng biến lượng của De Marchi. Bài  
báo đã trình bày các công trình nghiên cứu thủy  
lực máng tràn bên của đường tràn ngang ở công  
trình đầu mối hồ chứa nước trong và ngoài  
nước. Đây là một hiện tượng thủy lực thú vị, đó  
là dòng biến lượng có lưu lượng tăng dần dọc  
theo chiều dài máng bên. Các nhà khoa học thủy  
lực hàng đầu thế giới nghiên cứu hiện tượng  
thủy lực này đến từ các quốc gia mạnh về khoa  
học và công nghệ như Mỹ, Nga, Ý và các nhà  
khoa học Liên Xô (cũ). Trong tương lai, có thể  
sẽ có những nghiên cứu bổ sung, chi tiết hơn,  
nhằm hoàn thiện những tồn tại mà bản thân  
phương trình dòng biến lượng chưa giải quyết  
được.  
n 0  
v
. Nếu khối gia nhập hoặc phân tán  
chuyển động thẳng góc với dòng chủ thì vlx = 0  
và n0 = 0;  
dQ - sự thay đổi lưu lượng trên chiều dài đoạn  
lòng dẫn dx;  
A - diện tích mặt cắt ướt của dòng chủ;  
z - vị năng đơn vị của một điểm đang xét tại một  
mặt cắt trong dòng chủ;  
p
- áp năng đơn vị của một điểm đang xét tại  
một mặt cắt trong dòng chủ;  
hf - cột nước tổn thất năng lượng.  
Phương trình (7) và (8) cũng có xét đến ảnh  
hưởng của lưu tốc dòng gia nhập hay phân tán  
vlx. Ứng dụng các phương trình có thể tính toán  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
7
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
[1] Hoàng Tư An và cs. (2004), Dòng chảy không gian không ổn định trong hệ thống kênh dẫn  
hở của trạm Thủy điện, Tạp chí Thủy lợi và Môi trường, số 5.  
[2] Beij K. H. (1934), Flow in roof gutters, U.S. Dept. of Commerce, Bureau of Standards:  
Research Paper RP644, Bureau of Standards J. Res., 12, 193–213.  
[3] Camp, T. R., (1940), Lateral spillway channels, Trans. ASCE, vol. 105, p. 606-637.  
[4] Chow V.T. (1969) - Spatially varied flow equations - Water resources research, University  
of Illinois, Urbana, Illinois 61801, Vol. 5, No. 5, p.1124-1128;  
[5] Citrini D. (1942), Canali rettangolari con portata e larghezza gradualmente variabili  
(Rectangular channels with gradually-varied discharge and width). L’Energia Elettrica  
19(5), 254-262; 19(6), 297-301 [in Italian].  
[6] Nguyễn Văn Cung và cs. (1964), Dòng biến lượng và đập tràn ngang, Tạp chí Khoa học Kỹ  
thuật, số 18;  
[7] De Marchi G. (1941), Canali con portata progressivamente crescente (Channels with  
progressively increasing discharge), L’Energia Elettrica, 18(6), 351–360 (in Italian).  
[8] Hager W. H. (1983), Open channel hydraulics of flows with increasing discharge, Journal  
of Hydraulic Research, 21:3, 177-193, DOI: 10.1080/00221688309499413.  
[9] Hager W. H. (2009), Hydraulicians in Europe 1800-2000, Vol. 2, © Taylor&Francis group.  
[10] Hinds, J. (1926), Side channel spillways: Hydraulic theory, economic factors, and  
experimental determination of losses. Trans. ASCE, vol. 89, p. 881-939.  
[11] Keulegan G. H. (1944), Spatially variable discharge over a sloping plane. Trans. AGU 6,  
956-959.  
[12] Keulegan G. H. (1952), Determination of critical depth in spatially variable flow, Proc. 2nd  
Mid-western Conf. Fluid Mechanics, Ohio State University, 67-80.  
[13] Kiselev K. G. và nnk., (1984), Sổ taytính toánthủy lực (bản dịch tiếng Việt), NXB. Nông nghiệp.  
[14] Li, W. H. (1955), Open channels with non-uniform discharge. Trans. ASCE 120, 255-280.  
[15] Sassoli, F. (1959), Canali collettori laterali a forte pendenza (Side-channels of large bottom  
slope), L’Energia Elettrica 36(1), 26-39 [in Italian].  
[16] Viện Khoa học Thủy lợi, (2005), Sổ tay Kỹ thuật thủy lợi, Phần 2 - Công trình thủy lợi, Tập  
2 - B. Công trình tháo lũ, NXB. Nông nghiệp.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
8
pdf 8 trang yennguyen 12740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số nghiên cứu tiêu biểu về dòng biến lượng và máng tràn bên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_nghien_cuu_tieu_bieu_ve_dong_bien_luong_va_mang_tran.pdf