Luận văn Phân tích các yếu tố thúc đẩy thị trường logistics và nhận định về mức độ phát triển ngành dịch vụ logistics của Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thị Linh KT45A-018-1822  
HỌC VIỆN NGOẠI GIAO  
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ  
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ THÚC ĐẨY THỊ TRƯỜNG  
LOGISTICS VÀ NHẬN ĐỊNH VỀ MỨC ĐỘ PHÁT TRIỂN NGÀNH  
DỊCH VỤ LOGISTICS CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY  
Giảng viên hướng dẫn  
Sinh viên thực hiện  
Lớp  
: TS. Lâm Tuân Hưng  
: Nguyễn Thị Linh  
: KT45A  
Mã sinh viên  
: KT45A-018-1822  
Hà Nội, 2020  
Nguyễn Thị Linh KT45A-018-1822  
MỤC LỤC  
Nguyễn Thị Linh KT45A-018-1822  
 
Nguyễn Thị Linh KT45A-018-1822  
DANH SÁCH BẢNG, BIỂU ĐỒ  
Tên bảng/biểu đồ  
Bảng 1  
Quy mô vốn đăng ký các DN Logistics Việt Nam trong giai đoạn  
(2011 – 2015)  
Bảng 2  
Các chỉ tiêu đánh giá LPI  
Biểu đồ 1  
Biểu đồ 2  
Biểu đồ 3  
Sơ đồ chuỗi cung ứng  
Chỉ số thương mại hàng hóa của WTO  
Mối tương quan giữa tăng trưởng GDP toàn cầu và thương mại  
đường biển  
Biểu đồ 4  
Biểu đồ 5  
Biểu đồ 6  
Biểu đồ 7  
Biểu đồ 8  
Biểu đồ 9  
Biểu đồ 10  
Biểu đồ 11  
Mức độ thuê ngoài của các DN Việt Nam  
Xếp hạng LPI của các quốc gia ĐNA  
LPI Việt Nam theo thành phần  
Những loại dịch vụ Logistics được cung cấp  
Khối lượng hàng hóa vận tải và lưu chuyển qua các năm  
Số lượng DN và lao động kho 2015-2019  
Cơ cấu DN dịch vụ kho  
Doanh thu từ Logistics qua các năm  
DANH SẮT VIẾT TẮT  
Kí hiệu  
DN  
Doanh nghiệp  
ĐNA  
WB  
Đông Nam Á  
World Bank – Ngân hàng Thế giới  
World Trade Organization – Tổ chức Thương mại thế giới  
Gross Domestic Product – Tổng sản phẩm quốc nội  
Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển  
WTO  
GDP  
UNCTAD  
4
 
Nguyễn Thị Linh KT45A-018-1822  
LỜI MỞ ĐẦU  
Xu thế tất yếu của thời đại ngày nay là toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới. Toàn  
cầu hóa tạo điều kiện cho giao thương giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới phát  
triển mạnh mẽ, và đương nhiên sẽ dẫn đến bước phát triển mới của Logistics. Trong vài  
thập niên gần đây Logistics đã phát triển nhanh chóng và mang lại những kết quả rất tốt  
đẹp ở nhiều nước trên thế giới, điển hình như Hà Lan, Thụy Điển, Đan Mạch, Hoa Kỳ,  
… Trong những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, thuật ngữ Logistics được nhắc đến  
nhiều ở các nước Đông Á, Đông Nam Á (ĐNA) và đặc biệt phát triển ở Singapore.  
Nhưng ở Việt Nam, Logistics còn là ngành mới mẻ, ít người biết đến nhưng lại đem về  
cho quốc gia một nguồn lợi khổng lồ.  
Với đề tài: “PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ THÚC ĐẨY THỊ TRƯỜNG  
LOGISTICS VÀ NHẬN ĐỊNH VỀ MỨC ĐỘ PHÁT TRIỂN NGÀNH DỊCH VỤ  
LOGISTICS CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY” em mong muốn nêu ra những vấn để cơ  
bản của Logistics, những yếu tố thúc đẩy ngành Logistics hiện nay, đánh giá sự phát  
triển của Logistics Việt Nam và đề xuất những giải pháp để thúc đẩy Logistics tại Việt  
Nam phát triển hơn nữa.  
NỘI DUNG  
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG LOGISTICS  
1.1. ĐỊNH NGHĨA LOGISTICS  
1.1.1. Khái niệm  
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về Logistics cũng như dịch vụ Logistics được  
đưa ra bởi các cá nhân, tổ chức nghiên cứu về lĩnh vực này.  
Theo Hiệp hội các nhà chuyên nghiệp về quản trị chuỗi cung ứng (Council of  
Supply Chain Management Professionals - CSCMP), thì thuật ngữ này được định  
nghĩa khá đầy đủ như sau:  
“Quản trị Logistics là một phần của quản trị chuỗi cung ứng bao gồm việc hoạch  
định, thực hiện, kiểm soát việc vận chuyển và dự trữ hiệu quả hàng hóa, dịch vụ cũng  
như những thông tin liên quan từ nơi xuất phát đến nơi tiêu thụ để đáp ứng yêu cầu của  
khách hàng. Hoạt động của quản trị Logistics cơ bản bao gồm quản trị vận tải hàng hóa  
5
       
Nguyễn Thị Linh KT45A-018-1822  
xuất và nhập, quản lý đội tàu, kho bãi, nguyên vật liệu, thực hiện đơn hàng, thiết kế  
mạng lưới Logistics, quản trị tồn kho, hoạch định cung/cầu, quản trị nhà cung cấp dịch  
vụ thứ ba. Ở một số mức độ khác nhau, các chức năng của Logistics cũng bao gồm việc  
tìm nguồn đầu vào, hoạch định sản xuất, đóng gói, dịch vụ khách hàng. Quản trị  
Logistics là chức năng tổng hợp kết hợp và tối ưu hóa tất cả các hoạt động Logistics  
cũng như phối hợp hoạt động Logistics với các chức năng khác như marketing, kinh  
doanh, sản xuất, tài chính, công nghệ thông tin.”  
Theo Điều 233 Luật Thương mại Việt Nam 2005 và Nghị định 140/2007 NĐ-  
CP của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh Logisgtics  
đưa ra khái niệm cụ thể về thuật ngữ Logistics như sau:  
“Dịch vụ Logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực  
hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm  
thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký  
mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với  
khách hàng để hưởng thù lao.”  
1.1.2. Bản chất  
Cho dù có nhiều khái niệm đưa ra với nhiều ngôn ngữ và cách thức diễn đạt khác  
nhau, nhưng xét về bản chất, hoạt động Logistics theo sát suốt quá trình sản xuất, kinh  
doanh, tiêu dùng một sản phẩm. Vậy có thể hiểu, bản chất của Logistics là quá trình tối  
ưu hóa về vị trí, lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên hay yếu tố đầu vào (bao gồm  
nguyên liệu, vốn, thông tin, nhân lực) từ điểm xuất phát đầu tiên là nhà cung cấp, qua  
nhà sản xuất, nhà bán buôn, bán lẻ đến tay người tiêu dùng, thông qua hàng loạt các hoạt  
động kinh tế.  
Có thể minh họa sự kết hợp của Logistics đầu vào và đầu ra trong sơ đồ sau:  
6
 
Nguyễn Thị Linh KT45A-018-1822  
Quản lí cung  
ứng kĩ thuật  
Phân phối sản  
phẩm  
Biểu đồ 1: Sơ đồ chuỗi cung ứng  
1.2. PHÂN LOẠI CÁC HOẠT ĐỘNG LOGISTICS  
1.2.1. Theo phạm vi và mức độ quan trọng  
Đầu tiên phải kể đến là Logistics kinh doanh (Bussiness Logistics) là một phần  
của quá trình chuỗi cung ứng, nhằm hoạch định thực thi và kiểm soát một cách hiệu quả  
và hiệu lực các dòng vận động và dự trữ sản phẩm, dịch vụ và thông tin có liên quan từ  
các điểm khởi đầu đến điểm tiêu dùng nhằm thoả mãn những yêu cầu của khách hàng  
Thứ hai, Logistics quân đội (Military Logistics) là việc thiết kế và phối hợp các  
phương diện hỗ trợ và các thiết bị cho các chiến dịch và trận đánh của lực lượng quân  
đội. Đảm bảo sự sẵn sàng, chính xác và hiệu quả cho các hoạt động này.  
Thứ ba, Logistics sự kiện (Event Logistics) là tập hợp các hoạt động, các phương  
tiện vật chất kỹ thuật và con người cần thiết để tổ chức, sắp xếp lịch trình, nhằm triển  
khai các nguồn lực cho một sự kiện được diễn ra hiệu quả và kết thúc tốt đẹp  
Cuối cùng, Dịch vụ Logistics (Service Logistics) bao gồm các hoạt động thu nhận,  
lập chương trình, và quản trị các điều kiện cơ sở vật chất/ tài sản, con người, và vật liệu  
nhằm hỗ trợ và duy trì cho các quá trình dịch vụ hoặc các hoạt động kinh doanh doanh.  
1.2.2. Theo vị trí của các bên tham gia  
Đây là một cách phân loại Logistics khá phổ biến, bao gồm:  
Logistics bên thứ nhất (1PL- First Party Logistics): là hoạt động Logistics do  
người chủ sở hữu sản phẩm/ hàng hoá tự mình tổ chức và thực hiện để đáp ứng nhu cầu  
của bản thân DN.  
Logistics bên thứ hai (2PL - Second Party Logistics): chỉ hoạt động Logistics do  
người cung cấp dịch vụ Logistics cho một hoạt động đơn lẻ trong chuỗi cung ứng để  
đáp ứng nhu cầu của chủ hàng.  
7
     
Nguyễn Thị Linh KT45A-018-1822  
Logistics bên thứ ba (3PL - Third Party Logistics): là người thay mặt chủ hàng  
tổ chức thực hiện và quản lí các dịch vụ Logistics cho từng bộ phận chức năng.  
Logistics bên thứ tư (4PL): người cung cấp dịch vụ là người tích hợp (integrator),  
gắn kết các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất khoa học kỹ thuật của mình với các  
tổ chức khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi Logistics. 4PL hướng  
đến quản lý cả quá trình Logistics.  
Logistics bên thứ năm (5PL): được nói tới trong lĩnh vực thương mại điện tử, các  
nhà cung cấp dịch vụ Logistics cung cấp dịch vụ trên cơ sở nền tảng là thương mại điện  
tử  
1.2.3. Theo hướng vận động vật chất  
Logistic đầu vào (Inbound Logistics): Toàn bộ các hoạt động hỗ trợ dòng nguyên  
liệu đầu vào từ nguồn cung cấp trực tiếp cho tới các tổ chức.  
Logistic đầu ra (Outbound Logistics): Toàn bộ các hoạt động hỗ trợ dòng sản  
phẩm đầu ra cho tới tay khách hàng tại các tổ chức  
Logistic ngược (Logistics reverse): Bao gồm các dòng sản phẩm, hàng hóa hư  
hỏng, kém chất lượng, dòng chu chuyển ngược của bao bì đi ngược chiều trong kênh  
Logistics.  
1.2.4. Theo đối tượng hàng hóa  
Các hoạt động Logistics cụ thể gắn liền với đặc trưng vật chất của các loại sản  
phẩm. Do đó các sản phẩm có tính chất, đặc điểm khác nhau đòi hỏi các hoạt động  
Logistics không giống nhau. Điều này cho phép các ngành hàng khác nhau có thể xây  
dựng các chương trình, các hoạt động đầu tư, hiện đại hóa hoạt động Logistics theo đặc  
trưng riêng của loại sản phẩm tùy vào mức độ chuyên môn hóa, hình thành nên các hoạt  
động Logistics đặc thù với các đối tượng hàng hóa khác nhau như: Logistic hàng tiêu  
dùng ngắn ngày, Logistic ngành ô tô, Logistic ngành hóa chất, Logistic hàng đi tử,  
Logistic ngành dầu khí, …  
1.3. VAI TRÒ CỦA LOGISTICS  
1.3.1. Đối với nền kinh tế  
Ngành Logistics có vị trí ngày càng quan trọng trong các nền kinh tế hiện đại và  
có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế của các quốc gia và toàn cầu. Phần giá trị  
gia tăng do ngành Logistics tạo ra ngày càng lớn và đóng vai trò vô cùng quan trọng khi  
đem lại nhiều lợi ích cho các quốc gia có hệ thống Logistics phát triển.  
Đầu tiên, Logistics là công cụ liên kết nền kinh tế trong một quốc gia và toàn cầu  
8
       
Nguyễn Thị Linh KT45A-018-1822  
cầu thông qua việc cung cấp nguyên liệu, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị  
trường. Trong các nền kinh tế hiện đại, sự tăng trưởng về số lượng của khách hàng đã  
thúc đẩy sự gia tăng của các thị trường hàng hóa và dịch vụ trong nước và quốc tế. Hàng  
nghìn sản phẩm và dịch vụ mới đã được giới thiệu, đang được bán ra và phân phối hàng  
ngày đến các ngõ ngách của thế giới trong thập kỷ vừa qua. Để giải quyết các thách thức  
do thị trường mở rộng và sự tăng nhanh của hàng hóa và dịch vụ, các hãng kinh doanh  
phải mở rộng quy mô và tính phức tạp, phát triển các nhà máy liên hợp thay thế cho  
những nhà máy đơn. Việc phát triển hệ thống Logistics hơn giúp việc luân chuyển hàng  
hoá từ quốc gia này sang quốc gia khác trở nên dễ dàng hơn.  
Thứ hai, Logistics làm tối ưu hóa chu trình lưu chuyển hàng hóa từ nhà cung cấp  
đến người tiêu dùng. Từ thập niên 70 của thế kỷ XX, liên tiếp các cuộc khủng hoảng  
năng lượng buộc các DN phải quan tâm tới chi phí, đặc biệt là chi phí vận chuyển. Chính  
trong giai đoạn này cách thức tối ưu hóa quá trình sản xuất, lưu kho, vận chuyển hàng  
hóa được đặt lên hàng đầu. Với sự trợ giúp của công nghệ thông tin, Logistics chính là  
một công cụ đắc lực để thực hiện điều này. Vì vậy, có thể nói rằng việc quản trị tốt hệ  
thống Logistics giúp tối ưu hóa các bước trong hệ thống chuỗi cung ứng, tối thiểu hoá  
chi phí hoạt động của từng mảng để đảm bảo hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh  
doanh, qua đó đem lại lợi nhuận cho các quốc gia.  
Thứ ba, phát triển Logistics có thể giúp tiết kiệm và giảm chi phí lưu thông. Giá  
cả hàng hóa trên thị trường chính bằng giá cả ở nơi sản xuất cộng với chi phí lưu thông.  
Chi phí lưu thông hàng hóa, chủ yếu là phí vận tải chiếm một tỷ lệ không nhỏ và là bộ  
phận cấu thành giá cả hàng hóa trên thị trường, đặc biệt là hàng hóa trong buôn bán quốc  
tế. Trong buôn bán quốc tế, chi phí vận tải chiếm tỷ trọng khá lớn, theo số liệu thống kê  
của UNCTAD thì chi phí vận tải đường biển chiếm trung bình 10-15% giá FOB, hay 8-  
9% giá CIF. Mà vận tải là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống Logistics cho nên dịch  
vụ Logistics ngày càng hoàn thiện và hiện đại sẽ tiết kiệm cho phí vận tải và các chi phí  
khác phát sinh trong quá trình lưu thông dẫn đến tiết kiệm và giảm chi phí lưu thông.  
Đặc biệt, đối với các quốc gia có hệ thống Logistics chưa phát triển, việc vận chuyển và  
xuất khẩu hàng hoá sẽ gặp khó khăn do không có hệ thống vận tải đủ tốt hoặc sẽ phải  
thuê các DN từ quốc gia thứ 3 đồng nghĩa rằng phần chi phí tăng thêm sẽ rất lớn. Vì vậy,  
với việc hình thành và phát triển dịch vụ Logistics sẽ giúp toàn bộ nền kinh tế quốc dân  
giảm được chi phí trong chuỗi Logistics. Do đó, đây chính là vai trò rất lớn của Logistics  
đối với nền kinh tế của một quốc gia.  
Cuối cùng, Logistics là công cụ giúp mở rộng thị trường buôn bán quốc tế. Sản  
xuất có mục đích là phục vụ tiêu dùng, cho nên trong sản xuất kinh doanh, vấn đề thị  
9
Nguyễn Thị Linh KT45A-018-1822  
trường luôn là vấn đề quan trọng và luôn được các nhà sản xuất và kinh doanh quan tâm.  
Dịch vụ Logistics có tác dụng như chiếc cầu nối trong việc chuyển dịch hàng hóa trên  
các tuyến đường mới đến các thị trường mới đúng yêu cầu về thời gian và địa điểm đặt  
ra. Logistics phát triển đồng nghĩa với việc hàng hoá có thể được vận chuyển đi bất cứ  
đâu trên toàn thế giới mà không gặp phải bất cứ trở ngại gì. Do vậy, dịch vụ Logistics  
phát triển có tác dụng rất lớn trong việc khai thác và mở rộng thị trường kinh doanh,  
giúp hàng hoá tiếp cận với các thị trường lớn và đầy tiềm năng khác.  
1.3.2. Đối với DN  
Hiện nay, quá trình toàn cầu hóa đang xảy ra mạnh mẽ, sự mở cửa của hầu hết  
các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia đang và chậm phát triển, Logistics  
đem lại những giá trị đáng kể cho DN.  
Đầu tiên, dịch vụ Logistics hỗ trợ các nhà quản lý ra quyết định chính xác trong  
hoạt động sản xuất kinh doanh, là một nguồn lợi tiềm tàng cho DN. Trong quá trình sản  
xuất kinh doanh, nhà quản lý phải giải quyết nhiều bài toán hóc búa về nguồn nguyên  
liệu cung ứng, số lượng và thời điểm hiệu quả để bổ sung nguồn nguyên liệu, phương  
tiện và hành trình vận tải, địa điểm, bãi chứa thành phẩm, bán thành phẩm, ... Để giải  
quyết những vấn đề này một cách có hiệu quả không thể thiếu vai trò của Logistics vì  
Logistics cho phép nhà quản lý kiểm soát và ra quyết định chính xác về các vấn đề nêu  
trên để giảm tối đa chi phí phát sinh, đảm bảo hiệu quả trong sản xuất kinh doanh.  
Thứ hai, Logistics tạo ra giá trị gia tăng về thời gian và địa điểm. Mỗi sản phẩm  
được sản xuất ra luôn có giá trị sử dụng nhất định với con người. Tuy nhiên để được  
khách hàng tiêu thụ, hầu hết các sản phẩm này cần được đưa đến đúng vị trí, đúng thời  
gian và có khả năng trao đổi với khách hàng. Các giá trị này cộng thêm vào sản phẩm  
và vượt xa phần giá trị tạo ra trong sản xuất được gọi là lợi ích địa điểm, lợi ích thời  
gian và lợi ích sở hữu. Lợi ích địa điểm là giá trị cộng thêm vào sản phẩm qua việc tạo  
cho nó khả năng trao đổi hoặc tiêu thụ đúng vị trí. Lợi ích thời gian là gía trị được sáng  
tạo ra bằng việc tạo ra khả năng để sản phẩm tới đúng thời điểm mà khách hàng có nhu  
cầu, những lợi ích này là kết quả của hoạt động Logistics. Như vậy Logistics góp phần  
tạo ra tính hữu ích về thời gian và địa điểm cho sản phẩm, nhờ đó mà sản phẩm có thể  
đến đúng vị trí cần thiết vào thời điểm thích hợp. Trong xu hướng toàn cầu hóa, khi mà  
thị trường tiêu thụ và nguồn cung ứng ngày càng trở nên xa cách về mặt địa lý thì các  
lợi ích về thời gian và địa điểm do Logistics mang trở nên đặc biệt cần thiết cho việc  
tiêu dùng sản phẩm.  
Thứ ba, Logistics nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí sản trong quá  
trình sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh cho DN. Theo thống kê của Viện nghiên cứu  
10  
 
Nguyễn Thị Linh KT45A-018-1822  
Logistics của Mỹ cho biết, chi phí cho hoạt động Logistics chiếm tới khoảng 10-13%  
GDP ở các nước phát triển, con số này ở các nước đang phát triển thì cao hơn khoảng  
15-20%. Theo thống kê của một nghiên cứu, hoạt động Logistics trên thị trường Trung  
Quốc tăng trưởng với tốc độ bình quân là 33%/1 năm và ở Brazil là 20%/1 năm. Điều  
này cho thấy chi phí cho Logistics là rất lớn. Vì vậy với việc hình thành và phát triển  
dịch vụ Logistics sẽ giúp các DN giảm được chi phí trong chuỗi Logistics, làm cho quá  
trình sản xuất kinh doanh tinh giản hơn và đạt hiệu quả hơn. Giảm chi phí trong sản xuất,  
quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản, hiệu quả sản xuất kinh doanh được nâng cao  
góp phần tăng sức cạnh tranh của DN trên thị trường.  
Cuối cùng, Logistics cho phép DN di chuyển hàng hóa và dịch vụ hiệu quả đến  
khách hàng: Logistics không chỉ góp phần tối ưu hóa về vị trí mà còn tối ưu hóa các  
dòng hàng hóa và dịch vụ tại DN nhờ vào việc phân bố mạng lưới các cơ sở kinh doanh  
và điều kiện phục vụ phù hợp với yêu cầu vận động hàng hóa. Hơn thế nữa, các mô hình  
quản trị và phương án tối ưu trong dự trữ, vận chuyển, mua hàng…và hệ thống thông  
tin hiện đại sẽ tạo điều kiện để đưa hàng hóa đến nơi khách hàng yêu cầu nhanh nhất  
với chi phí thấp, cho phép DN thực hiện hiệu quả các hoạt động của mình.  
CHƯƠNG II: CÁC YẾU TỐ THÚC ĐẨY THỊ TRƯỜNG  
LOGGISTICS TRÊN THẾ GIỚI  
2.1. NHÂN TỐ KHÁCH QUAN  
2.1.1. Sự phát triển của nền kinh tế  
Trong thời gian qua, từ đầu thế kỉ 2016 đến nay, kinh tế toàn cầu đã trải qua nhiều  
biến động đáng nhớ. Nếu như năm 2017, kinh tế thế giới có một sự tăng trường vượt  
bậc khi tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới trung bình là 3.6%1, cao nhất kể từ khi cuộc  
đại suy thoái kinh tế do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra năm 2007. Một thập  
kỉ sau cuộc khủng hoảng tài chính làm rung động cả thế giới, tốc độ tăng trưởng tổng  
sản phẩm quốc nội (GDP) trên toàn cầu đã bắt đầu có đà phục hồi, kinh tế thế giới đang  
thực sự khởi sắc.  
Thế nhưng, dến đầu năm 2020, kinh tế toàn cầu đã có những dấu hiệu đáng lo  
ngại cho một cuộc khủng hoảng trầm trọng khi đại dịch COVID-19 bắt đầu xuất hiện và  
bùng phát ở Trung Quốc. Và cuộc đại suy thoái kinh tế đã thực sự bùng nổ vào khoảng  
giữa năm 2020 khi COVID-19 lan rộng ra các quốc gia khác trên thế giới, số người bị  
nhiễm và chết tăng một cách nhanh chóng khiến các quốc gia buộc phải thực hiện cách  
1 PGS., TS. Nguyễn Thị Tường Anh, TS. Phạm Thị Mỹ Hạnh, NCS. ThS. Nguyễn Thị Minh Thư, Kinh tế thế  
11  
     
Nguyễn Thị Linh KT45A-018-1822  
ly toàn xã hội và đóng cửa biên giới. Điều này đã khiến năm 2020 trở thành năm ghi  
nhận lần đầu tiên hàng chục nền kinh tế trên thế giới đồng loạt rơi vào suy thoái như  
Mỹ, Anh, Đức, Italy, Australia, Brazil, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, …  
Trong đó, Mỹ và châu Âu là những tâm điểm chính của diễn biến dịch bệnh và cũng là  
những nơi thực trạng tăng trưởng kinh tế và thương mại tồi tệ nhất trong năm 2020. Sức  
tàn phá ghê gớm của dịch Covid -19 là đòn giáng “chí mạng” vào nền kinh tế thế giới.  
Có thể thấy rằng, kinh tế toàn cầu khủng hoảng đã có ảnh hưởng mạnh không  
chỉ đến các chỉ số kinh tế thông thường mà hơn hết, suy thoái kinh tế thế giới đã khiến  
cho giao thương buôn bán giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ có sự giảm sút mạnh mẽ,  
điều này đã gây ra ảnh hường hết sức nghiêm trọng đến sự phát triển của ngành Logistics  
trên toàn cầu.  
Theo báo cáo vào 19/8/2020 của WTO2, thước đo thương mại hàng hóa của tổ  
chức này được ghi lại như sau:  
Biểu đồ 2: Chỉ số thương mại hàng hóa của WTO  
Nhìn vào đây có thể thấy, chỉ số thương mại hàng hóa của WTO dừng ở mức  
84.5, giảm 18,6 điểm so với cùng kỳ năm 2019. Chỉ số này đã chạm mức thấp kỷ lục  
vào quý II/2020, là mức thấp nhất WTO từng ghi nhận kể từ năm 2007, chứng tỏ việc  
trao đổi hàng hóa toàn cầu đã giảm xuống mức thấp chưa từng có. Điều này cho thấy  
xuất-nhập khẩu của nhiều quốc gia vào năm 2020 đều có sự sụt giảm mạnh. Báo cáo  
phân tích rằng, tác động của đại dịch COVID-19 và các biện pháp hạn chế nhằm ngăn  
2 TTXVN, Chỉ số thương mại hàng hóa của WTO chạm mức thấp kỷ lục,  
12  
Nguyễn Thị Linh KT45A-018-1822  
chặn đại dịch lây lan làm giảm năng suất sản xuất và trao đổi hàng hóa của các quốc gia  
gây ra suy thoái kinh tế toàn cầu là nguyên nhân chính gây ra sự sụt giảm nghiêm trọng  
này trong thương mại các nước. Một nền kinh tế với sự đóng băng của giao thương buôn  
bán giữa các nước chắc chắn sẽ không thể tạo điều kiện cho các dịch vụ Logistics phát  
triển.  
Trong báo cáo của Hội Liên hiệp quốc tế về thương mại và phát triển (UNCTAD)  
đánh giá Vận tải đường biển toàn cầu năm 20203, mối tương quan giữa tăng trưởng GDP  
và thương mại quốc tế, khối lượng hàng hóa buôn bán bằng đường biển thế giới được  
thể hiện rõ trong biểu đồ sau:  
Biểu đồ 3: Mối tương quan giữa tăng trưởng GDP toàn cầu và thương mại đường biển-Nguồn: UNCTAD  
Qua biểu đồ có thể thấy rõ, kinh tế toàn cầu trong thời gian vừa qua đã có tác  
động không tốt đến khối lượng hàng hóa giao thương bằng đường biển quốc tế. Cũng  
chính vì thế mà các hoạt động Logistics của thế giới đã gặp phải những khó khăn và  
thách thức lớn. Sự sụt giảm nghiêm trọng của thương mại các nước, gây ra bởi sức mua  
của cả thế giới giảm đã khiến cho nhu cầu về vận tải biển giảm mạnh, từ đó đã đặt ra  
sức ép lớn cho các hoạt động Logistics.  
Như vậy, ta có thể khẳng định rằng, tình hình kinh tế thế giới có tác động rất lớn  
đến việc triển khai các hoạt động Logistics tại các quốc gia. Kinh tế thế giới ổn định với  
việc giao thương buôn bán nhộn nhịp giữa các quốc gia và khu vực mới tạo được một  
tiền đề và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của các hoạt động Logistics, thúc đẩy thị  
13  
Nguyễn Thị Linh KT45A-018-1822  
trường Logistics được mở rộng.  
2.1.2. Vị trí địa lý  
Vị trí địa lý của một quốc gia là một trong những yếu tố phát triển thị trường  
ngành Logistics. Nếu một quốc gia không có biển thì có thể đầu tư vào cơ sở hạ tầng để  
thúc đẩy thị trường Logistics nội địa hoặc vận chuyển hàng hóa qua biên giới đất liền  
với các nước giáp với mình. Nhưng một quốc gia tiếp giáp với biển, có vị trí nằm ở trung  
tâm của đường hàng hải, là tuyến đường giao thương của nhiều quốc gia khác nhau thì  
đó là tiềm năng, là yếu tố thuận lợi để có thể phát triển hệ thống cảng biển, hệ thống tàu  
biển quốc tế từ đó thúc đẩy thị trường Logistics ra thế giới. Có thể kể đến Singapore,  
tuy là một quốc gia có diện tích rất nhỏ nhưng lại dẫn đầu logitics ở chấu Á. Bởi  
Singapore sở hữu lợi thế cực lớn về vị trí địa lý. Quốc gia này nằm trên đường xích đạo,  
hiếm phải chịu các ảnh hưởng của thiên tai. Bến cảng và sân bay hầu như hoạt động suốt  
năm tạo thuận lợi cho việc xếp dỡ hàng hóa. Với sự kết hợp giữa lợi thế thiên nhiên và  
kết cấu hạ tầng hiện đại, Singapore đang là điểm trung chuyển hàng hóa rất nhộn nhịp  
từ khắp nơi trên thế giới.  
2.1.3. Nguồn luật điều chỉnh hoạt động Logistics  
Logistics cũng như bất kỳ hoat đông kinh tế nào đều có sư tham gia của rất nhiều  
quốc gia khác trên thế giới. Muốn cho chuỗi Logistics toàn cầu đươc hoai đông một  
cách có hệ thống và hiệu quả cao; thị trường Logistics không ngừng được phát triển và  
thúc đẩy thì rất cần đến nền tảng cơ sở pháp lý điều chỉnh những thành phần tham gia  
vào hoat đông Logistics. Song song với quá trình phát triển của Logistics thì hệ thống  
pháp luật quốc tế về các vấn đề liên quan đến ngành kinh doanh này cũng cỏ những sự  
đổi mới và ngày càng hoàn thiện. Rất nhiều các điều ước quốc tế, thỏa thuận khu vực và  
một số tập quán quốc tế liên quan đến vân tải biển, đến kinh doanh kho bãi, bào hiểm,  
thủ tục hải quan, giải quyết tranh chấp... đã ra đời để hỗ trợ cho hoạt động cùa ngành  
Logistics trên thế giới.  
Hệ thống pháp luật quốc tế điều chỉnh các hoạt động nằm trong Logistics hết sức  
phong phú, đa dạng. Với mỗi yếu tố trong chuỗi Logistics toàn cầu, lại có những bộ luật,  
điều ước và tập quán quốc tế riêng điều chỉnh và chi phối. Chẳng hạn như đối với hoạt  
động vận tải và giao nhận hàng hóa bằng đường biển, có rất nhiều nguồn luật tham gia  
điều chỉnh và cũng được nhiều nước phê chuẩn, tham gia như: Công ước Quốc tế thống  
nhất một số quy tắc về vận đơn đường biển (Brussels 1924); Nghị định thư sửa đổi Công  
ước Quốc tế thống nhất một số quy tắc về vận đơn đường biển (Visby 1968); Công ước  
của Liên hợp quốc về chuyên chở hàng hóa bằng đường biển (Hamburg 1978), ....  
14  
   
Nguyễn Thị Linh KT45A-018-1822  
Với vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không, pháp luật quốc tế cũng cho ra  
đời các điều ước Quốc tế như Công ước thống nhất một số quy tắc về vận tải hàng hóa  
hàng không quốc tế (1929); Nghị định thư Hague 1955 và Nghị định thư Montreal 1975  
sửa đổi công ước Vasava; Công ước bổ sung cho Công ước Vasava thống nhất một số  
quy tắc liên quan đến vận tải quốc tế bằng đường hàng không được thực hiện bởi một  
số người khác không phải là người vận chuyển theo hợp đồng (Guadalajara 1961), ...  
Với vận tải đa phương thức, chúng ta cũng có Công ước của Liên hợp quốc về  
vận chuyển hàng hóa bằng vận tải đa phương thức quốc tế (1980) và Quy tắc của Hội  
nghị liên hiệp quốc về Thương mại và phát triển (UNCTAC) và Phòng thương mại quốc  
tế (ICC) về Chứng từ vận tải đa phương thức (1992).  
Không chỉ với yếu tố vận tải, các yếu tố khác trong Logistics cũng đều có nhiều  
nguồn luật, điều ước quốc tế khác tham gia điều chỉnh. Nhờ có hệ thống pháp luật quốc  
tế này mà các hoạt động trong chuỗi Logistics toàn cầu có thể diễn ra một cách thuận  
tiện, suôn sẻ và có hệ thống hơn. Khi đó, thị trường Logistics có cơ hội được mở rộng  
hay nói cách khác, nguồn luật điều chỉnh hoạt động Logistics là một yếu tố quan trọng  
giúp thúc đẩy thị trường Logistics.  
2.1.4. Hệ thống hạ tầng cơ sở cho hoạt động Logistics  
Kinh tế thế giới ngày càng trở nên hội nhập và phát triển, khối lượng hàng hóa  
ngày một tăng lên để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu của các quốc  
gia. Do đó đòi hỏi cần có một ngành dịch vụ Logistics phát triển giúp lưu thông hàng  
hóa nhanh chóng, quá trình lưu thông, phân phối được thông suốt, chuẩn xác và an toàn,  
giảm được các loại chi phí, nhờ đó hàng hoá được đưa đến thị trường một cách nhanh  
chóng kịp thời, tạo được sự uy tín.  
Cơ sở hạ tầng là một trong những bộ phận cấu thành hoạt động cung ứng dịch vụ  
Logistics, đóng vai trò vô cùng quan trọng, bao gồm: hệ thống cảng biển, sân bay đường  
sắt, đường ô tô, đường song và các công trình, trang thiết bị khác như hệ thống kho bãi,  
phương tiện xếp dỡ, hệ thống thông tin liên lạc. Vì vậy, sự phát triển ngày càng nhanh  
chóng của thương mại quốc tế cũng như của các hoạt động Logistics trên thế giới thi  
việc có một hệ thống cơ sở hạ tầng vững chắc để các hoạt động kinh tế có thể diễn ra  
một cách an toàn và hiệu quả nhất, thị trường Logistics có thể được thúc đẩy, mở rộng  
một cách triệt để nhất là vô cùng cần thiết.  
Trong các yếu tố cấu thành chuỗi Logistics thì giao nhận vận tải là khâu quan  
trọng nhất. Chi phí vận tải thường chiếm hơn 1/3 tổng chi phí của Logistics. Do vậy,  
việc đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở cho các hoạt động vận tải trên thế giới sẽ góp phần  
15  
 
Nguyễn Thị Linh KT45A-018-1822  
rút ngắn được khoảng cách địa lý giữa các vùng và địa phương với nhau, giữa các quốc  
gia với nhau, đóng góp đáng kể vào việc giảm chi phí của DN đặc biệt là các DN có chi  
phí vận tải chiếm một tỷ trọng lớn. Nhờ đó mà DN có thể hạ giá thành sản phẩm và nâng  
cao cạnh tranh của DN trên thị trường. Hệ thống giao thông phát triển cũng sẽ giúp các  
DN giao hàng đúng nơi và đúng thời gian từ đó tạo được uy tín cho DN, trong kinh  
doanh thì điều này là rất quan trọng, góp phần thúc đẩy các DN mở rộng thị trường sang  
các khu vực, quốc gia khác.  
Thực tế trên thế giới hiện nay, đã và đang ngày càng hoàn thiện về các điều kiện  
cơ sở cần thiết và nền tảng cho hoạt động Logistics. Hạ tầng cơ sở giao thông cho các  
hoạt động Logistics trên thế giới bao gồm: hệ thống cảng biển, cơ sờ hạ tầng vận tải  
đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường ống.  
Hệ thống các cảng biển thế giới đang ngày càng được đầu tư phát triển. Những  
năm gần đây, sự phát triển của công nghiệp đóng tàu đã gây sức ép phải nâng cấp cải  
tiến lên các cảng biển. Nửa đầu năm 2020, công suất cung cấp trên thị trường vận tải  
biển giảm khoảng 3% so với cùng kỳ năm 2019, thế nhưng đến quý III/2020 các mạng  
lưới vận tải biển đã tăng cường chào hàng với công suất cao hơn thời điểm này năm  
2019. Cho đến nay, ở những quốc gia có tiềm năng lớn về ngành hàng hải đều đã có các  
cảng biển quốc tế với quy mô lớn và hiện đại. Một số cảng nổi tiếng và lớn trên thể giới  
như: cảng Algecir (Tây Ban Nha), Antwerp (Hà Lan), Bremische Hafen (Đức), Gioia  
Tauro (Ý). Felixstowe (Anh), Hongkong (Trung Quốc), Kobe và Nagoya (Nhật Bản),  
New York (Mỹ), Port Kelang (Malaysia), .... Năng suất xếp dỡ của các cảng biển luôn  
đạt được thành tựu đáng kể.  
Hạ tầng cơ sở cho ngành hàng không thế giới trong những năm qua cũng đã thể  
hiện được vai trò quan trọng của mình trong việc đảm bảo vận chuyển những hàng hóa  
có giá trị cao. Các sân bay cũng như càng hàng không ngày càng tăng lên về số lượng  
và luôn tập trung nâng cao về cơ sở vật chất để phục vụ tốt hơn nữa vai trò vận chuyển  
của mình trong chuỗi Logistics toàn cầu. Năm 2020, vận tải hàng hóa đường hàng không  
là ngành chịu thiệt hại nặng nề nhất bởi dịch Covid-19. Hiệp hội Vận tải Hàng không  
Quốc tế (IATA) đã công bố triển vọng tài chính cho ngành vận tải hàng không toàn cầu  
cho thấy các hãng hàng không mất 84,3 tỷ USD (2020) với tỷ suất lợi nhuận ròng là  
20,1%. Doanh thu toàn ngành (gồm cả hành khách và hàng hóa) sẽ giảm 50% xuống  
còn 419 tỷ USD từ 838 tỷ USD (2019). Tổng số lượng hàng hóa vận chuyển dự kiến sẽ  
giảm 10,3 triệu tấn (2019) xuống còn 51 triệu tấn (20204). Sự thiếu hụt nghiêm trọng về  
4 IATA: 2020 là năm thua lỗ nhất trong lịch sử hàng không thế giới, https://mt.gov.vn/vn/tin-tuc/67058/iata--  
16  
Nguyễn Thị Linh KT45A-018-1822  
năng lực vận tải hàng hóa đẩy giá cước tăng trong năm 2020. Điều này, làm các DN  
Logistics, đặc biệt là lĩnh vực vận tải hàng không gặp khó khăn hơn trong việc mở rộng  
thị trường.  
Các hệ thống về đường bộ, đường thủy, đường sắt và đường ống trên thế giới  
cũng chứng kiến nhiều bước tiến mới. Ở khắp các quốc gia trên thế giới, vấn đề xây  
dựng hạ tầng cơ sở thiết yếu như các tuyển đường cao tốc, các cây cầu lớn, hệ thống  
đường ray xe lửa... đều đang được tập trung hoàn thiện. Với hệ thống đường ống, các  
quốc gia đã tập trung xây dựng được nhiều tuyến đường dẫn dầu, dẫn khí lớn, giúp cho  
quá trình vận chuyển khí đốt từ nơi khai thác đến tận nơi tiêu dùng. Ví dụ như trong  
năm 2009, thế giới đã có "hệ thống đường ổng dẫn khí đốt thế kỷ" nối khu vực Trung Á  
với Trung Quốc, với chiều dài gần 7.000 km5.  
Kho bãi cũng là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy thị trường Logistics.  
Nhu cầu tiêu dùng có thể biến đổi theo mùa vụ hoặc thay đổi khó lường. Các nguồn  
cung cũng luôn có những diễn biến phức tạp trong khi hoạt động sản xuất cần được duy  
trì liên tục, ổn định, do vậy lượng dự trữ nhất định trong kho giúp DN có thể đối phó  
được với những thay đổi bất thường của điều kiện kinh doanh phòng ngừa rủi ro. Trong  
hệ thống sản xuất thì kho sẽ giúp đảm bảo điều hòa sản xuất, góp phần giảm chi phí sản  
xuất, vận chuyển, phân phối. Nhờ có kho nên có thể chủ động đặt các đơn, lô hàng với  
quy mô kinh tế lớn trong quá trình sản xuất và phân phối nhờ đó mà giảm chi phí bình  
quân trên 1 đơn vị. Hơn nữa, kho góp phần vào việc đảm bảo hàng hoá sẵn sàng về số  
lượng, chất lượng và trạng thái lô hàng được bảo đảm, tiết kiệm chi phí lưu thông qua  
việc quản lý tốt định mức hao hụt hàng hoá, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả cơ sở vật chất  
của kho. Thông qua việc đảm bảo hàng hóa sẵn sàng về số lượng, chất lượng và trạng  
thái lô hàng giao, góp phần giao hàng đúng thời gian và địa điểm, tạo tuy tín tại các thị  
trường, từ đó thúc đẩy phát triển thị trường Logistics.  
Thị trường kho bãi trong năm 2020 có động lực chính từ phân khúc kho hàng  
thương mại điện tử và kho lạnh. Đặc biệt, nhu cầu ngày càng cao đối với kho lạnh sẽ  
tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng của thị trường này trong thời gian tới. Liên minh Chuỗi  
lạnh Toàn cầu (GCCA) đã công bố Báo cáo Năng lực Kho lạnh Toàn cầu năm 2020,  
trình bày chi tiết về phạm vi mở rộng của mạng lưới phân phối thực phẩm đông lạnh và  
lạnh trên toàn thế giới. Tổng công suất của các kho lạnh trên toàn thế giới là 719 triệu  
mét khối vào năm 2020. Không gian kho lạnh được phân bổ không đồng đều giữa các  
5TÔ MINH, "Tuyến đường ống dẫn khí đốt thế kỷ" Trung Á - Trung Quốc, https://nhandan.vn/tin-tuc-the-  
17  
Nguyễn Thị Linh KT45A-018-1822  
quốc gia dựa trên chỉ số thâm nhập thị trường do Liên minh Chuỗi lạnh Toàn cầu phát  
triển, Mexico, Brazil và Trung Quốc có nhu cầu lớn nhất về không gian kho lạnh. Các  
công ty hiện đang có tầm ảnh hưởng lớn nhất trên thị trường kho bãi toàn cầu có thể kể  
đến: A.P. Moller Maersk AS, C.H. Robinson Worldwide Inc., CEVA Logistics AG,  
Deutsche Bahn AG, Deutsche Post AG, DSV Panalpina AS, FedEx Corp., Kuehne  
Nagel International AG, United Parcel Service of America Inc và XPO Logistics Inc.  
2.1.5. Hệ thống hạ tầng công nghệ - thông tin  
Trong quá trình hoạt động Logistics thì các hoạt động dịch vụ khách hàng, dự trữ,  
vận chuyển là những hoạt động then chốt. Tuy nhiên để những hoạt động này đạt kết  
quả tốt cần phải có những hoạt động hỗ trợ như thu mua, nghiệp vụ kho và bao bì, vận  
chuyển và một hoạt động không kém phần quan trọng là quá trình quản trị hệ thống  
thông tin Logistics. Thông tin trong quản trị Logistics là chất kết dính hoạt động  
Logistics trong các nỗ lực hợp nhất của nhà quản trị, thông tin Logistics cung cấp cơ sở  
cho các quyết định lập kế hoạch, thực thi và kiểm tra Logistics hiệu quả. Nếu không  
quản trị tốt thông tin, các nhà quản trị Logistics không thể biết được khách hàng muốn  
gì, cần dự trữ bao nhiêu và khi nào cần sản xuất và vận chuyển. Việc ứng dụng công  
nghệ trong trao đổi thông tin, xếp dỡ; ứng dụng công nghệ vận tải, công nghệ lưu kho  
còn giúp tăng tải trọng vận chuyển hai chiều, bảo đảm không nhầm lẫn, thất lạc, thiếu  
thừa hàng hóa; hàng hóa không bị hỏng hóc, giảm chất lượng, nhất là với hàng hóa đặc  
biệt (hóa chất, hàng hóa dễ cháy, nổ), ... Đặc biệt, việc ứng dụng công nghệ thông tin  
giúp người nhận, người gửi hàng hóa luôn biết hàng của mình đang ở đâu, bao giờ đến…;  
đồng thời việc thông quan được thuận tiện, dễ dàng hơn, từ đó tạo điều kiện thuận lợi  
để có thể thúc đẩy và phát triển Logistics sang các thị trường khác.  
Hạ tầng công nghệ thông tin cho hoạt động Logistics trên thế giới ngày càng được  
hoàn thiện và hiện đại với những công nghệ mới, giúp cho các họat động trong chuỗi  
Logistics diễn ra một cách chuyên nghiệp, nhanh chóng và đạt được hiệu quả cao, thúc  
đẩy các DN có thể mở rộng thị trường Logistics. Hiện nay, Logistics trên thế giới được  
ứng dụng rất nhiều các thành tựu công nghệ thông tin mới, hiện đại.  
Đầu tiên, là việc container hóa. Hàng hóa vận chuyển được đựng trong các  
container với các loại khác nhau phù hợp với từng loại hàng, làm cho hàng hóa được  
vận chuyển nhanh chóng hơn, an toàn hơn và chi phí thấp hơn, đáp ứng các tiêu chí của  
dịch vụ Logistics. Phù hợp với các loại và số lượng container chuyên chở là tàu chở  
container. Tàu container ngày càng lớn thì cảng biển nước sâu với thiết bị bốc dỡ hiện  
đại để phục vụ tàu và hàng hóa càng phải phát triển, hiện đại. Để đáp ứng hoạt động của  
các loại tàu container, nhất là các tàu có trọng tải lớn thì hệ thống hạ tầng như: cảng biển,  
18  
 
Nguyễn Thị Linh KT45A-018-1822  
phương tiện xếp dỡ, vận chuyển trên bộ cũng phải phát triển theo. Singapore đang phát  
triển siêu cảng container Tuas, dự kiến sẽ trang bị hệ thống tự động hoàn toàn, từ hệ  
thống cẩu giàn đến những chiếc xe điện không người lái chở container. Một khi hoàn  
thành, Tuas sẽ trở thành cảng container tự động hóa hoàn toàn lớn nhất thế giới, có khả  
năng tiếp nhận và xử lý mỗi năm hơn 65 triệu container, gấp rưỡi công suất của cảng  
container lớn nhất thế giới hiện nay là Thượng Hải (Trung Quốc).  
Chuyển đổi kỹ thuật số trong ngành Logistics gắn với quản lý chuỗi cung ứng  
quốc tế. Hiện nay, Logistics ứng dụng sự tiến bộ của công nghệ thông tin ở nhiều hoạt  
động, như thực hiện thủ tục không cần giấy tờ với việc ứng dụng EDI (Electronic data  
interchange), phần mềm TMS (Transport Management System)-phần mềm chuyên dụng  
để lập kế hoạch, thực hiện và tối ưu hóa việc vận chuyển hàng hóa hay WMS  
(Warehouse Management System)- hệ thống giúp theo dõi mức tồn kho, đơn đặt hàng,  
bán hàng và giao hàng, ... Tất cả mọi quy trình trong chuỗi hoạt động Logistics đều có  
sự tham gia của công nghệ thông tin. Các nhà cung cấp, người sử dụng, nhà quản lý đều  
liên hệ với nhau bởng các phần mềm điện tử để quản lý và theo dõi quá trình sản xuất  
kinh doanh của mình.  
2.2. NHÂN TỐ CHỦ QUAN  
2.2.1. Nguồn lực  
Thế giới hiện nay đã có hơn 7.8 tỷ người6, các dự báo mới nhất của Liên Hợp  
Quốc cho thấy dân số thế giới sẽ đạt 10 tỷ người trong năm 2057. Đây sẽ là một nguồn  
lực cần thiết cho sự phát triển của ngành Logistics trên thế giới, bởi nhu cầu nhân lực  
cho hoạt động Logistics là vô cùng lớn, cần đến sự tham gia của nhiều thành phần lao  
động trong xã hội. Yêu cầu về chất lượng trình độ chuyên môn và kỹ năng của nhân lực  
Logistics ngày càng cần nâng cao, đặc biệt nguồn lao động có kiến thức chuyên môn  
sâu về ngành, các kỹ năng ngoại ngữ, ứng dụng công nghệ thông tin, kỹ năng giao tiếp,  
đàm phán... sẽ là yếu tố then chốt giúp nâng cao năng lực của DN. Một DN Logistics, 1  
quốc gia khi đáp ứng được đầy đủ số lương cũng như chất lượng nguồn nhân lực nhân  
lực cho các hoạt động cung cấp dịch vụ cho một thị trường rộng lớn hay cho nhiều thị  
trường cùng một lúc, về lâu dài sẽ là yếu tố quyết định để giúp DN Logistics nhanh  
chóng, nâng cao tính cạnh tranh, mở rộng thị trường ở cả trong nước và quốc tế. Hiện  
nay, trên thế giới đã có sự chú trọng đầu tư nâng cao chất lượng cho các thành phần trực  
tiếp tham gia vào hoạt động Logistics.  
Hệ thống các công ty, tập đoàn hoạt động trong lĩnh vực Logistics trên thế giới  
19  
   
Nguyễn Thị Linh KT45A-018-1822  
hiện nay là một con số khổng lồ. Trong số đó, có những tập đoàn kinh tế lớn, có tốc độ  
phát triển nhanh, đang hoạt động trong nhiều ngành vận tải khác nhau và có mặt ở khắp  
nơi trên thế giới. Những tập đoàn này thống trị và chi phối toàn bộ lĩnh vực vận chuyển,  
chuyển phát nhanh toàn cứu, bao gồm TNT, DHL, Fedex, UPS. Trong lĩnh vực vận tải  
biển thì có Maerks Logisitics, Schenker Logisitics, AP L Logistics, Kuehne&Nagel,  
MOL Logisitics, SDV Logisitics, Yusen Global Logisitics. Các tập đoàn lớn trong lĩnh  
vực này mỗi năm doanh thu lên đến hàng trăm triệu USD. Có thể nói đây là một trong  
những nhân tố thuận lợi để các hoạt động Logistics trên thế giới ngày càng phát triển  
hơn nữa.  
Các hiệp hội cơ quan đầu ngành là những thành phần hết sức quan trọng đóng vai  
trò kết nối cũng như hướng dẫn, chỉ đạo các DN, giúp các DN có định hướng cụ thể  
trong việc phát triển để nâng cao và mở rộng thị trường Logistics của mình. Hiện trên  
thế giới đã thành lập khá nhiều các hiệp hội và cơ quan đầu ngành của quốc tế cho mỗi  
một yếu tố trong Logistics. Các hiệp hội lớn ra đời song song và kịp thời với quá trình  
phát triển của ngành Logistics trên thế giới. Những hiệp hội trong ngành lớn, có vai trò  
và tác động quan trọng đối với các hoạt động Logistics trên khắp thế giới là: Hiệp hội  
Vận tải Hàng không Quác tế - IATA (nternational Air Transport Association), Hiệp hội  
Giao nhận và Kho vận Quốc tế - FIATA (International Federation of Freight Fowarders  
Association), Hiệp hội Container Quốc tế - ITCO (Internationaỉ Container  
Cooperation), ...Các hiệp hội ra đời đã giúp cho hoạt động Logistics trên thế giới có  
được sự gắn kết và phát triển theo đúng định hướng và xu thế của ngành cũng như đòi  
hỏi của thực tiễn, từ đó thúc đẩy phát triển thị trường.  
Ngoài các hiệp hội, hoạt động Logistics trên thế giới còn liên quan khá mật thiết  
đến các tổ chức kinh tế trên thế giới. Các tổ chức như Tổ chức thương mại thế giới –  
WTO, UNCTAD, Ngân hàng thế giới - WB... là những nhân tố hỗ trợ cũng như chi phối  
lớn đến các hoạt động trong chuỗi Logistics toàn cầu, chi phối việc phân phối các nguồn  
nhân-vật-vốn lực cho các thị trường khác nhau.  
2.2.2. Nhận thức chung liên quan đến Logistics trên thế giới  
Về nhận thức luôn là cơ sở cần thiết để các hoạt động kinh tế có thể diễn ra một  
cách có hệ thống, đúng hướng và hiệu quả. Logistics trên thế giới ra đời từ rất sớm, cho  
đến nay, nhận thức về ngành này đã có nhiều bước thay đổi, hoàn thiện, phù hợp với  
quá trình phát triển của kinh tế toàn cầu.  
Nếu như trước đây, Logistics chỉ được vận dụng trong các lĩnh vực quân sự, mang  
ý nghĩa nhỏ hẹp trong công tác hậu cần, thì đến nay, nhận thức về Logistics cũng như  
về tầm quan trọng của Logistics đối với toàn bộ nền kinh tế đã thực sự được nghiên cứu  
20  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 40 trang yennguyen 13522 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Phân tích các yếu tố thúc đẩy thị trường logistics và nhận định về mức độ phát triển ngành dịch vụ logistics của Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_phan_tich_cac_yeu_to_thuc_day_thi_truong_logistics.pdf