Luận văn Kiểm sát việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
VÕ BÌNH VƯƠNG  
KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TẠM GIỮ,  
TẠM GIAM THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ  
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH TÂN,  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
LUẬN VĂN THẠC SĨ  
LUẬTHÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ  
HÀ NỘI, năm 2018  
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
VÕ BÌNH VƯƠNG  
KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TẠM GIỮ,  
TẠM GIAM THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ  
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH TÂN,  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự  
Mã số: 8.38.01.04  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC  
PGS.TS. TRẦN ĐÌNH NHÃ  
HÀ NỘI, năm 2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ: "Kiểm sát việc áp dụng biện pháp tạm  
giữ, tạm giam theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn quận Bình Tân,  
thành phố Hồ Chí Minh" là do chính tôi thực hiện.  
Toàn bộ các số liệu, dữ liệu và một số kiến thức của tác giả khác được sử  
dụng trung thực, có đầy đủ nguồn dữ liệu đáng tin cậy theo quy định của một công  
trình khoa học. Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng công  
bố tại bất kỳ công trình khoa học nào.  
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 8 năm 2018  
Tác giả luận văn  
Võ Bình Vương  
MỤC LỤC  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
BLHS  
:
:
:
:
Bộ luật Hình sự  
BLTTHS  
KSTT  
Bộ luật Tố tụng hình sư  
Kiểm sát trực tiếp  
Xã hội chủ nghĩa  
XHCN  
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU  
Bảng 2.3. Số nguời bị Cơ quan cảnh sát điều tra áp dụng biện pháp tạm giữ  
trên địa bàn quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh...............................................42  
Bảng 2.4. Số người bị Cơ quan điều tra tạm giam trên địa bàn quận Bình Tân,  
thành phố Hồ Chí Minh.............................................................................................45  
Bảng 2.6. Viện kiểm sát không phê chuẩn các lệnh ........................................49  
Bảng 2.7. Thực trạng kiểm sát việc tạm giữ từ năm 2013 đến năm 2017 của  
Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh............................51  
Bảng 2.8. Thực trạng kiểm sát thi hành án hình sự tại nhà tạm giữ từ năm  
2013 đến năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí  
Minh ..........................................................................................................................52  
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát  
các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, trong đó có chức  
năng kiểm sát tạm giữ, tạm giam nhằm đảm bảo tạm giữ, tạm giam được theo đúng  
quy định của pháp luật; chế độ tạm giữ, tạm giam được chấp hành nghiêm chỉnh;  
tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giữ, tạm giam và các  
quyền khác của họ không bị pháp luật tước bỏ được tôn trọng. Các Chỉ thị, Nghị  
quyết của Đảng về công tác tư pháp đều nhấn mạnh đến công tác kiểm sát việc áp  
dụng các biện pháp ngăn chặn của các cơ quan tiến hành tố tụng, cùa Viện kiểm sát.  
Tại Chỉ thị số: 53-CT/TW ngày 21/3/2000 của Ban chấp hành trung ương Đảng  
cộng sản Việt Nam về một số công tác cấp bách của các cơ quan tư pháp cần được  
thực hiện trong năm 2000 đã nhấn mạnh:  
“Tăng cường trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân đối với công tác bắt,  
giam giữ, việc bắt giam phải được xem xét phê chuẩn đối với từng trường hợp, từng  
đối tượng cụ thể. Đối với trường hợp bắt giam cũng được hoặc không bắt giam  
cũng được thì không bắt giam. Sai sót trong việc bắt, giam, giữ ở địa phương nào  
thì trước hết Viện kiểm sát nhân dân ở địa phương đó chịu trách nhiệm” [1]  
Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị xác định về một  
số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, trong đó nhiệm vụ bảo  
đảm tạm giữ, tạm giam đã chỉ rõ: Tăng cường công tác kiểm sát giam, giữ bảo đảm  
đúng pháp luật, những trường hợp chưa cần bắt, tạm giữ, tạm giam thì kiên quyết  
không phê chuẩn lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam; phát hiện và xử lý kịp thời các trường  
hợp oan sai trong bắt giữ. Viện kiểm sát các cấp có trách nhiệm về những oan sai  
trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam thuộc phạm vi thẩm quyền của mình. Nhằm nâng  
cao trách nhiệm của cán bộ, công chức trong các cơ quan tư pháp khi thi hành công  
vụ cũng như nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của những người bị tạm  
giữ, tạm giam, Ủy ban thường vụ cũng đã ban hành Nghị quyết số 388/2003/NQ-  
UBTVQH11 ngày 17/3/2003 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt  
1
 
hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây  
ra.  
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định cụ  
thể về quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến  
hành tố tụng, tham gia tố tụng thống để giải quyết đúng và hiệu quả của các vụ án,  
tránh, hạn chế được các oan sai đáng tiếc trong việc tạm giam, tạm giữ.  
Các biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự là cơ  
sở pháp lý đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được khách  
quan, thuận lợi, hợp pháp. Nhưng vẫn còn đó những tồn tại hạn chế trong việc tạm  
giữ, tạm giam; căn cứ, trình tự thủ tục áp dụng những biện pháp ngăn chặn này vẫn  
còn trường hợp không đúng pháp luật, như việc bắt, tạm giữ hình sự nhưng sau đó  
chuyển sang xử lý hành chính hoặc có những trường hợp cần phải áp dụng biện  
pháp tạm giữ, tạm giam nhưng không thực hiện dẫn đến nhiều vụ án không thể điều  
tra, truy tố, xét xử, thi hành án do người phạm tội bỏ trốn. Những tồn tại, hạn chế  
nêu trên không thể không làm hạn chế về chất lượng thực hành quyền công tố và  
kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát trong việc áp dụng các biện pháp tạm  
giữ, tạm giam.  
Những năm gần đây, trước tình hình tội phạm trên dịa bàn thành phố Hồ Chí  
Minh nói chung, trên địa bàn quận Bình Tân nói riêng diễn biến ngày càng phức tạp  
cả về số lượng, quy mô, tính chất, mức độ, công cụ, phương tiện và thủ đoạn, theo  
đó việc tạm giữ, tạm giam người phạm tội ngày càng tăng về số lượng. Do vậy,  
công tác kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt,tạm giữ, tạm giam của Viện  
kiểm sát nhân dân ngày càng đóng vai trò quan trọng. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài  
này sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn trong hoạt động kiểm  
sát việc áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm giam của Viện kiểm sát nhân dân quận  
Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đưa ra quan điểm và giải pháp bảo đảm  
kiểm sát áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam của Viện kiểm sát nhân dân quận  
Bình Tân nói riêng và ngành kiểm sát nhân dân nói chung ngày càng đạt chất lượng  
và hiệu quả cao.  
2
Vì những lẽ trên tác giả quyết định chọn đề tài: "Kiểm sát việc áp dụng biện  
pháp tạm giữ, tạm giam theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn  
quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh" làm đề tài luận văn thạc sĩ.  
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài  
Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư  
pháp của ngành kiểm sát nhân dân, trong đó kiểm sát việc áp dụng biện pháp tạm  
giữ, tạm giam là một trong những mục đích quan trọng của công cuộc cải cách tư  
pháp nói chung, đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nói  
riêng. Bởi vậy vấn đề này đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà  
nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn trong và ngoài ngành kiểm sát. Nổi bật là  
các công trình nghiên cứu sau đây:  
Về sách chuyên khảo:  
- Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai  
đoạn điều tra của TS.Lê Hữu Thể (Chủ biên), NXB Tư pháp năm 2005.  
- Tài liệu Hội thảo quốc tế về quyền con người trong tố tụng hình sự: Hoàn  
thiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đáp ứng yêu  
cầu cải cách tư pháp của PGS,TS Trần Văn Độ, năm 2010.  
Về các đề tài khoa học, chuyên đề nghiên cứu của Viện KSNDTC  
Các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ luật học  
- Luận án tiến sĩ: Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong tố  
tụng hình sự Việt Nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp của Nguyễn Văn  
Điệp, Đại học Luật Hà Nội, năm 2005  
- Luận văn thạc sĩ: Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự  
Việt Nam của Nguyễn Phạm Tố Phong, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, năm 2013.  
- Luận văn thạc sĩ: Kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự của  
Trần Thế Linh, Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2014  
Ngoài ra, còn có các bài viết liên quan đến đề tài của nhiều tác giả đăng trên  
các tạp chí như: Tạp chí Tòa án, Tạp chí Kiểm sát; Tạp chí Luật học….  
Qua nghiên cứu những công trình khoa học nêu trên, có thể thấy có nhiều  
3
quan điểm mang tính lý luận mà trong quá trình thực hiện luận văn tác giả có thể kế  
thừa và phát triển. Tuy nhiên, xuất phát từ thực tiễn hoạt động của Viện kiểm sát  
nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh, thông qua cơ sở nghiên cứu  
những hạn chế, tồn tại trong thực tiễn mà đề xuất hoàn thiện cơ sở lý luận, pháp luật  
và đề ra các giải pháp bảo đảm tăng cường công tác Kiểm sát việc áp dụng Biện  
pháp tạm giữ, tạm giam.  
Từ đó, có thể nói đề tài "Kiểm sát việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam theo  
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí  
Minh" là công trình nghiên cứu xuất phát từ những vấn đề thực tiễn trên địa bàn  
quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh, với mục đích mang lại hiệu quả thiết thực  
hơn trong công tác kiểm sát việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam của Viện  
nhân dân quận Bình Tân và ngành kiểm sát thành phố Hồ Chí Minh nói chung trong  
giai đoạn hiện nay.  
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu  
- Mục đích nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu toàn diện, có hệ thống công  
tác kiểm sát việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam theo pháp luật tố tụng Việt  
Nam và thực tiễn thực hiện tại quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh, từ đó làm  
sáng tỏ cơ sở pháp lý của hoạt động áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm  
giam đảm bảo cho các cơ quan bảo vệ pháp luật áp dụng các biện pháp ngăn chặn  
đúng pháp luật, trên cơ sở đó mà đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng công tác  
kiểm sát việc sát áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam của Viện kiểm sát nhân dân  
quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.  
- Nhiệm vụ của luận văn:  
Luận văn có nhiệm vụ phân tích cơ sở lý luận, quy định của pháp luật về áp  
dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong công tác kiểm sát hoạt động này, nghiên  
cứu thực tiễn kiểm sát các biện pháp ngăn chặn này tại quận Bình Tân, thành phố  
Hồ Chí Minh; từ đó nêu ra yêu cầu chung đối với việc áp dụng biện pháp tạm giữ,  
tạm giam và đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng kiểm sát  
việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình  
4
Tân trong giai đoạn hiện nay.  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài  
- Đối tượng nghiên cứu: lý luận và thực tiễn kiểm sát việc áp dụng biện pháp  
tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam.  
- Phạm vi nghiên cứu: Công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam của Viện kiểm  
sát nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh, trong đó, chỉ nghiên cứu kiểm  
sát việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam về hình sự, không đề cập về tạm giữ  
hành chính; thời gian lấy số liệu trong 05 năm (2013- 2017).  
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu  
- Cơ sở lý luận: luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa  
Mác - LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các quan điểm của  
Đảng cộng sản Việt Nam về tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và xây dựng  
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; nhất là dựa trên  
quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp trong Nghị quyết về Một số nhiệm  
vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới số 08/NQ-TW ngày  
02/01/2002 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ  
chính trị về cải cách tư pháp đến năm 2020 mà trực tiếp là các quan điểm đổi mới tổ  
chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.  
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng  
phép biện chứng của triết học Mác-LêNin, đồng thời sử dụng một số phương pháp  
nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, phương pháp nghiên cứu và xử lý  
thông tin, phương pháp lôgic tổng hợp, phương pháp điều tra xã hội học, lịch sử,  
thống kê, dự báo, so sánh, tổng kết thực tiễn...  
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn  
- Về lý luận: Nghiên cứu góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về vị trí, vai trò,  
nhiệm vụ, quyền hạn của ngành kiểm sát nhân dân nói chung và của Viện kiểm sát  
nhân dân quận Bình Tân nói riêng trong việc thực hiện chức năng kiểm sát việc áp  
dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam.  
- Về thực tiễn: Việc nghiên cứu công tác kiểm sát việc áp dụng biện pháp  
5
tạm giữ, tạm giam có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn sâu sắc; việc phân tích lý  
luận, pháp luật về biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam và thực tiễn áp dụng  
sẽ rút ra những kết luận hữu ích, giúp giải quyết những tồn tại, những vướng mắc  
trong thực tiễn. Viện kiểm sát là chủ thể rất quan trọng trong việc kiểm sát các hoạt  
động tố tụng nói chung và áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam nói  
riêng. Các giải pháp mà luận văn đề xuất sẽ góp phần cho việc kiểm sát việc áp  
dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam, cũng như kiểm  
sát việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam của Viện kiểm sát nhân dân quận  
Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh được thực hiện tốt hơn, đáp ứng yêu cầu của  
công cuộc cải cách tư pháp. Vì vậy, luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham  
khảo cho những người đang công tác trong lĩnh vực này.  
7. Cơ cấu của luận văn  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận  
văn gồm 3 chương:  
- Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về kiểm sát việc áp dụng biện  
pháp tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam  
- Chương 2: Thực trạng kiểm sát việc áp dung biện pháp tạm giữ, tạm giam  
từ thực tiễn quận Bình Tân, thanh phố Hồ Chí Minh  
- Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm  
sát việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong giai đoạn hiện nay  
6
Chương 1  
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG BIỆN  
PHÁP TẠM GIỮ, TẠM GIAM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM  
1.1. Khái quát chung về tạm giữ, tạm giam và thẩm quyền, thủ tục áp  
dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam  
1.1.1. Khái niệm tạm giữ, tạm giam  
Theo Từ điển luật học năm 2006 thì khái niệm tạm giữ, tạm giam được định  
nghĩa như sau:  
Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người bị bắt trong trường  
hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang để cách ly họ với xã hội trong thời gian cần  
thiết cần ngăn chặn người đó tiếp tục phạm tội, cản trở điều tra và xác định sự liên  
quan của người này đối với việc phạm tội [41].  
Tạm giam là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc, ảnh hưởng trực tiếp đến  
quyền tự do thân thể của công dân. Đây là biện pháp ngăn chặn, cách ly bị can, bị  
cáo trong thời gian nhất định nhằm ngăn chặn các hành vi trốn tránh pháp luật, cản  
trở điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội mới của bị can, bị cáo, đảm  
bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử được thuận lợi [41].  
BLTTHS Việt Nam năm 2015 quy định các biện pháp ngăn chặn như sau:  
để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ  
gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để  
đảm bảo thi hành án, cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi  
thẩm quyền của mình, có thể áp dụng biện pháp tạm giữ người đối với người bị bắt  
(Bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người  
đang bị truy nã), bắt bị can, bị cáo để tạm giam và các biện pháp bảo lĩnh, đặt tiền  
để bảo đảm, cấm đi khổi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh.  
Biện pháp ngăn chặn tạm giữ là ngăn chặn hành vi phạm tội hoặc hành vi  
cản trở việc điều tra khám phá tội phạm của những người bị nghi là đã thực hiện  
hành vi phạm tội, tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền có đủ thời gian để xác  
định tính chất, mức độ, hành vi, nhân thân của người thực hiện hành vi nguy hiểm  
7
     
cho xã hội để từ đó ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bị  
cáo hoặc ban hành các, quyết định pháp lý cần thiết như tạm giam, áp dụng các biện  
pháp ngăn chặn khác hay trả tự do cho người bị bắt.  
Biện pháp ngăn chặn tạm giam là nhằm ngăn chặn và phòng ngừa tội phạm.  
BLTTHS quy định về biện pháp tạm giam có ý nghĩa rất quan trọng. Biện pháp tạm  
giam góm phần nâng cao hiệu quả trong việc quản lý các đối tượng vi phạm nhằm  
cũng cố, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự an toàn, vững mạnh của  
chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản  
của công dân, bảo đảm cho công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm của các cơ  
quan tiến hành tố tụng đạt được hiệu quả cao.  
Tóm lại, tạm giữ là một biện pháp ngăn chặn được quy định trong BLTTHS  
do cơ quan và người có thẩm quyền áp dụng nhằm kịp thời ngăn chặn người phạm  
tội không gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, không tiếp tục thực  
hiện tội mới và khi cần thiết còn đảm bảo cho việc thi hành án. Tạm giam được quy  
định trong BLTTHS là biện pháp ngăn chặn do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát  
hoặc Tòa án áp dụng nhằm buộc những người phạm tội có lệnh tạm giữ đang có  
hiệu lực pháp luật hoặc người bị bắt theo lệnh tạm giam tiếp tục bị giam giữ nhằm  
cách ly họ khổi xã hội trong khoảng thời gian nhất định tại Nhà tạm giữ hoặc Trại  
tạm giam với mục đích ngăn chặn hành vi phạm tội, gây khó khăn cho công tác điều  
tra, truy tố, xét xử, đảm bảo cho việc thi hành án.  
1.1.2. Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam  
Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn nói chung được quy định tại Điều 109  
BLTTHS năm 2015: “Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ  
người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục  
phạm tội hoặc để đảm bảo thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố  
tụng, trong phạm vi thẩm quyền của mình, có thể áp dụng các biện pháp tạm giữ  
người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh…”  
Bắt bị can, bị cáo để tạm giữ, tạm giam phải tuân theo các căn cứ quy định  
tại điều 109 của BLTTHS hiện hành, bao gồm các căn cứ sau: khi có căn cứ chứng  
8
tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử; có căn cứ chứng  
tỏ bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội; khi có căn cứ rõ ràng bị can, bị cáo sẽ gây khó  
khăn cho việc thi hành án bản án hình sự.  
Giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải tuân theo căn cứ quy định tại  
Điều 110 của BLTTHS hiện hành. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải thỏa  
mãn một trong các trường hợp sau: Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn  
bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; Người  
thực hiện cùng tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt nơi xảy ra tội phạm chính  
mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần  
ngăn chặn ngay việc người đó trốn; có dấu vết của tội phạm ở ngoài hoặc tại chỗ ở  
hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và  
xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ. Như vậy,áp  
dụng biện pháp ngăn chặn khi xác định được một người đang chuẩn bị thực hiện  
hành vi nguy hiểm gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội, cá nhân, tổ  
chức mức độ rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng; khi xảy ra thiệt hại thì đồng  
phạm hoặc người bị hại hoặc người chứng kiến vụ việc xác định đúng chính người  
đó đã thực hiện tội phạm cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn; cần ngăn chặn  
ngay khi người bị nghi thực hiện tội phạm trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.  
Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn được quy định tại Điều 109 BLTTHS và  
được cụ thể hóa tại Điều 117 BLTTHS hiện hành. Tạm giữ có thể áp dụng đối với  
người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả  
tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy  
nã. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi ra quyết định tạm giữ, người ra quyết định tạm  
giữ phải gửi quyết định tạm giữ kèm theo các tài liệu làm căn cứ tạm giữ cho Viện  
kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền. Như vậy, tạm giữ được áp  
dụng khi có căn cứ cho rằng hành vi vi phạm của người tạm giữ đã gây thiệt hại và  
có hậu quả xảy ra.  
Áp dụng biện pháp tạm giữ đối với người chưa đủ 18 tuổi được quy định tại  
Điều 419 BLTTHS hiện hành, theo đó chỉ áp dụng biện pháp tạm giữ khi có căn cứ  
9
cho rằng áp dụng các biện pháp giám sát, biện pháp ngăn chặn khác không hiệu  
quả. Về thời hạn tạm giam đối với các đối tượng này cũng được cân nhắc theo  
hướng quan tâm bảo vệ lợi ích cho họ, theo đó chỉ áp dụng hai phần ba thời gian  
tạm giam đối với người đủ 18 tuổi. Người tử đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị  
giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt tạm giam, tạm giữ khi thỏa mãn những quy định  
tại Khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi có căn cứ  
quy định tại các Điều 110, 111 và 112 các điểm a, b, c, d và đ Khoản 2 Điều 119  
BLTTHS hiện hành. Người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị giữ trong trường  
hợp bắt khẩn cấp, bị bắt bị, tạm giữ, tạm giam về tội nghiêm trọng do cố ý, tội đặc  
biệt nghiêm trọng, nếu có căn cứ quy định tại các điều 110, 111 và 112 các điểm a,  
b, c, d và đ Khoản 2 Điều 119 BLTTHS hiện hành. Tuy nhiên, trường hợp người đủ  
16 tuổi đến dưới 18 tuổi vẫn áp dụng biện pháp tạm giữ trong trường hợp tội phạm  
nghiêm trọng do lỗi vô ý hay tội ít nghiêm trọng khi họ tiếp tục phạm tội, bỏ trốn và  
bị bắt theo quyết định truy nã.  
Về thời hạn tạm giữ, căn cứ theo quy định tại Điều 118 BLTTHS hiện hành  
thì thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày kể từ khi cơ quan điều tra, cơ quan được  
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt  
hoặc áp giải người bị giữ… Trong trường hợp cần thiết thì có thể gia hạn không quá  
03 ngày, trong trường hợp đặc biệt có thể gia hạn lần thứ hai nhưng không quá 03  
ngày.  
Biện pháp tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, nhằm cách  
ly người phạm tội khỏi đời sống xã hội, có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi chính  
trị, quyền tự do của con người. Vì vậy, áp dụng biện pháp này phải có căn cứ rõ  
ràng, xác đáng, không lạm dụng, áp dụng tùy tiện. Vì tạm giam là một trong những  
biện pháp ngăn chặn được quy định trong BLTTHS hiện hành nên căn cứ đầu tiên  
để áp dụng biện pháp tạm giam cũng chính là căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn  
nói chung được quy định tại Điều 109 và được quy định cụ thể hóa tại Điều 119  
BLTTHS hiện hành. Theo đó, để áp dụng biện pháp tạm giam cần phải bám sát căn  
cứ sau:  
10  
Một là, Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm  
trọng; Phạm tội đặc biệt nghiêm trọng: (Khoản 4 Điều 9 BLHS năm 2015 sửa đổi,  
bổ sung năm 2017) là thực hiện tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội ở  
mức cao nhất của hình phạt là từ 15 năm đến 20 năm, chung thân hoặc tử hình,  
phạm tội rất nghiêm trọng (Khoản 3 Điều 9 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm  
2017) là phạm tội có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn, mức hình cao  
nhất của khung hình phạt là 15 năm tù giam. Dựa vào tính chất nguy hiểm và mức  
độ thiệt hại từ rất lớn đến đặc biệt lớn đối với xã hội của hai loại tội phạm trên, pháp  
luật cho phép áp dụng biện pháp tạm giam mà không cần điều kiện kèm theo như  
cản trở, gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, khả năng tiếp tục  
phạm tội hay bỏ trốn vì mức độ nguy hiểm cho xã hội của các tội phạm này đã bao  
gồm khả năng xảy ra các hành vi trên.  
Hai là, Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng mà BLHS  
năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định hình phạt tù trên hai năm mà có  
căn cứ cho rằng người đó bỏ trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có  
thể tiếp tục phạm tội. Tội phạm nghiêm trọng: là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã  
hội mà mức cao nhất của khung hình phạt lên đến bảy năm tù (Khoản 2 Điều 9  
BLHS hiện hành); Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ  
nguy hiểm cho xã hội không lớn, mức cao nhất của khung hình phạt đến ba năm tù  
giam (Khoản 1 Điều 9 BLHS hiện hành). Như vậy, dựa vào tính chất, mức độ nguy  
hại cho xã hội không lớn nên khi áp dụng biện pháp tạm giam cho loại tội phạm này  
cần phải được xem xét thêm các điều kiện khác.  
Với điều kiện bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng mà hình  
phạt đối với hành vi này là trên hai năm thì việc xác định căn cứ hình phạt tù là trên  
hai năm đặt ra hai quan điểm:  
Một là, phạm tội ở bất cứ khoản nào của điều luật mà trong điều luật đó có  
quy định khung hình phạt cao nhất của khoản nặng nhất là trên hai năm tù.  
11  
Hai là, khi bị can, bị cáo bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo một khoản  
cụ thể nào đó của điều luật thì áp dụng mức hình phạt tù cao nhất mà mà khoản đó  
quy định.  
Hiện nay tuy vẫn còn tranh luận, tuy nhiên trên thực tế thường xác định theo  
cách thứ hai nhiều hơn vì theo hướng có lợi cho người phạm tội và cũng là điều  
kiện để xác định thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử dễ dàng hơn.  
Về dấu hiệu: phải có căn cứ rõ ràng là người này có thể bỏ trốn hoặc cản trở  
điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội, tuy luật không giải thích cụ  
thể “Có căn cứ cho rằng” mà phần lớn việc xác định căn cứ này trên thực tế phụ  
thuộc vào ý chí chủ quan của Cơ quan tiến hành tố tụng. Để xác định căn cứ này  
thông thường Cơ quan tiến hành tố tụng phải tìm hiểu về hoàn cảnh, nhân thân bị  
can, bị cáo, xem xét các biểu hiện trốn tránh như vắng mặt nhiều lần khi được triệu  
tập, tẩu tán tài sản, đi xa, báo bệnh nhưng thực chất không có bệnh… có các hành vi  
cản trở gây, khó khăn cho việc điều tra như tiêu hủy chứng cứ, thông cung, mua  
chuộc, dọa dẫm người làm chứng….; có tài liệu cho thấy đây là những đối tượng tái  
phạm, tái phạm nguy hiểm, tội phạm có tính chất chuyện nghiệp…  
Bị can, bị cáo bắt trong trường hợp bị truy nã theo quy định tại Khoản 2  
Điều 114 BLTTHS hiện hành về những việc cần làm ngay sau khi giữ người trong  
trường hợp khẩn cấp, bắt người hoặc nhận người bị giữ, bị bắt “… Cơ quan điều tra  
ra quyết định truy nã có thẩm quyền bắt để tạm giam phải ra ngay lệnh tạm  
giam…”, người bị bắt do bị truy nã dù phạm tội trong trường hợp, mức độ nào thì  
cũng phải tạm giam  
Tuy vậy, vẫn có trường hợp pháp luật hạn chế áp dụng biện pháp tạm giam  
theo khoản 4 Điều 119 BLTTHS hiện hành “Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai  
hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có  
nơi cư trú và lai lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn  
khác”. Không áp dụng biện pháp tạm giam với những trường hợp như vậy là vừa  
thấu tình, vừa đạt lý vì đây là những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt và có những  
diễn biến tâm sinh lý không giống với những người khỏe mạnh bình thường. Vì  
12  
vậy, xã hội luôn đặt sự an toàn của phụ nữ mang thai, trẻ em và người già lên vị trí  
cao nhất vì họ là những đối tượng cần được chăm sóc và bảo vệ trên hết, theo luân  
lý thường tình giữa người với người. Tuy nhiên, vẫn còn những trường hợp bị can,  
bị cáo thuộc những đối tượng lợi dụng những ưu đãi này mà trốn tránh nghĩa vụ,  
tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn. Vì vậy, cơ quan có thẩm quyền khi có đầy đủ căn cứ  
khẳng định họ có thể sẽ gây nguy hại cho xã hội, tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn thì  
phải buộc tạm giam để phục vụ cho quá trình tố tụng hình sự. Điều này cũng được  
quy định trong các điểm a,b,c,d Khoản 4 Điều 119 BLTTHS hiện hành “a. bỏ trốn  
và bị bắt theo quyết định truy nã”; “b. tiếp tục phạm tội”; “c. có hành vi mua chuộc,  
xúi dục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo  
chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tàn tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa  
khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân  
thích của những người này”; “d. bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và  
có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đối với an  
ninh quốc gia”.  
Đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên cần lưu ý rằng biện pháp  
tạm giam vẫn có thể áp dụng đối với người phạm tội là người chưa thành niên  
(người dưới mười tám tuổi) phạm tội. Nhưng vì đây là những đối tượng đặc biệt, có  
những điểm khác biệt về tâm, sinh lý, hành động chưa chính chắn, năng lực hành vi  
chưa đầy đủ nên pháp luật tố tụng hình sự có những quy định điều chỉnh riêng, áp  
dụng đồng thời với các quy định khác. Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam hay biện  
pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế khác quy định ở phần thủ tục đặc biệt đối với  
người dưới 18 tuổi tại Chương 28, cụ thể là Điều 419 BLTTHS hiện hành. Trong  
các trường hợp này, áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam đối với người dưới 18  
tuổi chỉ khi thật cần thiết hoặc đã áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác nhẹ hơn  
mà không có hiệu quả thì mới áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam. “Chỉ áp dụng  
biện pháp tạm giữ, tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi khi có  
căn cứ cho rằng việc áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp khác không hiệu  
quả”.  
13  
Người đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị giữ trong trường hợp khẩn cấp,  
bị bắt, bị tạm giữ, bị tạm giam về tội phạm quy định tại Khoản 2 Điều 12 Bộ luật  
Hình sự nếu có căn cứ theo các điều 110,111 và 112, các điểm a,b,c,d và đ Khoản 2  
Điều 119 của BLTTHS hiện hành; Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị  
giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam về tội nghiêm trọng do  
lỗi cố ý, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng nếu có căn cứ quy định tại  
các điều 110, 111, 112, các điểm a,b,c,d và đ Khoản 2 Điều 119 của BLTTHS hiện  
hành. Như vậy, trong các trường hợp trên đã thể hiện sự khác biệt trong quy định về  
việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và  
người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội. Người từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chỉ bị áp dụng  
biện pháp tạm giữ, tạm giam trong trường hợp phạm tội ở mức độ tội nghiêm trọng  
do lỗi cố ý (Trường hợp mức độ ít nghiêm trong, nghiêm trọng do lỗi vô ý thì không  
áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam); đối với tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt  
nghiêm trọng trong trường hợp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người  
phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn  
khác nhưng vi phạm, không có nơi cư trú rõ ràng, không xác định được lý lịch của  
bị can, bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn, tiếp tục  
phạm tội hoặc có dấu hiệu phạm tội, có hành vi cưỡng ép, mua chuộc, xúi giục  
người khác khai báo gian dối cung cấp tài liệu sai sự thật, tiêu hủy hoặc giả mạo  
chứng cứ…thì có thể bị tạm giữ, tạm giam.  
1.1.3.Thẩm quyền, thủ tục áp biện pháp tạm giữ, tạm giam  
Trong trường hợp khẩn cấp thì Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra  
các cấp, Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng  
Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội  
biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát biên  
phòng Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội  
biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng chống ma túy Bộ đội biên phòng;  
Tư lệnh vùng lục lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục nghiệp vụ và pháp luật lực  
lượng cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy  
14  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 89 trang yennguyen 18840 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Kiểm sát việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_kiem_sat_viec_ap_dung_bien_phap_tam_giu_tam_giam_th.pdf