Luận văn Ảnh hưởng của sở hữu nước ngoài đến tính thanh khoản của thị trường chứng khoán Việt Nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM  
--------------------  
LÊ THỊ THÙY LINH  
ẢNH HƯỞNG CỦA SỞ HỮU NƯỚC NGOÀI ĐẾN TÍNH  
THANH KHOẢN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG  
KHOÁN VIỆT NAM  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2013  
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM  
------------------  
LÊ THỊ THÙY LINH  
ẢNH HƯỞNG CỦA SỞ HỮU NƯỚC NGOÀI ĐẾN  
TÍNH THANH KHOẢN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG  
KHOÁN VIỆT NAM  
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng  
Mã số: 60340201  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC  
TS. TRẦN THỊ HẢI LÝ  
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2013  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan luận văn ‘‘ẢNH HƯỞNG CỦA SỞ HỮU NƯỚC NGOÀI  
ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN  
VIỆT NAM’’ là công trình nghiên cứu của chính tác giả, nội dung được đúc kết  
từ quá trình học tập và các kết quả nghiên cứu thực tiễn trong thời gian qua, số  
liệu sử dụng là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng. Luận văn được  
thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Thị Hải Lý.  
Tp. HCM, ngày 30 tháng 09 năm 2013  
Lê Thị Thùy Linh  
LỜI CẢM ƠN  
Tôi chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu và Khoa Đào tạo Sau Đại học Trường  
Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi  
học tập và nghiên cứu trong suốt thời gian qua.  
Tôi chân thành cảm ơn các Thầy Cô Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ  
Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy cho tôi trong suốt quá trình tham gia học tập  
tại Trường.  
Tôi chân thành cảm ơn Cô - TS. Trần Thị Hải Lý đã tận tình chỉ bảo, góp ý  
và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.  
Tôi chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận  
lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn này.  
Xin trân trọng cảm ơn.  
Tác giả luận văn  
Lê Thị Thùy Linh  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
STT  
TỪ VIẾT TẮT  
DIỄN GIẢI  
1
2
3
SGDCK  
VN-Index  
TP.HCM  
Sở giao dịch chứng khoán  
Vietnam Index  
Thành phố Hồ Chí Minh  
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU  
Ký hiệu  
S
Diễn giải Tiếng Anh  
Spread  
Diễn giải Tiếng Việt  
Chênh lệch giá mua bán  
Độ sâu thị trường  
D
Depth  
PS  
Price Sensitivity  
Kurtosis  
Độ nhạy cảm về giá  
Độ nhọn phân phối xác suất  
Độ lệch phân phối xác xuất  
Logarit tự nhiên  
K
Sk  
Sknewness  
Ln  
Natural logarithm  
Maximum  
Mean  
Median  
Minimum  
FINST  
ΔFINST  
L
Giá trị lớn nhất  
Giá trị trung bình  
Giá trị trung vị  
Giá trị nhỏ nhất  
Foreign ownership  
Change in foreign ownership  
Liquidity  
Sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài  
Thayđổi trong sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài  
Thanh khoản của cổ phiếu  
Giá chào bán tốt nhất  
Giá đặt mua tốt nhất  
Nhà đầu tư lướt sóng  
Khối lượng cổ phiếu  
Ask  
Ask price  
Bid  
Bid price  
Liquidity traders  
Quantity  
Q
Σ
Độ lệch chuẩn  
PH  
Highest price  
Lowest price  
Tunover ratio  
Return  
Giá khớp lệnh cao nhất  
Giá khớp lệnh thấpnhất  
Tỷlệ doanh thu  
PL  
TOVER  
R
Thu nhập cổ phiếu  
MCAP  
V
Market capital  
Trading value  
Illiquidity  
Vốn thị trường  
Giá trị giaodịch  
Illiqid  
Chỉ sốđolườngthiếutính thanhkhoản  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
STT  
KÝ HIỆU  
Bảng 1  
TÊN HÌNH  
1
2
Sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.  
Bảng 2  
Thống kê mô tả các chỉ số đo lường thanh khoản trên thị trường chứng  
khoán Việt Nam.  
3
4
5
6
7
8
9
Bảng 3A  
Bảng 3B  
Bảng 4A  
Bảng 4B  
Bảng 5A  
Bảng 5B  
Bảng 6  
Thống kê mô tả các chỉ số S, D, PS và Ln(S), Ln(D), Ln(PS) của từng cổ  
phiếu theo tháng.  
Thống kê mô tả các chỉ số S, D, PS và Ln(S), Ln(D), Ln(PS) của từng  
nhóm cổ phiếu theo tháng.  
Thống kê mô tả các chỉ số FINST, ΔFINST, r, σ, Tover, Ln(MCAP) của  
từng cổ phiếu theo tháng.  
Trình bày ma trận tương quan của các chỉ số FINST, ΔFINST, r, σ, Tover,  
Ln(MCAP) của từng cổ phiếu theo tháng.  
Kết quả kiểm định ảnh hưởng của thanh khoản lên tỷ lệ sở hữu của nhà đầu  
tư nước ngoài.  
Kết quả kiểm định ảnh hưởng của biến động thanh khoản lên thay đổi  
trong tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài.  
Kết quả kiểm định tác động của sở hữu nhà đầu tư nước ngoài lên thanh  
khoản của chứng khoán.  
MỤC LỤC  
TÓM TẮT.......................................................................................................................................1  
1. GIỚI THIỆU..............................................................................................2  
2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY................................5  
3. DỮ LIỆU, PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ...............18  
3.1 Dữ liệu.................................................................................................18  
3.2 Phương pháp nghiên cứu .....................................................................19  
3.3 Đo lường sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài........................................19  
3.4 Đo lường tính thanh khoản của cổ phiếu..............................................20  
3.5 Các biến khác ......................................................................................21  
3.6 Mô hình nghiên cứu.............................................................................22  
4. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU...........................................26  
4.1 Thống kê mô tả....................................................................................26  
4.2 Kết quả nghiên cứu..............................................................................34  
4.2.1 Ảnh hưởng của thanh khoản lên sở hữu nước ngoài ......................34  
4.2.2 Ảnh hưởng của sở hữu nước ngoài lên thanh khoản ......................39  
5. KẾT LUẬN ..............................................................................................42  
5.1 Các kết quả chính ................................................................................42  
5.2 Các hàm ý từ kết quả nghiên cứu.........................................................44  
5.2.1 Đối với hoạch định chính sách.......................................................44  
5.2.2 Đối với đầu tư cổ phiếu .................................................................45  
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng phát triển ................................................45  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................47  
PHỤ LỤC......................................................................................................................................50  
TÓM TẮT  
Bài nghiên cứu này được thực hiện nhằm kiểm định mối quan hệ nhân  
quả giữa sở hữu nhà đầu tư nước nước ngoài và thanh khoản của thị trường  
chứng khoán Việt Nam. Câu hỏi đặt ra là có hay không sở hữu nhà đầu tư  
nước ngoài ảnh hưởng lên thanh khoản của thị trường chứng khoán Việt Nam  
và ảnh hưởng này là tích cực hay tiêu cực?. Dữ liệu nghiên cứu là số liệu liên  
quan cổ phiếu niêm yết tại SGDCK TP.HCM và SGDCK Hà Nội trong  
khoảng thời gian từ ngày 01/01/2010 đến15/08/2013. Bộ dữ liệu gồm 703 cổ  
phiếu giao dịch trên sàn chứng khoán TP.HCM và Hà Nội. Tổng số mẫu quan  
sát được chia thành 5 nhóm dựa trên MCAP trung bình trong giai đoạn nghiên  
cứu của từng cổ phiếu: mỗi nhóm gồm 140 mẫu, riêng nhóm 5 là 143 mẫu  
quan sát. Tác giả tìm thấy kết quả nghiên cứu như sau:  
Nhóm cổ phiếu có lợi nhuận cao thu hút nhà đầu tư nước ngoài  
hơn, trong khi biến động giá cao hơn làm giảm mong muốn nắm giữ cổ phiếu  
của nhà đầu tư nước ngoài.  
Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài giảm theo chênh lệch giá  
mua bán và tăng theo chiều sâu. Điều này có nghĩa là nhà đầu tư nước ngoài  
tại Việt Nam có sở thích đầu tư vào các cổ phiếu có tính thanh khoản cao.  
Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài hiện tại có tác động tích  
cực đến thanh khoản cổ phiếu trong tương lai. Tuy nhiên, nếu tỷ lệ này tăng  
đến một mức độ nhất định sẽ gây ra ảnh hưởng xấu đến thanh khoản trong  
tương lai của cổ phiếu.  
Từ khoá: sở hữu nhà đầu tư nước ngoài, thanh khoản  
1
1. GIỚI THIỆU  
Thanh khoản cổ phiếu nhìn có vẻ rất đơn giản và dễ hiểu. Tuy nhiên,  
thực tế cho thấy không đơn giản, có rất nhiều khái niệm khác nhau được nêu  
lên bởi những nhà nghiên cứu và những nhà đầu tư chuyên nghiệp.  
Robert F. Stambaugh (2002) đưa ra khái niệm về thanh khoản cổ phiếu  
như sau: “Thanh khoản cổ phiếu là một khái niệm rất rộng và không rõ ràng,  
nhưng nhìn chung nó phản ánh khả năng giao dịch một khối lượng lớn cổ  
phiếu một cách nhanh chóng tại một mức phí thấp và không có sự dịch  
chuyển về giá”.  
Chiara Coluzzi, Sergio Ginebri và Manuel Turco (2008) cho rằng rất  
khó hiểu và giải thích về thanh khoản cổ phiếu và đã đưa ra khái niệm như  
sau: “Thanh khoản cổ phiếu là khả năng giao dịch mà không bị ảnh hưởng  
đến giá của chúng”.  
Như vậy, thanh khoản cổ phiếu là khả năng chuyển đổi cổ phiếu thành  
tiền dễ  
dàng với sự ảnh hưởng về giá không đáng kể và với một khoản phí tương đối  
thấp.  
Thanh khoản cổ phiếu được xem như một dòng máu của thị trường  
chứng khoán, góp phần đảm bảo thị trường tài chính cũng như nền kinh tế vận  
hành một cách thông suốt. Đây là một nội dung rất chung và trừu tượng vì  
bản thân nó có nhiều tính chất khác nhau.  
Nhìn chung, các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hoạt động giống  
như các nhà đầu tư tổ chức bởi theo Coval & Moskowitz (1999); Dahlquist &  
Robertsson (2001) tổ chức đầu tư nước ngoài chiếm một tỷ lệ lớn đầu tư nước  
ngoài. Ở Việt Nam, có hạn chế quyền sở hữu nước ngoài, các nhà đầu tư nước  
2
ngoài được phép sở hữu đến 30% trong các ngân hàng thương mại và 49%  
trong các công ty niêm yết.  
Như chúng ta biết, thị trường tài chính tại các nước đang phát triển  
không lành mạnh như những nền kinh tế tiên tiến. Thiếu thanh khoản được  
coi là một yếu tố quan trọng cho sự biến động cao trong thị trường mới nổi và  
là một trở ngại đáng kể cho sự phát triển thị trường tài chính. Theo lý thuyết  
được xây dựng bởi Stulz (1999a, 1999b), sự tham gia của các tổ chức tài  
chính quốc tế lớn sẽ tăng tính thanh khoản thị trường trong nước thông qua  
công bố thông tin tốt hơn và giao dịch sôi động hơn. Vì vậy, mở cửa thị  
trường tài chính trong nước cho các nhà đầu tư quốc tế, là một phần của tự do  
hóa tài chính, được mong đợi sẽ làm tăng tính thanh khoản của thị trường.  
Từ năm 2010 đến năm 2013, tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài đối  
với cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam có sự tăng trưởng nhẹ từ  
6.1% năm 2010 lên 6.7% năm 2013. Vậy sự tăng trưởng này có tác động như  
thế nào đến tính thanh khoản của thị trường chứng khoán Việt Nam? Bài  
nghiên cứu này nhằm tìm ra lời giải đáp cho câu hỏi trên. Bài nghiên cứu tìm  
hiểu tác động của sở hữu đầu tư nước ngoài đối với thanh khoản của thị  
trường chứng khoán Việt Nam. Kết quả này hỗ trợ cho các chính sách mở cửa  
đầu tư nước ngoài nhằm mục đích tăng cường thanh khoản của thị trường  
chứng khoán. Ngoài ra, bởi vì tính thanh khoản vốn là một nội dung rất chung  
và trừu tượng do bản thân nó có nhiều tính chất khác nhau. Nên kết quả này  
rất có ý nghĩa đối với nhà đầu tư trong việc đánh giá và so sánh tính thanh  
khoản của các loại cổ phiếu nhằm đưa ra quyết định sáng suốt khi đầu tư.  
Kết cấu của bài nghiên cứu như sau:  
-Phần 1: Giới thiệu  
-Phần 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây  
3
-Phần 3: Dữ liệu, phương pháp và mô hình nghiên cứu  
-Phần 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu  
-Phần 5: Kết luận  
4
2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY  
Marshall E. Blume và Donald B. Keim (2012) đã sử dụng tài liệu  
nghiên cứu của Thomson 13F về sở hữu cổ phiếu của các tổ chức tại thị  
trường chứng khoán Mỹ từ năm 1982 đến năm 1995 và mở rộng mẫu thêm từ  
năm 1996 đến năm 2010. Tác giả thấy rằng sự tham gia của các tổ chức tại thị  
trường chứng khoán Mỹ trong những thập kỷ gần đây đóng vai trò ngày càng  
tăng trong việc giải thích sự thay đổi trong thanh khoản của thị trường cổ  
phiếu. Trong bài nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp của Amihud  
(2002) để đo lường chỉ số thiếu tính thanh khoản. Phương pháp đo lường chỉ  
số thể hiện thiếu tính thanh khoản của Amihud cho cổ phiếu i trong quý q  
được tính như sau:  
Illiqidiq =  
Với ri,t là lợi nhuận hàng ngày cho cổ phiếu i vào ngày t; dolvolit là khối  
lượng đô la giao dịch cho cổ phiếu i vào ngày t; và Niq là số ngày mà cổ phiếu  
i được giao dịch trong quý q. Tác giả yêu cầu N lớn hơn bằng 40 ngày để  
được lựa chọn vào mẫu đại diện.  
Nghiên cứu này tìm thấy:  
Số lượng các tổ chức sở hữu và số lượng giao dịch cổ phiếu quan  
trọng hơn so với tỷ lệ sở hữu của các tổ chức trong việc giải thích biến động  
của thanh khoản.  
Số lượng các tổ chức sở hữu tăng là nhân tố giải thích cho sự  
thiếu tính thanh khoản mạnh hơn đáng kể trong nửa cuối thời kỳ mẫu (1996-  
2010) so với giai đoạn đầu là (1982-1995).  
Lilian Ng, Fei Wu, Jing Yu, và Bohui Zhang (2011) cho rằng quyền sở  
5
của các tổ chức nước ngoài đã phát triển nhanh chóng như một bước tiến của  
tự do hóa thị trường chứng khoán trong thập kỷ qua. Với sự hiện diện đáng kể  
của các cổ đông chi phối nước ngoài, tác giả xem xét tác động trực tiếp của  
quyền sở của các cổ đông chi phối nước ngoài lên thanh khoản cổ phiếu của  
công ty với mẫu xem xét là các công ty quốc tế từ 40 quốc gia trong giai đoạn  
từ năm 2002 đến năm 2007. Tác giả đo lường tính thanh khoản cổ phiếu bằng  
bốn biện pháp khác nhau: chênh lệch giá mua bán có hiệu lực (effective  
spread), chênh lệch giá mua bán niêm yết (quoted spread), chỉ số đo lường  
tính thiếu thanh khoản của Amihud (2002) và doanh số của chứng khoán. Tác  
giả đã ghi lại các hiệu ứng thanh khoản tiêu cực của quyền sở hữu nước ngoài  
trong phần lớn các nước chọn mẫu. Tác giả tiến hành phân tích sâu hơn để  
tìm ra những lời giải thích có thể cho tác động tiêu cực của cổ đông chi phối  
nước ngoài đến thanh khoản chứng khoán. Nghiên cứu này tìm thấy:  
Sự hiện diện của sở hữu tổ chức nước ngoài làm giảm số lượng  
cổ phiếu tự do giao dịch có sẵn cho công chúng, điều này cho thấy sở hữu của  
các tổ chức nước ngoài làm suy giảm hoạt động giao dịch cổ phiếu.  
Hơn nữa, tác động tiêu cực đến thanh khoản của sở hữu nhà đầu  
tư nước ngoài thể hiện rõ nhất ở các công ty với môi trường thông tin không  
lành mạnh và ở các công ty tại các nước có thông tin công bố chất lượng thấp.  
Những phát hiện này phù hợp với quan điểm cho rằng sở hữu tổ chức nước  
ngoài là nguyên nhân gây ra thông tin bất cân xứng và do đó không khuyến  
khích sự tham gia của các nhà đầu tư lướt sóng dẫn đến giảm thanh khoản cổ  
phiếu.  
Prasun Agarwal (2007) xem xét mối quan hệ giữa quyền sở hữu của  
các tổ chức và tính thanh khoản của cổ phiếu, tập trung chủ yếu vào lợi thế  
thông tin của các tổ chức. Lợi thế thông tin của các tổ chức có thể ảnh hưởng  
đến tính thanh khoản thông qua hai kênh: lựa chọn bất lợi và hiệu quả thông  
6
tin. “Lựa chọn bất lợi” là kết quả của gia tăng thông tin bất cân xứng. Tuy  
nhiên, “hiệu quả thông tin” lại là kết quả của sự cạnh tranh giữa các tổ chức.  
Trong bài nghiên cứu, tác giả sử dụng bốn phương pháp sau đây để đo lường  
tính thanh khoản: ước tính Gibbs (c_BMA) được đề xuất bởi Hasbrouck  
(2004, 2006), Illiqid được đề xuất bởi Amihud (2002), chênh lệch giá mua  
bán có hiệu lực (effective spread), chênh lệch giá mua bán niêm yết (quoted  
spread). Tác giả tìm thấy bằng chứng của một mối quan hệ phi tuyến giữa  
phần nắm giữ cổ phiếu công ty của các tổ chức và các biện pháp đo lường tính  
thanh khoản cổ phiếu khác nhau. Bằng chứng về mối quan hệ phi tuyến thể  
hiện hai đối tượng trên cùng tồn tại và tương tác với nhau. Kết quả của bài  
nghiên cứu cho thấy quyền sở hữu tổ chức có tác động đến tính thanh khoản,  
nó có tác động tích cực đến thanh khoản, đến một mức độ nhất định. Cuối  
cùng, tác giả ghi nhận rằng đặc điểm tổ chức đầu tư, chẳng hạn điểm giới hạn  
đầu tư và e ngại rủi ro, cũng ảnh hưởng đến thanh khoản. Thanh khoản giảm  
bởi sự gia tăng các nhà đầu tư tổ chức với kế hoạch đầu tư dài hạn và e ngại  
rủi ro. Kết quả đưa ra:  
Sự hiện diện của tổ chức đầu tư và sự cạnh tranh giữa chúng làm  
tăng tốc độ truyền dẫn thông tin vào giá cả. Điều này giúp cải thiện tính thanh  
khoản của cổ phiếu.  
Việc tăng tỷ phần các tổ chức đầu tư nước ngoài cũng làm cho  
thông tin bất cân xứng lớn hơn và các nhà giao dịch không có thông tin đối  
mặt với rủi ro lựa chọn bất lợi, dẫn đến một sự suy giảm về tính thanh khoản.  
Sở hữu của tổ chức đầu tư ảnh hưởng tích cực đến thanh khoản.  
Tuy nhiên, với mức độ sở hữu vượt quá 35% - 40%, tiếp tục gia tăng sở hữu  
tổ chức đầu tư gây ra một sự sụt giảm tính thanh khoản (chênh lệch giá tăng).  
Bác bỏ giả thiết rằng, quyền sở hữu tổ chức đầu tư không phải là  
nguyên nhân gây ra tính thanh khoản, tác giả cho rằng những thay đổi trong  
7
sở hữu tổ chức sẽ giúp dự đoán những thanh đổi về tính thanh khoản.  
Hơn nữa, khi kiểm tra tính đồng nhất giữa các tổ chức về tính  
thanh khoản, tác giả phát hiện ra rằng:  
Tính thanh khoản suy giảm khi gia tăng mở rộng đầu tư và chỉ tìm thấy  
bằng chứng yếu về tính thanh khoản của cổ phiếu ảnh hưởng đến loại sở hữu  
và việc mở rộng đầu tư của tổ chức đầu tư;  
Nhà đầu tư càng tăng lo ngại rủi ro sẽ dẫn đến kết quả là tính thanh  
khoản suy giảm cùng với suy giảm hiệu ứng hiệu quả thông tin.  
Geert Bekaert, Campbell R. Harvey, Christian Lundblad (2007) xem  
xét mối quan hệ giữa thanh khoản và lợi nhuận kỳ vọng. Tác giả tìm thấy có  
một mối quan hệ ngày càng rõ về sự thay đổi một cách có hệ thống trong  
thanh khoản đối với lợi nhuận kỳ vọng. Tác giả xem xét vấn đề này cho các  
thị trường mà thanh khoản đặc biệt giữ vai trò quan trọng, như thị trường mới  
nổi. Tác giả sử dụng mô hình VAR và phương pháp hồi qui cho 18 quốc gia  
mới nổi. Kết quả đưa ra:  
Có sự thay đổi một cách có hệ thống trong thanh khoản đối với  
lợi nhuận kỳ vọng.  
Sự tự do hóa có thể làm tăng tính thanh khoản, và ảnh hưởng đến  
mối quan hệ giữa lợi nhuận và tính thanh khoản.  
Nếu thanh khoản được định giá, một mô hình hai yếu tố thị  
trường và rủi ro thanh khoản có thể là một mô tả tốt về lợi nhuận kỳ vọng.  
Augusto de la Torre Juan Carlos Gozzi và Sergio L. Schmukler (2007)  
xem xét sự phát triển của thị trường chứng khoán dưới tác động của toàn cầu  
hóa.Trong thập kỷ qua, nhiều quốc gia đã thực hiện những cải cách quan  
trọng để thúc đẩy phát triển thị trường vốn trong nước. Những cải cách này  
8
bao gồm tự do hóa thị trường chứng khoán, các chương trình tư nhân hóa, và  
thiết lập các khung pháp lý và giám sát. Bất chấp những nỗ lực cải cách mạnh  
mẽ, kết quả hoạt động của thị trường vốn ở một số nước đã gây thất vọng. Để  
nghiên cứu xem cải cách đã có những tác động trên thị trường vốn, tác giả  
phân tích tác động của sáu cải cách thị trường vốn nhằm phát triển thị trường  
chứng khoán trong nước và quốc tế hóa. Kết quả đưa ra:  
Phân tích thực nghiệm của tác giả cho thấy rằng những cải cách  
giúp gia tăng vốn, thương mại, huy động vốn trên thị trường địa phương. Các  
bằng chứng như vậy cho thấy những cải cách đang tác động tích cực đến phát  
triển thị trường chứng khoán trong nước, trái với tuyên bố rằng chúng không  
có hiệu quả.  
Tuy nhiên, tác giả cũng thấy rằng quốc tế hóa tăng sau khi cải  
cách, liên quan đến cả GDP và hoạt động thị trường trong nước. Điều này đi  
ngược lại quan điểm cho rằng môi trường trong nước kém đẩy các công ty  
tiếp cận thị trường quốc tế và do đó cải cách làm giảm động cơ hướng ngoại.  
Thay vào đó, nó hỗ trợ cho giả thuyết rằng những cải cách làm cho doanh  
nghiệp trong nước hấp dẫn hơn, cho phép họ tiếp cận thị trường quốc tế.  
Phát hiện của tác giả cũng cho rằng toàn cầu hóa tài chính có thể  
gây ra một thách thức lớn cho các nhà hoạch định chính sách, cũng như  
những nỗ lực của họ để thúc đẩy phát triển thị trường chứng khoán trong nước  
mà dường như chuyển hoạt động nhiều hơn ở nước ngoài. Sự di cư của giao  
dịch sang thị trường quốc tế có thể làm ảnh hưởng đến tính thanh khoản của  
các công ty vẫn còn hoạt động trong thị trường nội địa và khả năng huy động  
vốn để thành lập công ty mới.  
S. Ghon Rhee và Jianxin Wang (2009) xem xét mối quan hệ giữa sở  
hữu của nhà đầu tư nước ngoài và thanh khoản của thị trường chứng khoán tại  
Indonesia.Tác giả tìm thấy, từ tháng Một năm 2002 đến tháng Tám năm 2007,  
9
tổ chức nước ngoài nắm giữ gần 70% giá trị cổ phiếu tự do chuyển nhượng  
của thị trường chứng khoán Indonesia, hoặc 41% tổng vốn thị trường. So với  
cùng kỳ, tính thanh khoản trên thị trường chứng khoán Jakarta cải thiện đáng  
kể với mức trung bình biên độ giao dịch giảm hơn một nửa và độ sâu trung  
bình tăng hơn gấp đôi. Bài nghiên cứu này có ba đặc điểm như sau:  
Thứ nhất, sử dụng sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài đối với từng cổ  
phiếu riêng lẻ như một thước đo trực tiếp sự hiện diện của nhà đầu tư nước  
ngoài tại thị trường trong nước nhằm phân tích mối quan hệ giữa yếu tố nước  
ngoài và tính thanh khoản.  
Thứ hai, sử dụng ba phương pháp để đo lường thanh khoản gồm: biên  
độ giao dịch, chiều sâu thị trường, và biến động giá của mỗi đơn vị giao dịch.  
Thứ ba, kiểm tra quan hệ nhân quả Granger giữa sở hữu nước ngoài và  
tính thanh khoản. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng cổ phiếu có tính  
thanh khoản thu hút các nhà đầu tư nước ngoài tại thị trường mới nổi. Nghiên  
cứu này khám phá quan hệ nhân quả này theohướng ngược lại bằng cách kiểm  
tra xem sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài có tăng cường tính thanh  
khoản thị trường hay không.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy:  
Sở hữu nhà đầu tư nước ngoài có tác động tiêu cực đến thanh  
khoản trong tương lai: một sự gia tăng 10% quyền sở hữu tổ chức nước ngoài  
trong tháng hiện tại có liên quan đến khoảng 2% tăng lên trong biên độ giao  
dịch, 3% giảm trong chiều sâu, và 4% gia tăng trong độ nhạy cảm của giá  
trong tháng tới, điều này thách thức quan điểm cho rằng các tổ chức nước  
ngoài tăng tính thanh khoản cho thị trường mới nổi.  
Tác giả cũng giải thích nguyên nhân vì sao tự do hóa tài chính  
diễn ra đã làm thanh khoản thị trường chứng khoán Jakarta cải thiện đáng kể  
10  
tuy nhiên sự cải thiện thiện này không xuất phát từ nguyên nhân tăng sở hữu  
của nhà đầu tư nước ngoài. Bởi vì, tự do hóa thị trường luôn luôn đi kèm với  
những thay đổi kinh tế vĩ mô, thể chế và pháp lý. Nó có thể làm tăng thanh  
khoản thông qua các cải cách chính sách thay vì mở cửa cho nhà đầu tư nước  
ngoài.  
Trong khi sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài có tác động tiêu cực  
trong cả ba biện pháp đo lường thanh khoản trong nửa đầu của thời kỳ chọn  
mẫu, tác động tiêu cực của nó vẫn còn lên chiều sâu thị trường trong nửa thời  
kỳ thứ hai. Tác động đến thanh khoản của các tổ chức tài chính trong nước bị  
hỗn tạp. Những ảnh hưởng của các công ty trong nước là tích cực hơn nhưng  
chủ yếu là trong nửa thứ hai của mẫu. Bằng chứng về ảnh hưởng phi tuyến từ  
quyền sở hữu đến thanh khoản yếu.  
Ở Việt Nam, tác giả Phạm Đình Hoàng (2010) đưa ra đề xuất các  
phương pháp đo lường thanh khoản cổ phiếu niêm yết tại sở giao dịch chứng  
khoán TP.HCM. Hiện nay trên thế giới có rất nhiều phương pháp đang được  
vận dụng để đo lường độ thanh khoản cổ phiếu, tuy nhiên mỗi thị trường  
chứng khoán sẽ có những phương pháp đặc thù. Do vậy trong đề tài nghiên  
cứu này, tác giả đã đề xuất một số phương pháp hiệu quả để đo độ thanh  
khoản của các cổ phiếu niêm yết tại SGDCK TP.HCM, qua đó giúp các nhà  
đầu tư xây dựng danh mục đầu tư với rủi ro thanh khoản thấp nhất. Theo tổng  
hợp của tác giả Phạm Đình Hoàng về các phương pháp đo lường thanh khoản  
của cổ phiếu như sau:  
“Bản chất của độ thanh khoản là rất trừu tượng và không thể quan sát  
được, do vậy khái niệm này cần phải được đo lường bởi nhiều công thức khác  
nhau. Khi dùng nhiều công thức khác nhau, kết quả sẽ rất phức tạp.  
Một cách tổng quát, các công thức đo độ thanh khoản được chia thành  
những cái đơn chiều và những cái đa chiều. Những thước đo một chiều chỉ  
11  
mô tả duy nhất một biến của độ thanh khoản, ngược lại những thước đo đa  
chiều sẽ mô tả nhiều biến số khác nhau trong cùng một thước đo.”  
Những công thức đo lường độ thanh khoản một chiều.  
Thước đo độ thanh khoản liên quan đến khối lượng giao dịch.  
- Khối lượng giao dịch:  
Qt=  
Trong đó:  
Nt : phản ánh số lượng giao dịch trong khoảng thời gian t-1 đến t  
qi : là số lượng cổ phiếu của giao dịch i.  
- Giá trị giao dịch:  
Vt =  
Trong đó:  
Nt : Phản ánh số lượng giao dịch trong khoảng thời gian t-1 đến t,  
pi : Thể hiện giá của giao dịch i.  
- Độ sâu:  
Dt=  
+
Trong đó:  
Dt: độ sâu thị trường trong khoảng thời gian t, cũng có thể gọi là độ sâu khối  
lượng, được tính bằng cách cộng tất cả các khối lượng bán tốt nhất và khối  
lượng mua tốt nhất trong khoảng thời gian t.  
12  
: số lượng đặt mua tốt nhất trong sổ lệnh, tức là số lượng đối với mức giá  
đặt mua tốt nhất.  
: số lượng chào bán tốt nhất trong sổ lệnh, tức là số lượng đối với mức giá  
chào bán tốt nhất.  
Những thước đo độ thanh khoản liên quan đến thời gian.  
Những thước đo liên quan đến thời gian cho thấy những giao dịch hoặc  
các lệnh được thực hiện như thế nào. Do vậy, những thước đo nào trong số  
này có giá trị càng lớn thì độ thanh khoản càng cao.  
- Số lượng giao dịch trong một đơn vị thời gian:  
Nt  
Thước đo này dùng để đếm số lượng giao dịch trong khoảng thời gian từ  
t-1 đến t. Thước đo này có thể được đảo ngược thành thời gian chờ giữa các  
giao dịch.  
WTt =  
Trong đó:  
tri: thời gian của một giao dịch.  
tri-1: thời gian của giao dịch trước đó.  
- Số lượng lệnh trong một đơn vị thời gian:  
Tương tự như thước đo số lượng giao dịch trong một khoảng đơn vị thời  
gian, thước đo số lượng lệnh trong một đơn vị thời gian (Not) được dùng để  
13  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 72 trang yennguyen 17780 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Ảnh hưởng của sở hữu nước ngoài đến tính thanh khoản của thị trường chứng khoán Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_anh_huong_cua_so_huu_nuoc_ngoai_den_tinh_thanh_khoa.pdf