Khóa luận Phân tích hiệu quả của một số mô hình sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
-------------------------  
CHU THỊ THƠ  
Tên đề tài:  
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ MÔ HÌNH  
SINH KẾ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI  
HUYỆN ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Khoa  
: Chính quy  
: Địa chính Môi trường  
: Quản lý Tài nguyên  
: 2016 - 2020  
Khóa học  
Thái Nguyên, năm 2020  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
-------------------------  
CHU THỊ THƠ  
Tên đề tài:  
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ MÔ HÌNH  
SINH KẾ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI  
HUYỆN ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính quy  
: Địa chính Môi trường  
: 48 - ĐCMT  
Khoa  
: Quản lý Tài nguyên  
: 2016 - 2020  
Khóa học  
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Dương Hồng Việt  
TS. Hà Minh Tuân  
Thái Nguyên, năm 2020  
i
LỜI CẢM ƠN  
Với quan điểm học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn  
nhằm giúp cho sinh viên nắm vững kiến thức đã học và vận dụng hiệu quả  
vào thực tiễn, mỗi sinh viên trước khi hoàn thành chương trình đào tạo của  
nhà trường đều phải trải qua quá trình thực tập tốt nghiệp. Trong quá trình  
nghiên cứu và viết luận văn em đã nhận được sự quan tâm hướng dẫn giúp đỡ  
của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường.  
Em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm dạy bảo của các Thầy – Cô  
khoa Quản Lý Tài Nguyên trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên. Xin  
chân thành cảm ơn đến đã gúp đỡ em trong quá trình thực tập.  
Đặc biệt em vô cùng biết ơn TS. Hà Minh Tuân và ThS. Dương Hồng  
Việt đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo tận tình cho em trong qua trình thực tập  
để em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này.  
Trong qua trình thực tập mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng nhưng do  
thời gian có hạn, trình độ bản thân còn hạn chế và bước đầu làm quen với  
công tác nghiên cứu nên bản khóa luận này không tránh những thiếu sót. Em  
rất mong nhận được sự quan tâm đóng ghóp ý kiến của các thầy cô và bạn bè  
để bản khóa luận cảu em được hoàn thiện hơn.  
Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2020  
Sinh viên  
Chu Thị Thơ  
i
 
ii  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
Từ viết tắt  
BĐKH  
CRI  
Diễn giải  
Biến đổi khí hậu  
Chỉ số rủi ro  
GDP  
Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic  
Product)  
IPCC  
Tổ chức Liên chính phủ về biến đổi khí hậu  
(Intergovernmental Panel on Climate Change -  
IPCC  
KTTV  
Khí tượng thủy văn  
NN&PTNT  
SRI  
Nông nghiệp và phát triển nông thôn  
Hệ thống canh tác lúa cải tiến (System of Rice  
Intensification)  
TTKN  
UBND  
VAC  
Trung tâm khuyến nông  
Ủy Ban Nhân Dân  
Vườn ao chuồng  
 
iii  
MỤC LỤC  
iv  
v
DANH MỤC CÁC BẢNG  
Bảng 3. 1. Đối tượng và mục đích phỏng vấn ..........................................................30  
 
1
PHẦN 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Việt Nam là một quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á. Sản xuất nông  
nghiệp là sinh kế chính của người dân khu vực nông thôn. Theo Bộ Tài Nguyên và  
Môi Trường ngày 13/11/2019 Bộ trưởng Trần Hồng Hà đã ký và ban hành quyết  
định số 2098/QĐ-BTNMT phê duyệt và công bố kết quả thống kê đất đai của cả  
nước trong năm 2018. Thống kê cho biết, tổng diện tích đất tự nhiên của cả nước là  
33.123.597 ha, trong đó nhóm đất nông nghiệp chiếm 27.289.454 ha chiếm hơn 2/3  
diện tích đất tự nhiên của nước ta với 48% dân số làm nông nghiệp. Bên cạnh đó,  
GDP của Việt Nam trong năm 2018 đạt 7,08% mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm  
2008, trong đó ngành Nông Lâm Ngư nghiệp tăng 3,76% đóng góp 8,7% vào mức  
tăng trưởng chung so với năm 2017. Trong năm 2018, sản xuất nông nghiệp phát  
triển ổn định với diện tích trồng lúa đạt 7,57 triệu ha, năng suất đạt 58,1 tạ/ha (Tổng  
cục thống kê Việt Nam, 2018) [21].  
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự thay đổi của khí hậu và những thành phần  
liên quan bao gồm đại dương, đất đai, nước biển dâng, băng tan và nước biển  
dâng… Trước đây BĐKH diễn ra trong một khoảng thời gian dài do tác động của  
các điều kiện tự nhiên, tuy nhiên thời gian gần đây, BĐKH xảy ra do tác động của  
các hoạt động của con người như việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong giao  
thông vận tải và sản xuất công nghiệp, thải ra môi trường khí nhà kính ví dụ như khí  
CO2 (OpenDevelopment Vietnam 2019) [15]. Việt Nam là nước dễ bị tổn thương  
dưới tác động của BĐKH. Theo đánh giá hàng năm về những nước chịu ảnh hưởng  
nặng nhất của các tác động thời tiết cực đoan giai đoạn từ 1997 – 2016, Việt Nam  
đứng thứ 5 về Chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu năm 2018 và đứng thứ 8 về Chỉ số rủi  
ro khí hậu dài hạn (CRI) (David Eckstein và cs, 2017)[36].  
Việt Nam nằm hoàn toàn trong vành đai nhiệt đới khu vực gió mùa Đông  
Nam Á, ở đây khí hậu phân hóa theo mùa rõ rệt, mùa mưa nóng ẩm từ tháng 5 đến  
tháng 11 chiếm 70-80% lượng nước trong năm, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4  
năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 20-25% lượng mưa trong năm, khí hậu lạnh về mùa  
   
2
đông, nóng ẩm về mùa hạ. Theo nghiên cứu của các chuyên gia khí tượng thủy văn  
(KTTV) và môi trường cho thấy những năm nay gần đây, Thái Nguyên là một trong  
những tỉnh chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của biến đổi khí hậu. Mặc dù BĐKH chưa gây  
thiệt hại nghiêm trọng trên diện rộng tại các địa phương trong tỉnh nhưng những  
hiện tượng như: Hạn hán, rét hại, gió lốc, mưa đá, mưa lớn, lũ quét, ngập úng, sạt lở  
cục bộ… gia tăng về tần suất, mức độ khiến cho công tác phòng ngừa gặp rất khó  
khăn, nguy cơ gây thiệt hại về người và tài sản ngày một tăng (Dương Văn 2019) [3].  
Đối với tỉnh Thái Nguyên, nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc  
đảm bảo an ninh lương thực và đóng ghóp một phần không nhỏ khoảng 20% GDP  
năm 2011 trong cơ cấu nền kinh tế của toàn tỉnh. Tuy nhiên, trong những năm gần  
đây hoạt động sản xuất nông nghiệp của toàn tỉnh phải hứng chịu nhiều thiệt hại do  
thiên tai gây ra. Theo chi cục quản lý đê điều và Phòng chống lụt bão của tỉnh công  
bố hang năm, tại tỉnh Thái Nguyên mỗi năm trung bình có 4 cơn lũ, hàng năm thiệt  
hại do bão lũ gây ra hàng chục tỷ đồng, ảnh hưởng nặng nề đến chăn nuôi và trồng  
trọt. Từ năm 2009 với sự hoạt động mạnh mẽ của hiện tượng El Nino dẫn đến lượng  
mưa thấp gây thiếu hụt trầm trọng lượng nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp  
gây hạn hán, ảnh hưởng không nhỏ đến vụ Đông – Xuân của toàn tỉnh. Ngoài ra, do  
ảnh hưởng của các đợt rét đậm rét hại bất thường hàng năm cũng gây thiệt hại lớn  
cho trồng trọt và chăn nuôi gia súc gia cầm làm ảnh hưởng lớn đến sinh kế của  
người dân trên địa bàn toàn tỉnh.  
Định Hóa là một huyện miền núi nằm phía Tây – Tây Bắc của tỉnh Thái  
Nguyên với địa hình khá phức tạp và tương đối hiểm trở, ở dạng núi thấp, đồi cao.  
Xen giữa các dãy núi đá vôi và đồi, núi đất là những cánh đồng hẹp. Căn cứ vào độ  
dốc có thể phân ra: Đất có độ dốc trên 250C có 116,8 km2, đất có độ dốc dưới 250C  
có 145,96 km2, đất núi 152,67km2. Định Hoá có khí hậu nhiệt đới, chia làm hai  
mùa. Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm. Tháng nóng nhất là tháng 8,  
nhiệt độ trung bình lên tới 280C. Mùa lạnh từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm  
sau. Tháng lạnh nhất là tháng 1, nhiệt độ trung bình xuống tới 150C. Mùa nóng có  
những ngày nhiệt độ lên trên 41 0C, mùa lạnh có lúc nhiệt độ xuống tới 10C. Tổng  
diện tích tự nhiên của huyện là 51.421,32 ha, trong đó nhóm đất nông nghiệp là:  
3
44.868,36 ha (đất sản xuất nông nghiệp 10.835,68 ha, đất lâm nghiệp 34.032,68 ha)  
(UBND huyện Định Hóa, 2018) [28].  
Với địa hình đất dốc và tương đối hiểm trở, nằm trong vành đai khí hậu nhiệt  
đới gió mùa huyện Định Hóa chịu ảnh hưởng lớn từ những hiện tượng thời tiết cực  
đoan do BĐKH gây ra như: lũ lụt xảy ra chủ yếu ở các xã Tân Dương, Phượng  
Tiến, Quy Kỳ, Linh Thông, Sơn Phú, Bình Thành, Điềm Mặc, Phú Đình; hạn hán  
xảy ra chủ yếu ở các xã Kim Sơn, Bảo Linh, Điềm Mặc …; ngoài ra còn có các hiện  
tượng mưa đá, sạt lở đất, sương muối, sụt lún,… thường xuyên xảy ra trên địa bàn  
huyện. Do thời tiết cực đoan những năm gần đây xảy ra thường xuyên với tần số  
cao gây ra những thiệt hại nặng nề về nông lâm ngư nghiệp của cả huyện. Từ năm  
2014 đến nay các hiện tượng rét đậm, rét hại, hạn hán, mưa lớn dẫn đến lũ ống, lũ  
quét, sạt lở đất, ngập lụt xảy ra thường xuyên hơn. Năm 2017 có 376,7 ha lúa, hơn  
20 ha ngô bị thiệt hại do mưa lũ, tổng thiệt hại lớn hơn 70% sản lượng nông nghiệp  
toàn huyện (UBND huyện Định Hóa, 2018) (27).  
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Phân tích  
hiệu quả của một số mô hình sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu tại huyện  
Định Hóa tỉnh Thái Nguyên”.  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
Lựa chọn, đề xuất nhân rộng một số mô hình sinh kế thích ứng với biến đổi  
khí hậu tại tỉnh Thái Nguyên, góp phần phát triển sinh kế bền vững cho người dân  
địa phương.  
1.3. Yêu cầu của đề tài  
- Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.  
- Đánh giá được thực trạng sinh kế của người dân tại huyện Định Hóa, tỉnh  
Thái Nguyên và tác động của biến đổi khí hậu;  
- Phân tích hiệu quả của một số mô hình sinh kế thích ứng với BĐKH tại địa  
bàn nghiên cứu;  
- Phân tích các thuận lợi và khó khăn trong việc áp dụng các mô hình đã lựa chọn;  
- Đề xuất một số giải pháp nhân rộng các mô hình sinh kế thích ứng BĐKH  
có hiệu quả tại địa bàn nghiên cứu.  
   
4
1.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu  
1.4.1. Ý nghĩa trong khoa học  
- Đề tài bổ sung thông tin về tác động của BĐKH và tìm hiểu các kiến thức  
bản địa của nông dân trong ứng phó với biến đổi khí hậu.  
- Xác định, bổ sung một số hoạt động thích ứng với BĐKH và các kiến thức  
bản địa của nông dân vùng dân tộc thiểu số trong sản xuất nông nghiệp và áp dụng  
trong ứng phó với BĐKH.  
- Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo về BĐKH. Các khiến nghị và dự  
báo có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan lãnh đạo, quản lý và hoạch  
định chính sách tại địa phương.  
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn  
- Đánh giá được thực trạng về hoạt động sinh kế của người dân khi chịu ảnh  
hưởng của BĐKH để đưa ra các giải pháp.  
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở giúp người nông dân sản xuất nông  
nghiệp tại huyện Định Hóa nói riêng và nông dân miền núi thuộc dân tộc thiểu số  
trên cả nước nói chung nhận thức được tầm quan trọng của các hoạt động thích ứng  
với BĐKH, các kiến thức bản địa của nhân dân trong ứng phó với BĐKH, để nâng  
cao đời sống và sản xuất của nông dân vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn cả nước.  
     
5
PHẦN 2  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài  
Việt Nam là một nước có nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, đây  
cũng là sinh kế chính của người dân Việt Nam. Nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế  
quan trọng và là trụ đỡ của nền kinh tế với đóng góp khoảng 16,3% tổng sản phẩm  
quốc nội (GDP) của Việt Nam (TCTK, 2016), diện tích đất nông nghiệp chiếm  
khoảng 35% tổng diện tích của cả nước và tạo ra khoảng 47% việc làm (FAO,  
2016), nhiều hộ gia đình vẫn dựa vào nông nghiệp để đảm bảo an ninh lương thực  
(Trần Đại Nghĩa, 2018) [25]. Do Việt Nam có hình chữ S, dài 15 vĩ độ nghiêng về  
phía bán cầu Bắc, chiều dài Bắc Nam là 1650 km theo đường chim bay và có bờ  
biển dài 3260 km, nằm hoàn toàn trong khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa mưa nhiều,  
nên trở thành một quốc gia chịu nhiều tổn thương nặng nề của BĐKH và các hiện  
tượng thời tiết cực đoan như bão, lũ lụt, hạn hán, và sa mạc hóa,... (Nguyễn Đức  
Ngữ, 2009). Mới đây, theo báo cáo của Ủy ban liên quốc gia về BĐKH đã khẳng  
định, BĐKH gây tử vong và bệnh tật thông qua hậu quả của các dạng thiên tai sóng  
thần, bao, lũ lụt, hạn hán... nhiều bệnh dịch gia tăng dưới tác động của sự thay đổi  
nhiệt độ và hoàn cảnh sống làm giảm chất lượng, sản lượng của nông sản dẫn đến  
ảnh hưởng đến an ninh lương thực của quốc gia và xuất khẩu (Cổng thông tin điện  
tử Quảng Nam, 2018) [2]. Do vậy ngành nông nghiệp Việt Nam phải giải quyết  
đồng thời 3 vấn đề có liên quan mật thiết với nhau, đó là: Đảm bảo an ninh lương  
thực và thu nập cho người dân; thích ứng với BĐKH; giảm nhẹ những tác động rủi  
ro do BĐKH gây ra.  
Ðã có nhiều giải pháp được xây dựng nhằm giúp lĩnh vực nông nghiệp có thể  
thích ứng với những thay đổi về khí hậu, ứng phó với thiên tai ngày một gia tăng và  
khó lường. Ví dụ như phát triển mô hình trồng rau an toàn tại thị trấn Cát Hải thành  
phố Hải Phòng, tận dụng các diện tích đất vườn còn đang bỏ trống hoặc sử dụng  
không có hiệu quả tại đảo Cát Hải. Lựa chọn giống rau phù hợp với địa phương và  
đảm bảo chất lượng (dễ trồng, chịu mặn, chịu hạn tốt,…). Trang bị các vật dụng  
che chắn ứng phó với thời tiết xấu (rét đậm rét hại, sương muối, mưa lụt, nắng  
   
6
nóng,…). Sau khi mô hình được triển khai và nhân rộng, đảo Cát Hải không phải  
nhập rau từ đất liền nữa, hơn nữa còn được hỗ trợ xây dựng chứng chỉ rau sạch an  
toàn và quảng bá sản phẩm xang thị trường Cát Bà (Hoàng Thị Ngọc Hà, 2015) [4].  
Hay mô hình tôm – lúa tại một số tỉnh thuộc đồng bằng song Cửu Long. Việc  
nuôi tôm sú (nước lợ) được tiến hành trong mùa khô khi nước mặn xâm nhập vào  
ruộng (thời gian nuôi bắt đầu khoảng tháng 1 và kết thúc vào tháng 6). Vào mùa  
mưa có nước ngọt thì trồng lúa, canh tác lúa trong mùa mưa (từ tháng 7 đến tháng  
12) khi đã cải thiện được xâm nhập mặn và có đủ nước ngọt cho sản xuất lúa. Mô  
hình tôm – lúa đem lại lợi nhuận khá cao trên cùng diện tích đất. Trồng lúa trong  
vuông tôm giúp cải thiện môi trường đất, từ đó giảm thiểu dịch bệnh trong quá trình  
nuôi tôm (do các chất hữu cơ được khoáng hóa và cây lúa hấp thu dần trong quá  
trình canh tác). Sau vụ tôm tiến hành trồng lúa giảm đầu tư phân bón (tận dụng xác  
bã thực vật, lượng thức ăn thừa của tôm), giảm dịch hại (do luân canh) chất lượng  
lúa gạo rất cao (lúa sạch, lúa hữu cơ) hạn chế tối đa việc dùng phân bón, thuốc hóa  
học. Năng suất nuôi tôm – lúa trên 1 ha bình quân đạt khoảng 300 - 500 kg tôm và 4  
- 7 tấn lúa. Chi phí sản xuất trung bình 30 - 35 triệu đồng/ha, lợi nhuận thu được  
trung bình 35 - 50 triệu đồng/ha/năm (Mai Thành Phụng, 2019) [9].  
Tỉnh Thái Nguyên thuộc khu vực trung du miền núi phía Bắc cũng chịu  
nhiều ảnh hưởng của BĐKH như bão, lũ quét, lũ ống, tính chất đất bị biến đổi, rét  
đậm rét hại xảy ra vào mùa đông làm giảm sản lượng của nông sản; vật nuôi (trâu,  
bò, lợn, gà) bị dịch bệnh như lở mồm long móng, trâu bò chết hàng loạt do rét buốt.  
Trước tình hình đó chính quyền địa phương cùng với người dân bản địa đã nghiên  
cứu và ứng dung một số mô hình sinh kế thích ứng với sự ảnh hưởng của thời tiết  
cực đoan như mô hình nông nghiệp sạch trồng dưa lưới (Phương Thơm, 2018) [19];  
mô hình trồng ngô xen canh cây đỗ chịu hạn; các mô hình trồng lúa, ngô mới kháng  
sâu bệnh chịu hạn tốt; mô hình kết hợp vườn ao chuồng, xử lý phụ phầm nông  
nghiệp bảo vệ môi trường…  
Ví dụ như mô hình VAC: mô hình VAC đang phát triển mạnh mang lại hiệu  
quả kinh tế cao. Nhiều nông dân trở thành tỷ phú nhờ vào việc phát triển đúng cách  
và hiệu quả những mô hình VAC. Mô hình VAC là mô hình làm kinh tế tận dụng  
7
được tối đa nguồn dinh dưỡng. Hiện nay với việc phát triển các sản phẩm chế phẩm  
sinh học được áp dụng vào mọi mặt của hoạt động nông nghiệp thì việc xây dựng  
các mô hình VAC càng mang lại những hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, mô hình  
VAC còn nhiều hạn chế chưa khắc phục được như:  
Chưa xác định được vị trí của các thành phần trong hệ thống và phân bố đất  
đai hợp lý; chưa chọn được giống cây và con để nuôi trồng, chưa có bản đồ thiết kế  
chi tiết về vườn cây chuồng nuôi; chưa xây dựng được hệ thống đường xá và hàng  
rào bảo vệ trong hệ thống VAC dẫn tới những khó khăn trong quá trình vân chuyển  
cây con cũng như vật nuôi, gây ra khó khăn trong quá trình chăm sóc; mỗi loại địa  
hình và quy mô cụ thể mà ta xây dựng một loại kiểu ao khác nhau.Có thể là ao đơn,  
ao song song hoặc ao xen. Nước trong ao không đáp ứng đủ tiêu chuẩn dễ mang lại  
bệnh dịch; vệ sinh chuồng trại chưa tốt vật nuôi dễ bị nhiễm bệnh; phân chia cây cối  
trong hệ thống chưa phù hợp (Trung tâm nghiên cứu khoa học nông vận, 2016 [23].  
Hay mô hình giống lúa cải tiến SRI giúp tăng khả năng chống chịu của cây  
lúa trước những diễn biến bất thường của thời tiết do BĐKH như hạn hán, gió bão,  
dịch bệnh. Cây lúa trồng theo phương pháp SRI có thân nhánh khỏe hơn và hệ  
thống rễ cây sâu hơn nên ít bị đổ rạp, giúp cây hút được độ ẩm và chất dinh dưỡng  
sâu hơn trong đất. Khả năng chống chịu sâu bệnh của cây lúa được tăng cường nhờ  
việc sử dụng thuốc trừ sâu đúng liều lượng và tần suất hợp lý. Điều này góp phần  
tiết kiệm chi phí đầu tư cho sản xuất nhưng cây lúa vẫn phát triển tốt, đồng thời  
ngăn chặn được dịch hại. Bên cạnh đó, lượng nước sử dụng trong canh tác giảm  
thiểu so với phương pháp truyền thống khi định kỳ rút nước 2 – 3 lần/vụ, giúp  
người dân tiết kiệm được nước tưới tiêu, đặc biệt là khi tình trạng khan hiếm nước  
ngày càng tăng lên. Ngoài ra SRI có thể góp phần hạn chế phát thải khí nhà kính  
như khí metan (CH4) và nitơ oxit (N2O). Khí CH4 được tạo ra do những vi khuẩn  
kỵ khí trong đất bị mất ôxy do ngập úng thường xuyên. Vì vậy việc rút cạn nước  
thường xuyên trên đồng ruộng sẽ làm hạn chế đáng kể lượng khí CH4 thải vào khí  
quyển. Ngoài ra, giảm lượng khí nhà kính N2O do giảm việc sử dụng phân bón hóa  
học (Vũ Thị Bích Hợp, 2011) [34].  
8
Đồng thời, theo nhận định của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh  
Thái Nguyên, tại Định Hóa đã có một số mô hình ở quy mô thí điểm và một số mô  
hình tự phát của người dân như mô hình trồng xem canh ngô – đậu đỗ, mô hình ủ  
gốc chè ngô, mô hình bể biogas, giống lúa chịu hạn kháng sâu bệnh SRI,… Tuy  
nhiên, cho đến nay, chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào phân tích và đánh giá hiệu  
quả tổng hợp của các mô hình sinh kế thích ứng với BĐKH tại Định Hóa nói riêng  
cũng như nhiều vùng sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam nói chung. Do đó, đề tài này  
được triển khai sẽ giải quyết các vấn đề chưa được nghiên cứu, và góp phần vào  
việc xác định và kiến nghị các mô hình sinh kế thích ứng với BĐKH tại địa phương.  
2.2. Một số khái niệm cơ bản về biến đổi khí hậu  
2.2.1. Biến đổi khí hậu  
Hiện nay thuật ngữ “biến đổi khí hậu” (BĐKH) dường như không còn xa lạ  
đối với mọi người dân Việt Nam, và trong nhiều trường hợp nó được vận dụng hoặc  
vô thức hoặc có chủ ý vào việc giải thích những gì đã, đang và sẽ xảy ra đối với  
điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường. Theo định nghĩa của Tổ chức Liên  
chính phủ về biến đổi khí hậu (Intergovernmental Panel on Climate Change - IPCC)  
trong báo cáo lần thứ Tư (AR4) năm 2007, BĐKH là sự biến đổi trạng thái của hệ  
thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động  
của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng  
thập kỷ hoặc dài hơn. Nói cách khác, nếu coi trạng thái cân bằng của hệ thống khí  
hậu là điều kiện thời tiết trung bình và những biến động của nó trong khoảng vài  
thập kỷ hoặc dài hơn, thì BĐKH là sự biến đổi từ trạng thái cân bằng này sang trạng  
thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu (Phan Văn Tân và Ngô Đức Thành, 2013) [17].  
BĐKH là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong Thế  
kỷ 21. BĐKH đã, đang và sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi  
trường trên phạm vi toàn thế giới. Nhiệt độ tăng và mực nước biển dâng đã gây ra  
các hiện tượng như gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông  
nghiệp, gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế - xã hội trong  
tương lai. Vấn đề BĐKH đã, đang và sẽ làm thay đổi toàn diện và sâu sắc quá trình  
phát triển và an ninh toàn cầu như năng lượng, nước, lương thực, xã hội, việc làm,  
chính trị, ngoại giao, văn hóa, kinh tế, thương mại.  
   
9
Theo báo cáo của Ban liên Chính phủ về BĐKH (IPCC) năm 2007, nhiệt độ  
trung bình toàn cầu và mực nước biển đã tăng nhanh trong vòng 100 năm qua, đặc  
biệt trong khoảng 25 năm gần đây. Ở Việt Nam, trong vòng 50 năm qua nhiệt độ  
trung bình năm đã tăng khoảng 0,5ºC, mực nước biển đã dâng khoảng 20 cm; mưa  
bão diễn biến bất thường theo không gian và thời gian, sự thay đổi về tổng lượng  
mưa tháng và mưa năm không thể hiện xu thế tăng hay giảm nhưng cường độ mưa  
đang có xu hướng tăng lên rõ rệt, những vùng mưa nhiều, lượng mưa trở nên nhiều  
hơn, cường độ mưa lớn hơn; mực nước biển dâng cao, mực nước biển trung bình  
hiện nay ở nước ta đã tăng lên 20 cm so với 50 năm trước... Khí hậu là một trong  
những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng lớn đến đất đai. Khí hậu ảnh hưởng trực tiếp  
đến đất thể hiện ở lượng nước mưa và nhiệt; ảnh hưởng gián tiếp thông qua sinh  
vật. BĐKH gây rối loạn chế độ mưa, nguy cơ nắng nóng nhiều hơn, làm cho lượng  
dinh dưỡng trong đất bị mất cao hơn, hiện tượng xói mòn, khô hạn nhiều hơn. Nước  
biển dâng, thiên tai, bão lũ gia tăng sẽ làm tăng hiện tượng nhiễm mặn, ngập úng,  
sạt lở bờ sông, bờ biển… dẫn đến ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất nông nghiệp  
tại Việt Nam (Mai Hạnh Nguyên, 2012) [14].  
Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Miền Nam (2013) [33] cho biết có hai nguyên  
nhân dẫn đến biến đổi khí hậu:  
- Nguyên nhân khách quan (do sự biến đổi của tự nhiên) bao gồm: thay đổi  
cường độ sáng của Mặt trời, xuất hiện các điểm đen Mặt trời (Sunspots), các hoạt  
động núi lửa, thay đổi đại dương, thay đổi quỹ đạo quay của trái đất, sự thay đổi vị  
trí và quy mô của các châu lục, sự biến đổi của các dạng hải lưu, và sự lưu chuyển  
trong nội bộ hệ thống khí quyển.  
- Nguyên nhân chủ quan (do sự tác động của con người) xuất phát từ sự thay  
đổi mục đích sử dụng đất và nguồn nước, hoạt động sản xuất, và sự gia tăng lượng  
phát thải khí CO2 và các khí nhà kính khác từ các hoạt động của con người gây nên  
hiện tượng hiệu ứng nhà kính, nước biển dâng.  
2.2.2. Thích ứng với biến đổi khí hậu  
Thích ứng là khái niệm rất rộng, trong bối cảnh BĐKH, thích ứng được áp  
dụng cho nhiều lĩnh vực/đối tượng liên quan bị tác động của BĐKH. Về bản chất,  
 
10  
sự thích ứng là quá trình dẫn tới tiến bộ hoặc tiến hóa. Mọi thực thể của hệ thống tự  
nhiên – xã hội đều có khả năng thích ứng BĐKH (Phan Văn Tân, 2015) [17]. Bên  
cạnh đó, tổng hợp các khái niệm về BĐKH của Burton (1992), Stakhiv (1993),  
Pielke (1998), Giáo sư Phan Văn Tân (2015) [17] chia sẻ một số khái niệm thích  
ứng với BĐKH điển hình có thể kể đến như sau:  
- Thích ứng với BĐKH là một quá trình mà qua đó con người làm giảm  
những tác động bất lợi của khí hậu đến sức khoẻ, đời sống và sử dụng những cơ hội  
thuận lợi mà môi trường khí hậu mang lại;  
- Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh một cách chủ động, chống lại nhằm  
làm giảm thiểu những hậu quả tiêu cực do BĐKH;  
- Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh của cá nhân, tập thể và các thể chế  
để giảm mức độ tổn thương do khí hậu.  
Thích ứng với biến đổi khí hậu là sự điều chỉnh của các hệ thống tự nhiên  
hoặc con người để phản ứng lại với các kích thích khí hậu thực tế hoặc dự kiến hoặc  
tác động của chúng, mà tránh được các thiệt hại hoặc tận dụng các cơ hội có lợi.  
Nhiều loại hình thích ứng có thể được phân biệt, bao gồm thích ứng mang tính dự  
báo, tự động và có kế hoạch (IPCC, 2007) [37].  
Theo Viện Khoa học Khí tượng Thủy trường văn và Môi trường (2011),  
thích ứng với biến đổi khí hậu là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người  
đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm giảm khả năng bị tổn thương do  
BĐKH và tận dụng các cơ hội do nó mang lại.  
2.3. Các kết quả nghiên cứu về biến đổi khí hậu trên thế giới và Việt Nam  
2.3.1. Kết quả nghiên cứu về biến đổi khí hậu trên thế giới  
Khí hậu là trạng thái khí quyển ở nơi nào đó, được đặc trưng bởi các trị số  
trung bình nhiều năm về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, lượng bốc thoát hơi nước,  
mây, gió...Như vậy, khí hậu phản ánh giá trị trung bình nhiều năm của thời tiết và  
nó thường có tính chất ổn định, ít thay đổi.  
Trong lịch sử địa chất của trái đất chúng ta, sự biến đổi khí hậu đã từng nhiều  
lần xẩy ra với những thời kỳ lạnh và nóng kéo dài hàng vạn năm mà chúng ta gọi là  
thời kỳ băng hà hay thời kỳ gian băng. Thời kỳ băng hà cuối cùng đã xãy ra cách  
   
11  
đây 10.000 năm và hiện nay là giai đoạn ấm lên của thời kỳ gian băng. Xét về  
nguyên nhân gây nên sự thay đổi khí hậu này, chúng ta có thể thấy đó là do sự tiến  
động và thay đổi độ nghiêng trục quay trái đất, sự thay đổi quỹ đạo quay của trái đất  
quanh mặt trời, vị trí các lục địa và đại dương và đặc biệt là sự thay đổi trong thành  
phần khí quyển.  
Trong khi những nguyên nhân đầu tiên là những nguyên nhân hành tinh, thì  
nguyên nhân cuối cùng lại có sự tác động rất lớn của con người mà chúng ta gọi đó  
là sự làm nóng bầu khí quyển hay hiệu ứng nhà kính. Có thể hiểu sơ lược là: nhiệt  
độ trung bình của bề mặt trái đất được quyết định bởi sự cân bằng giữa hấp thụ năng  
lượng mặt trời và lượng nhiệt trả vào vũ trụ. Khi lượng nhiệt bị giữ lại nhiều trong  
bầu khí quyển thì sẽ làm nhiệt độ trái đất tăng lên. Chính lượng khí CO2 chứa nhiều  
trong khí quyển sẽ tác dụng như một lớp kính giữ nhiệt lượng tỏa ngược vào vũ trụ  
của trái đất. Cùng với khí CO2 còn có một số khí khác cũng được gọi chung là khí  
nhà kính như NOx, CH4, CFC. Với những gia tăng mạnh mẽ của nền sản xuất công  
nghiệp và việc sử dụng các nhiên liệu hoá thạch (dầu mỏ, than đá..), nghiên cứu của  
các nhà khoa học cho thấy nhiệt độ toàn cầu sẽ gia tăng từ 1,4oC đến 5,8oC từ 1990  
đến 2100 và vì vậy sẽ kéo theo những nguy cơ ngày càng sâu sắc đối với chất lượng  
sống của con người (Viện khoa học khí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu, 2015) [33].  
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng trên phạm vi  
toàn cầu. Biểu hiện rõ nhất là sự nóng lên của trái đất, bang tan ở hai cực, mực nước  
biển dâng; là sự xuất hiện ngày càng nhiều của các dạng thời tiết cực đoan như bão,  
lũ lụt, sương muối, số ngày nắng nóng tăng, rét đậm rét hại, hạn hán,… dẫn đến  
nông lâm ngư nghiệp kém phát triển ảnh hưởng nghiêm trọng đén an ninh lương  
thực, dịch bệnh xuất hiện thường xuyên trên người, động vật và thực vật.  
BĐKH để lại hậu quả rất nghiêm trọng cho con người, động vật, môi trường  
tự nhiên cụ thể:  
- Các hệ sinh thái bị hủy: Biến đổi khí hậu và lượng cacbon dioxite ngày  
càng tăng cao đang thử thách các hệ sinh thái của chúng ta. Các hậu quả như thiếu  
hụt nguồn nước ngọt, không khí bị ô nhiễm nặng, năng lượng và nhiên liệu khan  
12  
hiếm, và các vấn đề y tế liên quan khác không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của  
chúng ta mà còn là vấn đề sinh tồn.  
- Mất đa dạng sinh học: Nhiệt độ trái đất hiện nay đang làm cho các loài sinh  
vật biến mất hoặc có nguy cơ tuyệt chủng. Khoảng 50% các loài động thực vật sẽ  
đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng vào năm 2050 nếu nhiệt độ trái đất tăng thêm từ  
1,1 đến 6,4 độ C nữa. Sự mất mát này là do mất môi trường sống vì đất bị hoang  
hóa, do nạn phá rừng và do nước biển ấm lên. Các nhà sinh vật học nhận thấy đã có  
một số loài động vật di cư đến vùng cực để tìm môi trường sống có nhiệt độ phù  
hợp. Ví dụ như là loài cáo đỏ, trước đây chúng thường sống ở Bắc Mỹ thì nay đã  
chuyển lên vùng Bắc cực. Con người cũng không nằm ngoài tầm ảnh hưởng. Tình  
trạng đất hoang hóa và mực nước biển đang dâng lên cũng đe dọa đến nơi cư trú của  
chúng ta. Và khi cây cỏ và động vật bị mất đi cũng đồng nghĩa với việc nguồn  
lương thực, nhiên liệu và thu nhập của chúng ta cũng mất đi.  
- Chiến tranh và xung đột: Lương thực và nước ngọt ngày càng khan hiếm,  
đất đai dần biến mất nhưng dân số cứ tiếp tục tăng; đây là những yếu tố gây xung  
đột và chiến tranh giữa các nước và vùng lãnh thổ. Do nhiệt độ trái đất nóng lên và  
biến đổi khí hậu theo chiều hướng xấu đã dần làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên  
thiên nhiên. Một cuộc xung đột điển hình do biến đổi khí hậu là ở Darfur. Xung đột  
ở đây nổ ra trong thời gian một đợt hạn hán kéo dài, suốt 20 năm vùng này chỉ có  
một lượng mưa nhỏ giọt và thậm chí nhiều năm không có mưa, làm nhiệt độ vì thế  
càng tăng cao. Theo phân tích của các chuyên gia, các quốc gia thường xuyên bị  
khan hiếm nước và mùa màng thất bát thường rất bất ổn về an ninh  
- Các tác hại đến kinh tế: Các thiệt hại về kinh tế do biến đổi khí hậu gây ra  
cũng ngày càng tăng theo nhiệt độ trái đất. Các cơn bão lớn làm mùa màng thất bát,  
tiêu phí nhiều tỉ đô la; ngoài ra, để khống chế dịch bệnh phát tán sau mỗi cơn bão lũ  
cũng cần một số tiền khổng lồ. Khí hậu càng khắc nghiệt càng làm thâm hụt các nền  
kinh tế. Các tổn thất về kinh tế ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống. Người dân  
phải chịu cảnh giá cả thực phẩm và nhiên liệu leo thang; các chính phủ phải đối mặt  
với việc lợi nhuận từ các ngành du lịch và công nghiệp giảm sút đáng kể, nhu cầu  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 79 trang yennguyen 27040 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Phân tích hiệu quả của một số mô hình sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_phan_tich_hieu_qua_cua_mot_so_mo_hinh_sinh_ke_thic.pdf