Khóa luận Nghiên cứu sinh trưởng của cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour) tuổi 3 tại xã Sam Mứn, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
LÈNG VĂN NGHĨA  
NGHIÊN CỨU SINH TRƯỞNG CỦA CÂY HOÀNG ĐẰNG  
(FIBRAUREA TINCTORIA LOUR) TUỔI 3 TẠI XÃ SAM MỨN,  
HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
: Chính quy  
Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng  
Khoa  
: Lâm Nghiệp  
: 2015 - 2019  
Khóa học  
Thái Nguyên, năm 2019  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
LÈNG VĂN NGHĨA  
NGHIÊN CỨU SINH TRƯỞNG CỦA CÂY HOÀNG ĐẰNG  
(FIBRAUREA TINCTORIA LOUR) TUỔI 3 TẠI XÃ SAM MỨN,  
HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính quy  
: Quản lý tài nguyên rừng  
: K47 - QLTNR  
: Lâm Nghiệp  
Khoa  
Khóa học  
: 2015 - 2019  
Giáo viên hướng dẫn : TS. Đặng Thị Thu Hà  
Thái Nguyên, năm 2019  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học, thực tiễn của  
riêng tôi. Những kết quả và số liệu nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực  
địa nghiên cứu đề tài hoàn toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu.  
Khóa luận đã được giáo viên hướng dẫn xem và chỉnh sửa. Nếu sai tôi xin  
chịu hoàn toàn trách nhiệm.  
Thái Nguyên, ngày ... tháng ... năm 2019  
Xác nhận của GVHD  
Người viết cam đoan  
TS. Đặng Thị Thu Hà  
Lèng Văn Nghĩa  
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN  
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên  
đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu!  
(Ký, họ và tên)  
 
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô trong khoa Lâm Nghiệp,  
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, những người đã truyền đạt cho tôi  
những kiến thức rất bổ ích trong bốn năm qua và tạo điều kiện giúp đỡ tôi  
trong quá trình thu thập thông tin liên qua và thực hiện đề tài nghiên cứu này.  
Tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo TS. Đặng Thị Thu Hà và các thầy  
cô trong khoa cùng với sự phối hợp giúp đỡ của các cán bộ, lãnh đạo các cơ  
quan ban ngành của UBND xã Sam Mứn huyện Điện Biên và các hộ gia đình  
trong thôn, bản thuộc xã Sam Mứn đã tạo điều kiện cho tôi thu thập thông tin  
liên quan đến đề tài nghiên cứu.  
Do trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiến, kiến thức còn hạn  
chế do vậy khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi kính mong nhận  
được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo để khóa luận này được hoàn thiện hơn  
Tôi xin chân thành cảm ơn!  
Thái Nguyên, ngày.....tháng 12 năm 2019  
Sinh viên  
Lèng Văn Nghĩa  
 
iii  
MỤC LỤC  
 
iv  
vi  
DANH MỤC CÁC HÌNH  
 
vii  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
STT  
1
Các từ viết tắt  
Nội dung  
BVTV  
BCN  
Bảo vệ thực vật  
Ban chủ nhiệm  
2
3
ĐHNL  
GVHD  
NXB  
Đại học Nông Lâm  
Giáo viên hướng dẫn  
Nhà xuất bản  
4
5
6
NĐ-CP  
OTC  
Nghị định Chính phủ  
Ô tiêu chuẩn  
7
8
QĐ-TTg  
TS  
Quyết định Thủ tướng  
Tiến sỹ  
9
10  
11  
12  
Ths  
Thạc sỹ  
TTTN  
Thực tập tốt nghiệp  
Vườn quốc gia- khu bảo tồn thiên nhiên  
Văn hóa thể thao du lịch  
VQG- KBTTN  
13  
VHTTDL  
 
1
PHẦN 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Tính cấp thiết của đề tài  
Trước kia cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour) mọc hoang khắp  
vùng núi nước ta từ Lạng Sơn cho đến Nam Bộ, hiện nay rất hiếm gặp ở khu  
vực Việt Nam. Cây Hoàng đằng là loài dây leo thân gỗ, có nhiều tác dụng và  
được con người khai thác chế biến ra loại thuốc quý được sử dụng từ xưa tới  
nay và mang ra các thị trường kinh doanh, buôn bán. Hoàng đằng (Fibraurea  
tinctoria) còn có tên gọi khác, Hoàng liên đằng, Dây vàng giang, Nam hoàng  
liên. Hoàng đằng là cây dược liệu có giá trị kinh tế cao, phân bố khá rộng ở  
một số nước trong khu vực Đông Nam Á như Việt Nam, Lào, Campuchia. Ở  
nước ta, Hoàng đằng thường phân bố trong các trạng thái rừng thứ sinh ở các  
tỉnh miền núi từ Bắc vào Nam với độ cao dưới 1.000m so với mực nước biển.  
Hoàng đằng do có nguy cơ bị tuyệt chủng nên loài cây này đã được đưa vào  
sách đỏ Việt Nam từ năm 1996 (thuộc nhóm IIA) cần phải bảo vệ theo Nghị  
định 32/2006/NĐ-CP. Rễ và thân Hoàng đằng là một trong những vị thuốc  
được dùng nhiều trong y học cổ truyền để chữa các chứng viêm tấy, lỵ trực  
trùng, lở ngứa, mụn nhọt, sốt, đau mắt đỏ, các bệnh về đường tiêu hoá. Ngoài  
ra, Hoàng đằng còn là nguyên liệu chiết xuất Palmatin làm thuốc nhỏ mắt  
hoặc tổng hợp thuốc an thần. Trong tự nhiên, loài cây này trước đây rất phong  
phú, nhưng do khai thác quá mức và liên tục trong nhiều năm, cùng với việc  
phá rừng, phát nương làm rẫy nên đã bị suy giảm rất nhiều về loại cây quý này.  
Hoàng đằng (Fibraurea tincoria), thuộc họ tiết dê – Menispermaceae, là  
một trong những loài thực vật có chứa alkaloid được sử dụng rộng rãi. Theo  
cuốn “Dược điển Việt Nam” nhà xuất bản Y dược (2002) [3], dược phẩm từ  
cây Hoàng đằng có công dụng chữa đau mắt, mụn nhọt, sốt nóng, kiết lị và ngộ  
độc thức ăn.  
   
2
Để phục vụ cho công tác bảo tồn, thương mại hoá sản phẩm và phát  
triển kinh tế vùng nông thôn miền núi nói chung và ở Điện Biên nói riêng,  
việc nghiên cứu xây dựng chăm sóc mô hình trồng cây Hoàng đằng là cần  
thiết và có ý nghĩa cả khoa học và thực tiễn. Xuất phát từ lí do trên, tôi tiến  
hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu sinh trưởng của cây  
Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour) tuổi 3 tại xã Sam Mứn, huyện  
Điện Biên, tỉnh Điện Biên”.  
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài  
Đề tài thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau:  
* Xác định các biện pháp kỹ thuật chăm sóc cây Hoàng đằng tuổi 3  
*Xác định khả năng sinh trưởng và sự đe doạ của sâu, bệnh hại cũng  
như các biện pháp phòng trừ sâu, bệnh hại cho cây Hoàng đằng tuổi 3.  
1.3. Ý nghĩa của đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học  
Biết tầm quan trọng của loài thực vật có giá trị, dược liệu cây Hoàng  
đằng. Trong quá trình thực hiện đề tài tạo cơ hội tiếp cận phương pháp nghiên  
cứu khoa học, để giải quyết vấn đề khoa học thực tiễn. Làm quen với một số  
phương pháp được áp dụng trong nghiên cứu đề tài cụ thể như chăm sóc, gây  
trồng loài cây quý hiếm cũng là để bảo tồn loài cây Hoàng đằng. Học tập và  
hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu.  
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn  
Giúp cho sinh viên củng cố lại những kiến thức đã được học, đồng thời  
làm quen với thực tế, tích lũy học hỏi kinh nghiệm. Thực hành thao tác được  
các phương pháp nghiên cứu, điều tra sinh trưởng loài. Biết cách tiếp cận thực  
tiễn những vấn đề trong sản xuất, kinh doanh rừng, quản lý nguồn tài nguyên  
rừng, nâng cao tính bền vững của hệ sinh thái rừng hiện nay. Tìm ra được  
       
3
biện pháp kỹ thuật gây trồng tốt nhất mang lại hiệu quả hữu hiệu nhất cho bà  
con trong quá trình chăm sóc gây trồng cây Hoàng đằng tại địa phương.  
Việc nghiên cứu xây dựng mô hình trồng cây Hoàng đằng để đề xuất  
một số giải pháp kỹ thuật gây trồng, phục vụ lợi ích của con người.  
Việc nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của loài Hoàng đằng tại khu vực  
nghiên cứu, tạo tiền đề cho việc chăm sóc, gây trồng loài cây này tại khu vực  
nghiên cứu.  
4
PHẦN 2  
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU  
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu  
Về cơ sở sinh học  
Công việc nghiên cứu đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng  
cần phải nắm rõ đặc điểm sinh học của từng loài. Việc hiểu rõ hơn về đặc tính  
sinh học của loài giúp chúng ta có những biện pháp tác động phù hợp, sử  
dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động thực  
vật quý hiếm, từ đó giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật.  
Về cơ sở sinh trưởng  
Theo Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (Viện Dược liệu,  
2004) [17], nước ta có hai loài Hoàng đằng. Thực tế điều tra tại Đà Nẵng,  
chúng tôi cũng đã gặp cả hai loài này phân bố rải rác trong các khu bảo tồn  
thiên nhiên Bà nà - Núi Chúa, Hải Vân, Sơn Trà. Đó là:  
Hoàng đằng - Fibraurea recisa Pierre: Thường gặp nhiều ở các tỉnh  
phía Nam, là dây leo to, rất dài, có thể vươn tới ngọn cây lớn. Rễ và thân già  
có vỏ ngoài nứt nẻ và gỗ màu vàng. Thân non nhẵn, màu lục. Lá mọc so le,  
hình trái xoan hoặc thuôn mũi mác, cụm hoa mọc ở kẻ những lá đã rụng thành  
chùm phân nhiều nhánh, thường ngắn hơn lá; hoa nhỏ màu vàng lục, quả hình  
trái xoan, khi chín màu vàng, chứa một hạt dày, hơi dẹt.  
Hoàng đằng - Fibraurea tinctoria Lour: Có vùng phân bố rải rác cả các  
tỉnh miền Bắc và miền Nam. Khác loài trên ở chỗ lá có mũi nhọn rõ. Cụm hoa  
ngắn hơn, ít phân nhánh... Mùa hoa quả cả hai loài: tháng 3-7.  
Cây Hoàng đằng nằm trong Danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý  
hiếm (nhóm IIA) của Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 [11] của  
Chính phủ để hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại.  
     
5
2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước  
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới  
Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Laur và Fibraurea recisa Pierre)  
thuộc họ tiết dê (Menispermaceae), bộ Mao lương (Ranunculales). Thành  
phần hóa học: Hoạt chất trong Hoàng đằng là Alkloid mà chất chính là  
Palmatin 1 – 3,5% và một ít jatrorrhizin, columbamin và berberin theo Gao-  
Xiong Rao ct al (2009)[20]  
Nghiên cứu tác dụng chữa bệnh của từng loài cây thuốc và bản chất hoá  
học của dược liệu được quan tâm trên quy mô rộng lớn. Nhiều nghiên cứu đã  
khẳng định hầu hết các cây cỏ đều có tính kháng sinh là một trong những yếu  
tố miễn dịch tự nhiên. Tác dụng kháng khuẩn là do các hợp chất tự nhiên hay  
gặp: Sulfua, saponin (Allium odium); becberin (Coptis chinensis Franch.);  
tamin (Zizyphusjụuba Miller). Mỗi loài cây với từng công năng, tác dụng, ở  
mỗi địa phương lại được sử dụng riêng theo một bản sắc dân tộc.  
Ở Trung Quốc, ngoài nền y học cổ truyền chính thống của người hán  
(Trung y), các cộng đồng không phải người hán, với dân số khoảng 100 triệu  
người, cũng có các nền y học riêng của mình, gọi là y học dân tộc cổ truyền  
(Traiditional Ethno-medicine) sử dụng khoảng 8000 loài cây cỏ làm thuốc.  
Trong đó, có 5 nền y học chính là nền y học cổ truyền Tây Tạng (sử dụng  
3.294 loài), Mông Cổ (1.430 loài), Ugur, Thái (800 loài) [20]  
Ở Bangladesh có một số cây thuốc quý như Tylophora indica (dùng  
làm thuốc chữa hen), trước kia dễ tìm kiếm, nay đã trở nên hiếm hoi (A.S.  
Islam, 1991) [21]. Hoặc là loài Ba gạc – Rauvolfia serpentina vốn mọc tự  
nhiên khá phổ biến ở Ấn Độ, Srilanca, Bangladesh, Thái Lan,… mỗi năm  
khai thác được khoảng 1.000 tấn nguyên liệu xuất sang thị trường Âu – Mỹ,  
làm thuốc chữa cao huyết áp (riêng Ấn Độ chiếm 40 – 50%). Song, do bị khai  
thác liên tục nhiều năm đã làm cho cây thuốc này mau cạn kiệt. Một số bang  
   
6
ở Ấn Độ đã chính thức tạm đình chỉ khai thác loài Ba gạc kể trên (O. Akerele,  
1991; L. de Alwis, 1991 và A.S. Islam,1991)[21]. Một loài cây thuốc quý  
khác là Coptis teeta mọc nhiều ở vùng Đông – Bắc Ấn Độ, trước kia khai thác  
hàng chục tấn mỗi năm bán sang các nước vùng Đông Nam Á, nay đã trở nên  
rất hiếm, thậm chí đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng (O. Akerele,1991)  
[21] Theo He Shan An và Cheng Zhong Ming, (1985) [18], ở Trung Quốc  
vốn có một số loài Dioscorea japonica, trữ lượng khá lớn, trong thập kỷ 50,  
đã từng khai thác tới 30.000 tấn, hiện đã bị giảm sút nhiều, có loài thậm chí  
phải trồng và duy trì loài giống. Một vài loài cây thuốc quý như Fritillaria  
cirrhosa (làm thuốc ho) phân bố phổ biến ở vùng Tây – Bắc tỉnh Tứ Xuyên  
nay chỉ còn sót lại ở 1 – 2 điểm, với số lượng cá thể rất ít. Hoặc loài Iphigenia  
indica có tác dụng chữa ung thư, chỉ phân bố rất hẹp ở vùng Lijang và Dali  
tỉnh Vân Nam, do bị tìm kiếm khai thác gay gắt, hiện có thể đã bị tuyệt chủng.  
Một số loại cây thuốc quý khác như Paris polyphylla, Gastrodia elata,  
Nervilia fordii,…cũng là những ví dụ điển hình.  
Sara Oldfield, tổng thư ký của Tổ chức bảo tồn các vườn bách thảo  
quốc tế, nhận xét “Sự biến mất của các cây thuốc là một thảm họa thực sự”.  
Phần lớn dân số thế giới, trong đó có 80% người Châu Phi, hoàn toàn phụ  
thuộc vào dược thảo để chữa bệnh [23].  
Theo một báo cáo của tổ chức bảo tồn quốc tế Plantlife, trên khắp thế  
giới có khoảng 50.000 loại cây có thể dùng làm thuốc, nhưng xấp xỉ 15.000  
trong số đó đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng. Tình trạng thiếu dược thảo  
đã xảy ra ở Trung Quốc, Ấn Độ, Kenya, Nepal, Tanzania và Uganda hình về  
sự tồn tại mong manh của chúng ở Trung Quốc (P.G. Xiao, 1991) [22].  
Tuy nhiên giá trị và lợi nhuận mà cây thuốc đem lại rất lớn. Ở Mỹ mỗi  
năm lợi nhuận thu được từ cây thuốc khoảng 1,5 tỷ USD. Ở Trung Quốc, chỉ  
riêng việc xuất khẩu cao đơn hoàn tán cũng cho doanh thu khoảng 2 tỷ USD/  
7
năm. Hiện nay, phong trào dùng cây thuốc để phòng và chữa bệnh trên thế  
giới đã đặt ra một vấn đề cần lưu ý: 2/3 trong số 50.000 loài cây thuốc được  
sử dụng, khai thác từ các cây hoang dại sẵn có nhưng không được trồng lại để  
bổ sung. Theo một nghiên cứu của nhà thực vật học người Anh là Alan  
Hamilton, thành viên của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (viết tắt là WWF),  
có từ 4.000 – 10.000 loài cây cỏ dùng làm thuốc có nguy cơ bị tiệt chủng.  
Nguyên nhân không phải hoàn toàn do sự phát triển của Y học cổ truyền mà  
theo tác giả là do thị trường dược thảo ở Châu Âu và Bắc Mỹ tăng trưởng  
10% mỗi năm, trong vòng 10 năm nay. Trên quy mô toàn cầu, doanh số mua  
bán cây thuốc hàng năm ước tính lên tới 16 tỷ Euro [18].  
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước  
Theo Võ Văn Chi đất nước Việt Nam có nguồn dược liệu rất phong phú  
lên đến trên 4.000 loài thực vật và nấm lớn có công dụng làm thuốc; 52 loài  
tảo biển, 408 loài động vật và 75 loài khoáng vật có công dụng làm thuốc,  
trong đó có nhiều loài cây thuốc được sếp vào loài quý và hiếm trên thế giới  
như: Sâm ngọc linh, Sâm vũ diệp, Tam thất hoang, Bách hợp, Thông đỏ,  
Vàng đắng, Hoàng liên ô rô, Hoàng liên gai, Thanh thiên quỳ, Ba gạch Vĩnh  
Phúc…[5].  
Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30-10-2013 của Thủ tướng Chính  
phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020, định  
hướng đến năm 2030. Theo đó, việc bảo tồn và khai thác dược liệu tự nhiên  
bao gồm: Quy hoạch các vùng rừng, vùng có dược liệu tự nhiên ở 8 vùng  
dược liệu trọng điểm, bao gồm: Tây Bắc, Đông Bắc (trong đó có tỉnh Điện  
Biên), Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây  
Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, để lựa chọn và khai thác hợp lý 24  
loài dược liệu, đạt khoảng 2.500 tấn dược liệu/năm; xây dựng 5 vườn bảo tồn  
và phát triển cây thuốc quốc gia đại diện cho các vùng sinh thái; phấn đấu đến  
 
8
năm 2020 bảo tồn được 50% và đến năm 2030 là 70% tổng số loài dược liệu  
của nước ta . Về việc phát triển trồng cây dược liệu: Quy hoạch phát triển 54  
loài dược liệu thế mạnh của 8 vùng sinh thái phù hợp với điều kiện sinh  
trưởng, phát triển của cây thuốc để đến năm 2020 đáp ứng được 60% và đến  
năm 2030 là 80% tổng nhu cầu sử dụng dược liệu trong nước, tăng cường khả  
năng xuất khẩu dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu trong nước…Đối với  
vùng Tây Bắc nói chung và các tỉnh đại diện cho các vùng sinh thái khác nhau  
nói riêng, nhiều nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi để trồng các loại cây dược  
liệu quý, có hiệu quả kinh tế cao, chính vì vậy, cần có nhiều vùng quy hoạch  
trồng cây dược liệu để khai thác, phát triển tốt những lợi thế [12].  
Theo Võ Văn Chi, (2012) [5], từ điển cây thuốc Việt Nam (Bộ mới), tập  
I, trang 1107, Nxb Y học, Hà Nội. “Hoàng đằng có vị đắng, tính lạnh, có tác  
dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, sát trùng. Palmatin có tác dụng ức chế đối với các  
vi khuẩn trong đường ruột. Công dụng: Thường dùng chữa các loại sưng viêm,  
chữa chảy máu mắt, sốt rét, kiết lỵ, viêm ruột, ỉa chảy, viêm tai, lở ngứa ngoài  
da và cũng làm thuốc bổ đắng.  
Theo Nguyễn Bình An (2011) [1], khi nghiên cứu khả năng nhân giống  
loài Hoàng đằng tại vườn quốc gia Bến En, Thanh Hoá, kết quả cho thấy  
Hoàng đằng có thể nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom với thuốc  
kích thích ra rễ là IAA 1500ppm trong thời gian 5 giây, độ che bóng thích hợp  
là 25% và dùng công thức phân vi sinh 5% trộn với đất tầng mặt để làm hỗn  
hợp ruột bầu thì cây giống sinh trưởng tốt và tỷ lệ sống cao nhất. Tuy nhiên,  
tác giả chưa đi sâu nghiên cứu kỹ thuật nhân giống hữu tính và đặc điểm sinh  
thái của cây con trong giai đoạn vườn ươm. Đồng thời khi nghiên cứu kỹ  
thuật nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom Hoàng đằng, tác giả  
mới chỉ đưa ra được tỷ lệ hom sống, hom chết mà chưa chỉ ra được tỷ lệ hom  
ra rễ và chiều cao của cây đủ tiêu chuẩn để cấy vào bầu là như thế nào.  
9
Ngoài ra, loài Hoàng đằng cũng được một số tác giả khác như Võ Văn  
Chi (1997) [5], đã nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng, nhân giống, tuy nhiên  
chưa có kết quả cụ thể, nhưng phần lớn các tác giả cho rằng Hoàng đằng có  
thể trồng được bằng hạt hoặc bằng giâm cành, song hiện tại cây thuốc này  
chưa có hướng dẫn kỹ thuật chính thức. Trong phạm vi thực nghiệm, người ta  
đã thành công trong việc nhân giống bằng các đoạn thân và cành (có sử dụng  
chất kích thích ra rễ)  
Theo Đỗ Huy Bích và cs, (2004) [2], cây thuốc và động vật làm thuốc ở  
Việt Nam, tập I, trang 942, Nxb Khoa học và kĩ thuật, Hà Nội. “Hoàng đằng  
có vị đắng, tính hàn, vào 2 kinh tâm và can, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc,  
sát trùng, lợi thấp, thông tiện. Công dụng: Hoàng đằng được dùng làm thuốc  
bổ đắng chữa các chứng viêm tấy, kiết lỵ, tiêu chảy, sốt rét, bệnh về gan, nóng  
trong, lở ngứa ngoài da, mắt đỏ có màng, viêm tai chảy mủ.  
Nguyễn Thị Thuỷ nghiên cứu bảo tồn cây thuốc tại cộng đồng người  
Hmông, Dao của VQG Hoàng Liên Sơn.  
Thái Văn Trừng (1978) [14], thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7004  
loài thực vật bậc cao có loài thuộc 1850 chi, 289 họ.  
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [15], đã thống kê thành phần loài của VQG  
có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 cây có ích thuộc 478 chi, 213  
họ thuộc ngành: Dương xỉ, Hạt trần, Hạt kín, các loài này được xếp thành 8  
nhóm có giá tri khác nhau.  
Đỗ Tất Lợi (1999) [10], trong “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”  
tái bản lần 3 có sửa đổi bổ sung, đã mô tả nhiều loài thực vật bản địa hoang  
dại hữu ích làm thuốc, trong đó có nhiều bài thuốc hay.  
Ðỗ Tất Lợi (1991) [9], đã mô tả 2 loài Hoàng đằng thuộc họ Tiết dê  
(Menispermaceae), trong đó loài Fibraurea tinctoria Lour, khác với loài  
Fibraurea recisa Pierre ở chỗ lá nhọn, chỉ phân nhánh 2 lần.  
10  
Theo Võ Văn Chi đất nước Việt Nam có nguồn dược liệu rất phong phú  
lên đến trên 4.000 loài thực vật và nấm lớn có công dụng làm thuốc; 52 loài tảo  
biển, 408 loài động vật và 75 loại khoáng vật có công dụng làm thuốc, trong đó  
có nhiều loài cây thuốc được xếp vào loài quý và hiếm trên thế giới như: Sâm  
ngọc linh, Sâm vũ diệp, Tam thất hoang, Bách hợp, Thông đỏ, Vàng đắng,  
Hoàng liên ô rô, Hoàng liên gai, Thanh thiên quỳ, Ba gạc Vĩnh Phúc...[5]  
Số liệu thống kê của tổng cục thống kê cho biết, trong năm 2012, doanh  
thu sản xuất thuốc từ dược liệu tại Việt Nam đạt 3.500 tỷ đồng (gấp hơn 1,75  
lần so với doanh thu năm 2010). Đánh giá tại một số vùng, nuôi trồng cây  
dược liệu có giá trị kinh tế to lớn hơn bất kỳ cây lương thực, thực phẩm nào  
(có thể thu nhập trên 100 triệu đồng/ha). Ví dụ, ở Sa Pa (tỉnh Lào Cai), việc  
thực hiện trồng cây Artiso giúp đem lại doanh thu trồng đến thu hoạch đạt  
khoảng 115 triệu đồng/vụ/năm (Báo nông nghiệp năm 2014). Ở Việt Yên  
(tỉnh Bắc Giang), mô hình trồng cây Kim tiền thảo là hướng mới trong  
chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở tỉnh và đã thực sự góp phần giảm nghèo cho  
người dân nơi đây.  
Nhận định của TS. Trương Quốc Cường - Cục trưởng Cục Quản lý  
Dược - Bộ Y tế tại “Hội nghị xúc tiến đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ  
phát triển sản xuất dược liệu trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh năm 2014 [4], đưa  
dược liệu trở thành thế mạnh của ngành dược Việt Nam”; Ông cho rằng dược  
liệu chính là nguồn nguyên liệu của nền công nghiệp tân dược trong tương lai,  
chứ không phải là nguồn nguyên liệu hóa dược mà chúng ta đang mất nhiều  
thời gian và công sức để theo đuổi trong nhiều năm qua.  
Khai thác quá mức vì mục đích thương mại là nguyên nhân chủ yếu  
khiến dược thảo ngày càng trở nên khan hiếm. Tại Việt Nam cũng đang gặp  
phải một số hạn chế, khó khăn, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến quy hoạch  
phát triển dược liệu, công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen dược liệu, việc  
11  
tiêu chuẩn hóa dược liệu, cũng như việc hiện đại hóa sản xuất thuốc từ dược  
liệu. Có thể kể đến một số ví dụ điển hình như tình trạng nuôi trồng và khai  
thác dược liệu ở nước ta hiện nay còn tự phát triển, quy mô nhỏ dẫn đến sản  
lượng dược liệu không ổn định, giá cả biến động; Việc khai thác dược liệu  
quá mức mà không đi đôi với việc tái tạo, phát triển dược liệu đã dẫn đến số  
lượng loài cây dược liệu, có khả năng khai thác tự nhiên còn rất ít (trên cả  
nước hiện chỉ còn khoảng 206 loài cây dược liệu có giá trị có thể khai thác tự  
nhiên), nhiều loài cây dược liệu quý hiếm trong nước đang đứng trước nguy  
cơ cạn kiệt; Ví dụ: Vàng đắng (Coscinium fenestratum (Gaertn.) Colebr.), là  
một loài dây leo gỗ lớn. Kết quả điều tra đến năm 1986 đã xác định cây phân  
bố chủ yếu ở các tỉnh phía Nam (từ vĩ độ 16015’ ở Phú Lộc – Thừa Thiên Huế  
trở vào), trên phạm vi 121 xã, 44 huyện, 14 tỉnh. Từ năm 1980 – 1990 tính  
trung bình khai thác từ 1.000 – 2.500 tấn/năm, ở các tỉnh Gia Lai – Kon Tum,  
Nghĩa Bình, Quảng Nam – Đà Nẵng, Đắk Lắk và Sông Bé (theo đơn vị hành  
chính lúc đó). Đến giai đoạn 1991 – 1995, mỗi năm chỉ còn dưới 200 tấn. Đặc  
biệt là một số cây thuốc có nhu cầu dường như không hạn chế, như Ba Kích  
(Morinda officinalis How); Đẳng Sâm (Campanumoea javanica Blume) và  
các loài Hoàng tinh thuộc chi Disporopsis và Polygonatum,… vốn phân bố  
khá phổ biến ở các tỉnh miền núi phía Bắc, lượng khai thác những cây thuốc  
này hiện đã làm suy giảm nghiêm trọng, thậm chí trở nên khan hiếm đến mức  
đã được đưa vào Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam (Nguyễn Tập, 1985, 1990,  
1997, 2001, 2006) và Sách Đỏ Việt Nam – Phần thực vật, năm (1996, 2007) [13]  
Nhiều loài thuốc quý đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, trong đó 31 loài  
ở mức bị đe dọa tuyệt chủng cao. Các cây thuốc trước kia có thể khai thác  
hàng chục nghìn tấn/năm như: Ba kích, Đẳng sâm, Hoàng đằng, Hoàng tinh,...  
đã giảm rõ rệt. Ông Ngô Quốc Luật, Viện Dược liệu, cho biết, ngay cả ở các  
khu bảo tồn thiên nhiên, tình trạng khai thác cây thuốc cũng rất tùy tiện.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 58 trang yennguyen 13640 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Nghiên cứu sinh trưởng của cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour) tuổi 3 tại xã Sam Mứn, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_nghien_cuu_sinh_truong_cua_cay_hoang_dang_fibraure.pdf