Khóa luận Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và tri thức địa phương về cây Trà hoa vàng tại xã Dương Phong, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
NGUYỄN THỊ HẬU  
“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ TRI THỨC  
ĐỊA PHƯƠNG VỀ CÂY TRÀ HOA VÀNG (Camellia ssp)  
TẠI XÃ DƯƠNG PHONG, HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN”  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Khoa  
: Chính quy  
: Quản lý tài nguyên rừng  
: Lâm nghiệp  
Khóa học  
: 2015 – 2019  
Thái Nguyên, năm 2019  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
NGUYỄN THỊ HẬU  
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ TRI THỨC  
ĐỊA PHƯƠNG VỀ CÂY TRÀ HOA VÀNG (Camellia ssp)  
TẠI XÃ DƯƠNG PHONG, HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tao  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính quy  
: Quản lý tài nguyên rừng  
: K47 – QLTNR  
: Lâm nghiệp  
Khoa  
Khóa học  
: 2015 – 2019  
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Trần Đức Thiện  
TS. Đỗ Hoàng Chung  
Thái Nguyên, năm 2019  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận  
này là trung thực, đầy đủ, rõ nguồn gốc và chưa được sử dụng để bảo vệ khóa  
luận nào. Các thông tin, tài liệu tham khảo sử dụng trong khóa luận này đều  
đã được ghi rõ nguồn gốc. Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này  
đã được cảm ơn.  
Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ khóa luận, trước khoa  
và nhà trường về các thông tin, số liệu trong đề tài.  
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019  
Giảng viên hướng dẫn  
Người viết cam đoan  
Nguyễn Thị Hậu  
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN  
Xác nhận sinh viên đã sửa theo yêu cầu của  
Hội Đồng chấm khóa luận tốt nghiệp  
 
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Qua 4 năm học tập và rèn luyện tại trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên,  
được sự chỉ bảo và giảng dạy nhiệt tình của quý thầy cô, đặc biệt là quý thầy  
cô khoa Lâm Nghiệp đã truyền đạt cho tôi những kiến thức về lý thuyết và  
thực hành trong suốt thời gian học tập ở trường. Thực tập tốt nghiệp là thời  
gian tốt nhất cho tôi củng cố lại kiến thức đã học áp dụng vào thực tế một  
cách đúng đắn, sáng tạo và mang lại hiệu quả nhất.  
Xuất phát tư vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu  
một số đặc điểm sinh học và tri thức địa phương về cây Trà hoa vàng  
(Camellia ssp) tại xã Dương Phong, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn”. Để  
hoàn thành đề tài ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi xin chân thành cảm ơn sự  
giúp đỡ của:  
Ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp đã quan  
tâm, tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.  
UBND huyện Bạch Thông, Hạt kiểm lâm huyện Bạch Thông, UBND xã  
Dương Phong, một số hộ gia đình tại các thôn Pản Pè và Bản Mún 1 đã nhiệt  
tình tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu.  
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo hướng dẫn  
Th.S Trần Đức Thiện và TS. Đỗ Hoàng Chung đã tận tâm giúp đỡ và  
hướng dẫn tôi về phương pháp nội dung trong toàn bộ quá trình thực hiện đề tài.  
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã hỗ trợ, động viên  
tôi trong toàn bộ quá trình thực hiện đề tài.  
Do lần đầu làm quen với nghiên cứu khoa học, nên khóa luận không  
tránh được những thiếu sót. Vì vậy, tôi kính mong được sự đóng góp ý kiến  
quý báu của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để bản khóa luận của tôi  
được hoàn thiện hơn.  
Tôi xin chân thành cảm ơn!  
Thái nguyên, ngày tháng năm 2019  
Sinh Viên  
Nguyễn Thị Hậu  
 
iii  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
OTC:  
Ô tiêu chuẩn  
ODB:  
D1.3:  
Doo:  
Hvn:  
Hdc:  
G:  
Ô dạng bản  
Đường kính ở 1.3m so với mặt đất  
Đường kính gốc  
Chiều cao vút ngon  
Chiều cao dưới cành  
Tổng tiết diện ngang  
Đường kính tán  
Dt:  
St:  
Diện tích tán  
UBND:  
Ủy ban nhân dân  
 
iv  
DANH MỤC CÁC HÌNH  
 
vi  
MỤC LỤC  
 
vii  
1
Phần 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Trà hoa vàng thuộc chi Camellia, là một chi lớn thuộc họ Trà  
(Theaceae). Các loài trong chi Camellia có nhiều tác dụng như gỗ làm đồ gia  
dụng bền chắc, lá hoa làm đồ uống, làm dược liệu và làm cây cảnh. Ngoài ra,  
có thể trồng dưới tán cây khác trong các đai rừng phòng hộ chống xói mòn,  
nuôi dưỡng nguồn nước,…Trà hoa vàng là loài cây quý, được phát hiện ở  
Trung Quốc vào những năm 60 của thế kỷ XX nhưng đã được phát triển  
nhanh chóng nhờ những đặc tính vốn có của nó. Trung Quốc đã lai giống  
thành công giữa Trà hoa vàng và Trà hoa đỏ, làm lá nhỏ đi nhưng vẫn giữ  
được màu hoa vàng tuyệt đẹp. Trà hoa vàng đã được gây trồng và chế biến  
thành đồ uống bổ dưỡng cao cấp có tác dụng phòng và chữa bệnh tốt. Ngoài  
việc sử dụng Trà hoa vàng như một loài cây cảnh quan, các ứng dụng khác sử  
dụng các chất dinh dưỡng trong lá, hoa còn có tác dụng hạ huyết áp, giảm tiểu  
đường, hạ cholesterol, hạ mỡ máu, chống u bướu, tăng cường hệ miễn dịch  
(Vũ Thị Luận, 2017) [6].  
Ở Việt Nam, Trà hoa vàng được phát hiện ở nhiều nơi những năm 90 của  
thế kỷ XX và ở một số vùng phía bắc trong những năm vừa qua. Trà hoa vàng  
là cây bụi, ưa bóng, có thể đưa chúng vào đối tượng trồng dưới tán rừng  
phòng hộ. Hiện nay, môi trường sống của Trà hoa vàng đang bị đe dọa  
nghiêm trọng do việc chặt phá rừng bừa bãi, mức độ khái thác nhiều dấn đến  
sản lượng của loài bị giảm mạnh, bên cạnh đó thị trường Trung Quốc thu mua  
với giá rất cao nên người dân đã vào rừng khái thác trái phép. Nếu không có  
kế hoạch bảo vệ và đầu tư hợp lý thì chúng ta sẽ mất đi nguồn tài nguyên quý  
hiếm này (Vũ Thị Luận, 2017) [6].  
   
2
Việc nghiên cứu đặc điểm nơi sống của cây trà hoa vàng có ý nghĩa rất  
quan trọng và cần thiết góp phần bảo vệ phát triển loài này một cách có hiệu  
quả. Tiến tới khai thác lợi dụng sản phẩm quý từ rừng cho con người trên cơ  
sở đảm bảo sử dụng bền vững và ổn định hệ sinh thái rừng. Góp phần nâng  
cao đời sống của người dân địa phương.  
Hiện này, loài trà hoa vàng được tìm thấy ở một số xã của huyện Bạch  
Thông,tỉnh Bắc Kạn. Do tình trạng phân bố của loài chưa có đầy đủ thông tin  
và việc nghiên cứu cơ bản về loài cây này còn rất hạn chế.  
Xuất phát từ thực tiến đó tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc  
điểm sinh học và tri thức địa phương về cây Trà hoa vàng tại xã Dương  
Phong, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn”.  
1.2. Mục tiêu của đề tài  
* Mục tiêu tổng quát:  
Xác định được một số đặc điểm sinh học, tri thức địa phương của cây  
Trà hoa vàng tại huyện Bạch Thông, Tỉnh Bắc Kạn.  
* Mục tiêu cụ thể:  
- Đánh giá được đặc điểm sinh học của cây Trà hoa vàng tại khu vực  
nghiên cứu.  
- Đánh giá được tri thức địa phương về cây Trà hoa vàng tại khu vực  
nghiên cứu.  
- Đánh giá được đặc điểm phân bố của loài Trà hoa vàng.  
- Đề xuất được một số giải pháp quản lý, bảo tồn và phát triển loài Trà  
hoa vàng tại khu vực nghiên cứu.  
1.3. Ý nghĩa của đề tài  
* Ý nghĩa khoa học:  
- Quá trình nghiên cứu giúp tôi củng cố lại các kiến thức lý thuyết đã học  
và bước đầu làm quen với việc nghiên cứu ngoài thực địa.  
   
3
- Xác định được đặc điểm sinh học và tri thức địa phương về cây Trà hoa  
vàng tại khu vực nghiên cứu.  
- Làm cơ sở lý luận khoa học cho việc đề xuất giải pháp quản lý và bảo tồn.  
* Ý nghĩa thực tiễn:  
Từ kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh học và tri thức địa phương của loài  
Trà hoa vàng, góp phần vào bảo tồn và phát triển loài cây này tại khu vực  
nghiên cứu.  
4
Phần 2  
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU  
2.1. Nghiên cứu trên thế giới  
Trà hoa vàng thuộc chi Trà (Camelia) là chi thực vật có nhiều chủng loại  
phong phú, có nhiều tác dụng, theo thống kê trên thế giới có khoảng trên 300  
loài và hàng chục biến chủng khác nhau.  
Những năm 60 của thế kỷ XX, lần đầu tiên Trà hoa vàng được phát hiện  
ở Quảng Tây, Trung Quốc và được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Từ  
đó nó được các nước rất quan tâm nghiên cứu vì có một số công dụng đặc biệt.  
Trà hoa vàng ưa khí hậu nóng ẩm, thường mọc ở nơi đất tơi xốp bên bờ  
suối có bóng râm, thoát nước tốt. Phạm vi phân bố tự nhiên rất hẹp, chỉ thấy  
mọc hoang ở vùng đồi gò 100-200m, huyện Ung Nhinh - Nam Ninh - Quảng  
Tây - Trung Quốc. Được đưa vào danh sách các loài cây bảo hộ cấp I của  
Trung Quốc (Vũ Thị Luận, 2017) [6], (Nguyễn Văn Khương, 2011) [5].  
Trong lá của Trà hoa vàng có chứa rất nhiều nguyên tố vi lượng như  
Germanium (Ge), Selenium (Se), Mangan (Mn), Molypden (Mo), Kẽm (Zn),  
Vanadium …. Các hoạt chất trong lá, hoa của Trà hoa vàng có tác dụng hạ  
huyết áp, giảm tiểu đường, hạ cholesterol, hạ mỡ máu, chống u bướu, tăng  
cường hệ miễn dịch và kéo dài tuổi thọ. Germanium có hoạt tính sinh lý rất  
cao, có thể phát huy, tăng cường năng lực hấp thu O2 của tế bào, đảm bảo  
cung cấp dưỡng khí cho cơ thể, có lợi cho việc trao đổi chất. Germanium hữu  
cơ làm tăng sức đề kháng, chống u bướu, hạn chế tế bào u bướu phát triển,  
tăng khả năng miễn dịch, có tác dụng phòng và chống ung thư. Selenium có  
tác dụng chống oxy hoá, có thể tiêu trừ các gốc tự do có hại trong cơ thể, nâng  
cao năng lực tự bảo vệ, do đó kéo dài tuổi thọ. Vanadium có thể xúc tiến cơ  
năng tạo máu, giảm cholesterol trong huyết tương. Nghiên cứu lâm sàng  
   
5
chứng tỏ Trà hoa vàng giúp giảm mỡ máu rõ rệt hơn alpha-Napthothiourea,  
thuốc đã được thế giới công nhận về công dụng giúp giảm mỡ máu.  
Các hợp chất của Trà hoa vàng có khả năng kiềm chế sự sinh trưởng của  
các khối u đến 33,8% trong khi chỉ cần đạt đến ngưỡng 30% đã có thể xem là  
thành công trong điều trị ung thư. Giúp giảm đến 35% hàm lượng cholesterol  
trong máu, trong khi dùng các loại thuốc khác thì mức độ giảm chỉ là 33.2%...  
Chất chiết xuất từ Trà hoa vàng còn có tác dụng làm giảm tới 36.1% lượng  
lipoprotein trong cơ thể, cao hơn 10% so với các liệu pháp sử dụng tân dược  
hiện nay. Ông Lipuren, chuyên gia y học dân tộc nổi tiếng của Trung Quốc,  
trong một công trình nghiên cứu khoa học đã khẳng định Trà hoa vàng "có  
những công dụng y học vô giá" (Nguyễn Văn Khương, 2011) [5].  
Trung Quốc đã xây dựng được khu bảo tồn gen các loại Trà hoa vàng  
(trên 20 loài và biến chủng) và đi sâu nghiên cứu các mặt cấu tạo gỗ, nhiễm  
sắc thể, đặc trưng hình thành phấn hoa, lai giống và nhân giống Trà hoa vàng.  
Hiện nay, công ty Phú Tân (tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc) đã chế biến  
thành công trà túi lọc từ Trà hoa vàng, tinh trà và dịch Trà hoa vàng thành loại  
nước uống bổ dưỡng cao cấp đưa ra thị trường thế giới, đặc biệt sản phẩm  
Golden Camellia có giá tới 4.67 triệu đồng/ chai. Đây là hướng sử dụng Trà  
hoa vàng đặc biệt hữu hiệu và có lợi đối với sức khỏe con người.  
Ngoài ra, các nghiên cứu của nước ngoài cũng chỉ ra rằng, Trà hoa còn  
có khả năng hấp thu CO2, H2S, Cl, HF và các thể khí độc hại khác, có tác  
dụng bảo vệ môi trường mạnh, làm sạch không khí. Một công viên Trà hoa  
vàng đã được xây dựng tại Nam Ninh – Trung Quốc để phục vụ người dân  
thăm quan và là nơi bảo vệ nguồn gen cho các nhà khoa học nghiên cứu (Vũ  
Thị Luận, 2017) [6], (Nguyễn Văn Khương, 2011) [5].  
Như vậy, ở Trung Quốc các loài trong chi Camelli đã được các nhà khoa  
học, các nhà chuyên môn nghiên cứu một cách nghiêm túc. Trung Quốc là  
6
nước đi đầu trong việc nghiên cứu ứng dụng, khai thác các loài trà hoa trong  
nghệ thuật cây cảnh, làm thuốc, đồ uống.  
2.2. Nghiên cứu trong nước  
Ở Việt Nam, Trà hoa vàng lần đầu tiên được người Pháp phát hiện ở  
miền Bắc nước ta năm 1910, nhưng cho đến nay các công tác nghiên cứu về  
Trà hoa vàng không đáng kể. Theo ước tính, ở nước ta có khoảng gần 20 loài  
khác nhau. Những năm 90 của thế kỷ XX, Trà hoa vàng mới được quan tâm  
điều tra nghiên cứu về hình thái, phân loại Trà hoa vàng (Trần Ninh, 2002) [8].  
Trà hoa vàng có thể tìm thấy tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc  
nước ta như Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Yên Bái, Lào Cai…, chúng thường mọc ở  
độ cao 300 - 800m so với mặt biển, phần lớn là trong rừng thứ sinh, xen giữa  
các nương rẫy, ở một số địa hình quá dốc hoặc nhiều đá lộ đầu, ven khe suối cạn.  
Mặc dù đã phát hiện trà hoa vàng gần một thế kỷ nhưng đến nay công  
tác bảo tồn chưa được chú ý, việc nghiên cứu ứng dụng hầu như còn bỏ ngỏ.  
Không chỉ 2 loài Trà hoa vàng có tên trong sách đỏ Việt Nam mà hàng chục  
loài Trà hoa vàng khác đều đang trong tình trạng nguy cấp. Trước mắt, chủ  
yếu là bảo tồn tại chỗ, đồng thời nghiên cứu di thực về trồng khảo nghiệm tại  
Đà Lạt, vườn Quốc gia Tam Đảo… Trong tương lai, để bảo tồn và quản lý  
bền vững nguồn gen quý này, cần tập trung nhân giống để trồng với qui mô lớn.  
Trà hoa vàng là cây thân gỗ nhỏ, thường xanh, cao khoảng 2-5m, cành  
thưa, vỏ cây màu vàng xám nhạt. Lá đơn mọc cách, dài hẹp hình tròn. Hàng  
năm cứ đến tháng 4-5 đâm lộc, ra lá mới, sau 2-3 năm lá già mới rụng. Tháng  
11 bắt đầu nở hoa, hoa kéo dài đến tháng 3 năm sau. Hoa mọc ở nách lá mới  
mọc riêng lẻ. Màu vàng kim có sáp bóng, đẹp mắt, long lanh khiến con người  
cảm giác nửa trong suốt. Hoa dạng cốc hoặc bát, thế hóa đa dạng và kiều  
diễm (Ngô Quang Đê và Cs, 2008) [2].  
7
Trà hoa vàng có giá trị kinh tế và y dược rất cao. Lá có thể pha uống,  
làm thuốc chữa kiết lỵ và rửa vết thương, lở loét. Hoa chữa tiêu chảy ra máu,  
cũng có thể dùng làm màu thực phẩm. Gỗ cứng có thể làm đồ dùng gia đình  
và hàng mỹ nghệ. Hạt có thể để ép lấy dầu.  
Trà hoa vàng là cây gỗ nhỏ, chịu bóng, thường mọc dưới tán các cây  
khác trong rừng tự nhiên. Do đó Trà hoa vàng có khả năng trồng làm cây tầng  
dưới cho các đai rừng phòng hộ nuôi dưỡng nguồn nước, chống xói mòn. Cây  
có nhiều lá, dễ phân giải, có tác dụng giữ nước và cải tạo đất tốt [5].  
Trà hoa vàng có thời gian ra hoa khá dài, hoa có màu vàng sặc sỡ, hoa từ  
trung bình đến lớn, có đường kính 4 - 8cm. Do có hoa đẹp, nhiều loài nở hoa  
vào dịp Tết âm lịch nên người chơi cây cảnh đã sưu tầm các cây Trà hoa vàng  
dã sinh về trồng làm cảnh ở sân vườn. Hiện chỉ có giá trị cảnh quan được  
quan tâm đến, còn các giá trị về sinh, dược học chưa được quan tâm và khai  
thác (Nguyễn Văn Khương, 2011) [5], Phạm Thị Bích Hòa, 2017) [4].  
Trần Ninh (giảng viên Đại học Quốc gia Hà Nội) đã cùng các cộng sự  
phát hiện một loài trà hoa sắc vàng tươi trong Vườn Quốc Gia Tam  
Đảo (hiện chưa thể tiết lộ vị trí cụ thể) [8].  
Đỗ Đình Tiến (2000) đã nghiên cứu về nhân giống bằng hom cũng được  
thực hiện cho loài C. petelotii; C. tonkinensis và C. euphlebia đạt tỷ lệ ra rễ từ  
70% - 86%. Theo thống kê hiện nay có khoảng 196 loài trà, chia làm 4 á chi  
và nhiều chủng, biến chủng. Việt Nam có khoảng 26 loài trà, chủ yếu ở miền  
Bắc. Trong những năm gần đây nhiều người nhà nghiên cứu nước ngoài (Úc,  
Pháp, Anh, Nhật...) đã tới Việt Nam nghiên cứu, tìm hiểu về các giống, đặc  
biệt là Trà hoa vàng. Trà hoa phân bố chủ yếu ở vùng á nhiệt đới, nóng ẩm và  
có mùa đông, rất thích hợp với miền Bắc và Đà Lạt, có thể trồng được trên  
nhiều loại đất, trong đó đất tơi xốp, thoát nước, đất chua có độ pH từ 4,5 - 5,5  
là thích hợp nhất. Trà hoa đang là loài quý hiếm, chưa nơi nào trồng với diện  
8
tích lớn. Một số loài không có nhị (bạch trà) nên không có quả. Vì vậy  
phương pháp nhân giống chủ yếu hiện nay là nhân giống vô tính (chiết, ghép,  
giâm hom, nuôi cấy mô), trong đó cách giâm hom là đơn giản và có tỷ lệ cây  
sống cao (Nguyễn Văn Khương, 2011) [5].  
Nghiên cứu về nhân mã hóa rARN 5,8s ở loài Trà hoa vàng C. petelotii  
của vườn quốc gia Tam Đảo được thực hiện bởi Nguyễn Thị Nga và cộng sự  
(2003) với mục đích xác định chính xác phân loại loài này với loài C.  
chrysantha của Trung Quốc. Kết quả cũng chỉ dừng ở việc tách chiết được  
ADN tổng số và đã nhân được đoạn gen mã hoá rARN 5,8S ở loài Trà C.  
petelotii với cặp mồi thiết kế đặc hiệu cho chi Camellia còn cụ thể loài C.  
petelotii và C. chrysantha của Trung Quốc có phải là cùng một loài hay  
không thì chưa thấy đề cập (Nguyễn Văn Khương, 2011) [5].  
Viện Dược liệu (Bộ Y tế) có công trình "Bước đầu khảo sát thành phần  
hóa học của một số loài trà hoa vàng Camellia spp. ở Việt Nam". Kết quả của  
đề tài khoa học này cũng mới chỉ dừng lại ở mức "khiêm tốn" là xác định  
được một số nhóm chất của 5/20 loại trà hoa vàng bằng phương pháp sắc ký  
lớp mỏng.  
Gần đây đề tài “Nghiên cứu khả năng bảo tồn ngoại vi (Ex situ) và nhân  
giống một số loài Trà hoa vàng nhằm bảo vệ và phát triển” đã được thực hiện  
cho hai loài C. tonkinensis và C. euphlebia. Đề tài đã tìm hiểu điều kiện sống  
của 2 loài trà hoa vàng Ba Vì và Sơn Động làm cơ sở cho việc xác định biện  
pháp kĩ thuật gây trồng nó sau này. Việc tìm thấy loài trà hoa vàng Ba vì  
(Camellia tonkinensis) là thành công do trước đây năm 1995 Rosmann đã đi tìm  
nhưng chưa thấy và tưởng loài này đã mất. Đề tài đã giâm hom cho 2 loài này  
đạt tỉ lệ ra rễ và sống 50 – 80.6%. Lần đầu tiên phân tích các nguyên tố vi lượng  
trong lá trà hoa vàng Ba Vì và Sơn động tại nơi sinh sống tự nhiên của chúng  
(Ngô Quang Đê và Cs, 2008) [3].  
9
Trên báo Lâm Đồng điện tử số ra ngày 6/8/2008 của tác giả Sơn Tùng  
(2008) có tiêu đề “Camellia - Siêu trà bị lãng quên” cho biết các công dụng về  
giá trị dược học của Trà hoa vàng và mà cũng chỉ ra việc khai thác đúng mức  
tài nguyên này ở Việt Nam còn bị bỏ ngỏ.  
2.3. Tổng quan khu vực nghiên cứu  
2.3.1. Điều kiện tự nhiên  
- Vị trí địa lý:  
Dương Phong là một xã của huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, Việt Nam  
Xã có vị trí địa lý, ranh giới như sau:  
• Phía Bắc giáp xã Đôn Phong  
• Phía Đông giáp xã Quang Thuận  
• Phía Nam giáp xã Mai Lạp (Chợ Mới), xã Yên Mỹ (Chợ Đồn)  
• Phía Tây giáp xã Đại Sảo và Đông Viên (Chợ Đồn)  
Xã có tỉnh lộ 257 (nay là quốc lộ 3B) chạy qua địa bàn song song với  
sông Cầu.  
Xã Dương Phong được chia thành 10 thôn bản: Nà Chèn, Bản Mèn, Bản  
Pè, Tống Mú, Tổng Ngay, Nà Coọng, Khuổi Cỏ, Bản Chàn, Bản Mún 1, Bản  
Mún 2 [9].  
- Địa hình, địa mạo:  
Bạch Thông là nơi hội tụ của hệ thống núi dạng cánh cung, bị chia cắt  
mạnh bởi hệ thống sông suối, tạo thành các kiểu địa hình núi cao trung bình,  
địa hình núi thấp và đồi thoải lượn sóng xen kẽ với các thung lũng là các cánh  
đồng nhỏ hẹp, độ dốc bình quân 260 - 300, diện tích đồi núi chiếm khoảng  
90% tổng diện tích tự nhiên, diện tích tương đối bằng phẳng chiếm khoảng  
10%, đất nông nghiệp chủ yếu là ruộng bậc thang và các bãi bồi dọc theo hệ  
thống sông suối. Địa hình phức tạp gâykhó khăn cho hoạt động sản xuất nông nghiệp.  
   
10  
Nằm trong hệ thống kiến tạo hình thành địa hình của tỉnh Bắc  
Kạn, huyện Bạch Thông thuộc phần cuối của cánh cung Ngân Sơn. Cho nên  
đồi núi Bạch Thông có độ cao vừa phải, ngoài một số núi đá vôi phần nhiều là  
đồi núi thấp được cấu tạo bằng các loại sa phiến thạch, sườn thoải, dạng đồi  
bát úp, hoặc đã được khai phá thành các ruộng bậc thang như hiện nay. Địa  
hình Bạch Thông chia thành hai vùng rõ rệt : Các xã ở khu vực phía Bắc  
thuộc vùng núi, có địa hình phức tạp, đi lại gặp nhiều khó khăn, thảm thực vật  
dầy, diện tích tán che phủ rộng phần nhiều là rừng xanh quanh năm. Các xã  
phía Nam huyện thuộc dạng địa hình vùng núi thấp và đồi. Vì thế, địa hình  
của Bạch Thông độ cao giảm dần từ bắc xuống nam. Là một huyện nằm ở vị  
trí trung tâm của tỉnh Bắc Kạn, có thị xã, thị trấn, phố chợ, nên nhìn chung  
mạng lưới giao thông ở Bạch Thông tương đối phát triển. Trừ một số xã nằm  
sâu giữa vùng núi non hiểm trở ở hai phía đông và tây, các tổng và các xã còn  
lại đều nằm dọc các thung lũng, giao thông liên lạc khá thuận tiện. Quốc lộ số  
3 là con đường giao thông huyết mạch chạy dọc theo chiều dài của huyện  
Bạch Thông. Nhờ con đường này, từ Bạch Thông người ta có thể đi lại môt  
cách dễ dàng về phía nam xuống thủ đô Hà Nội, lên phía bắc đến tận Cao  
Bằng. Cùng với quốc lộ số 3, Bạch Thông có nhiều đường đất, đá, đáng chú ý  
là đường Thác Giềng - Na Rì, dài 50 km, đường đi Chợ Đồn dài 40 km,  
đường Phủ Thông - Chợ Rã, dài 60 km…..Ngoài ra còn một thống đường  
mòn tạo thành một mạng lưới giao thông phục vụ nhu cầu đời sống, kinh tế và  
văn hóa xã hội của nhân dân các dân tộc trong vùng [9].  
Dương Phong nằm ở phía Tây Nam của huyện Bạch Thông, là địa  
phương thuận lợi về giao thông, lại có khí hậu, thổ nhưỡng khá tương đồng  
với vùng quýt Quang Thuận nên Dương Phong có điều kiện tốt để tập trung  
phát triển cây nông lâm nghiệp.  
11  
- Khí hậu - thủy văn:  
+ Khí hậu:  
Khí hậu xã Dương Phong nói riêng và huyện Bạch Thông nói chung đều  
ảnh hưởng chung của khí hậu Miền Bắc Việt Nam. Nằm trong khu vực khí  
hậu nhiệt đới gió mùa xích đạo, trong năm thời tiết chia thành 4 mùa rõ rệt:  
xuân, hạ, thu, đông. Mùa hạ trùng với gió mùa đông nam (từ tháng 4 đến  
tháng 10) thời tiết nóng và mưa nhiều, nhiệt độ trung bình từ 250C đến 270C  
lượng mưa chiếm khoảng 90% tổng lượng mưa trong năm. Mùa đông trùng  
với gió mùa đông bắc (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) thời tiết khô, hanh  
giá rét, nhiều khi có sương muối, nhiệt độ trung bình từ 150C đến 170C mưa ít  
chỉ khoảng 10% tổng lượng mưa trong năm gây ảnh hưởng xấu đến độ sinh  
trưởng và phát triển của cây trồng và gia súc. Sự chênh lệch nhiệt độ giữa hai  
mùa nóng - lạnh tương đối lớn nhiệt độ trung bình ở tháng nóng nhất là 270C,  
ở tháng lạnh nhất là 13,70C [9].  
Số giờ nắng: Tổng số giờ nắng trung bình đạt 1586 giờ, thấp nhất là  
tháng 1 có 54 giờ, cao nhất là 223 giờ vào tháng 8.  
Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình năm là 1.248,2 mm, phân bố không  
đều giữa các tháng trong năm, mưa tập trung vào các tháng 5,6,7,8; vào tháng  
11 lượng mưa không đáng kể, hàng năm trên địa bàn huyện xuất hiện mưa đá  
từ 1 đến 3 lần.  
Độ ẩm không khí trung bình năm đạt 83%, cao nhất vào các tháng  
7,8,9,10 từ 84 - 86% thấp nhất là tháng 12 và tháng 1 năm sau. Nhìn chung độ  
ẩm không khí trên địa bàn huyện không có sự chênh lệch nhiều giữa các tháng  
trong năm [9].  
Gió trên địa bàn huyện có hai hướng chính là gió mùa Đông Bắc và gió  
mùa Đông Nam, tốc độ gió bình quân 01 - 03 m/s; vào giai đoạn chuyển từ  
mùa đông sang mùa hè (tháng 4 hàng năm) gió thổi cả ngày với vận tốc trung  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 74 trang yennguyen 20240 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và tri thức địa phương về cây Trà hoa vàng tại xã Dương Phong, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_nghien_cuu_mot_so_dac_diem_sinh_hoc_va_tri_thuc_di.pdf