Khóa luận Hoàn thiện công tác kiểm toán vốn bằng tiền trong kiểm toán Báo cáo tài chính tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn sản xuất Long Dương do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nexia Stt – Chi nhánh An Phát thực hiện

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢN LÝ VÀ CÔNG NGHỆ HẢI PHÒNG  
-------------------------------  
ISO 9001:2015  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP  
NGÀNH : KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN  
Sinh viên  
: Bùi Thị Quỳnh Anh  
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Trần Thị Thanh Thảo  
HẢI PHÒNG – 2020  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢN LÝ VÀ CÔNG NGHỆ HẢI PHÒNG  
-----------------------------------  
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM TOÁN VỐN BẰNG  
TIỀN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH  
TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN SẢN XUẤT  
LONG DƯƠNG DO CÔNG TY TNHH NEXIA STT –  
CHI NHÁNH AN PHÁT THỰC HIỆN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY  
NGÀNH: KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN  
Sinh viên  
: Bùi Thị Quỳnh Anh  
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Trần Thị Thanh Thảo  
HẢI PHÒNG – 2020  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢN LÝ VÀ CÔNG NGHỆ HẢI PHÒNG  
--------------------------------------  
NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP  
Sinh viên: Bùi Thị Quỳnh Anh  
Lớp : QT2002K  
Ngành : Kế toán – Kiểm toán  
Mã SV: 1612401001  
Tên đề tài: Hoàn thiện công tác kiểm toán vốn bằng tiền trong kiểm toán  
Báo cáo tài chính tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn sản xuất Long Dương do  
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nexia Stt – Chi nhánh An Phát thực hiện  
NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI  
1. Nội dung và các yêu cầu cần giải quyết trong nhiệm vụ đề tài tốt  
nghiệp  
- Khái quát lý luận cơ bản về kiểm toán vốn bằng tiền trong kiểm toán  
Báo cáo tài chính.  
- Mô tả thực trạng công tác kiểm toán khoản mục vốn bằng tiền tại đơn vị  
thực tập.  
- Đưa ra một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác kiểm toán vốn bằng tiền  
trong kiểm toán Báo cáo tài chính tại đơn vị.  
2. Các tài liệu, số liệu cần thiết  
- Các tài liệu của kiểm toán viên liên quan đến quá trình kiểm toán vốn  
bằng tiền.  
- Kỳ khảo sát năm 2019.  
3. Địa điểm thực tập tốt nghiệp  
- Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nexia Stt – Chi nhánh An Phát.  
- Số 245 Bạch Đằng, phường Thượng Lý, quận Hồng Bàng, thành phố  
Hải Phòng.  
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP  
: Trần Thị Thanh Thảo  
Họ và tên  
Học hàm, học vị  
: Thạc sĩ  
Cơ quan công tác : Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng  
Nội dung hướng dẫn: Kiểm toán vốn bằng tiền trong kiểm toán Báo cáo tài  
chính  
Đề tài tốt nghiệp được giao ngày 30 tháng 03 năm 2020  
Yêu cầu phải hoàn thành xong trước ngày 30 tháng 06 năm 2020  
Đã nhận nhiệm vụ ĐTTN  
Đã giao nhiệm vụ ĐTTN  
Giảng viên hướng dẫn  
Sinh viên  
Hải Phòng, ngày tháng năm 2020  
HIỆU TRƯỞNG  
MỤC LỤC  
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................1  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
STT  
Từ viết tắt  
BCKT  
BCTC  
DN  
KSNB  
KTV  
NĐ - CP  
QĐ - KTNN  
ThS  
Nội dung  
Báo cáo kiểm toán  
Báo cáo tài chính  
Doanh nghiệp  
Kiểm soát nội bộ  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Kiểm toán viên  
Nghị định – Chính phủ  
Quyết định – Kiểm toán Nhà nước  
Thạc sỹ  
Thu nhập doanh nghiệp  
Trách nhiệm hữu hạn  
Thành phố  
TNDN  
10 TNHH  
11 TP  
12 TSCĐ  
13 TT - BTC  
14 XDCB  
Tài sản cố định  
Thông tư – Bộ Tài chính  
Xây dựng cơ bản  
 
LỜI CẢM ƠN  
Trước tiên con xin cảm ơn tới bố mẹ - những người sinh thành ra con,  
những người có công ơn dưỡng dục, săn sóc, những người đã tiếp thêm động lực  
trong quá trình học tập, công tác của con; em xin cảm ơn tất cả các thầy cô ở  
trường đã cung cấp kiến thức cho em, đã tạo điều kiện cho em trong quá trình  
học tập cùng với đó là việc khơi gợi và truyền cảm hứng cho em để em có thêm  
hứng khởi hoàn thiện phần báo cáo thực tập.  
Em xin chân thành cảm ơn công ty TNHH Nexia STT – chi nhánh An  
Phát đã tạo điều kiện cho em thực tập và hoàn thành báo cáo thực tập này. Đặc  
biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo Trần Thị Thanh Thảo, cảm ơn  
Trường Đại học Quản lý & Công nghệ Hải Phòng cho em có cơ hội trình bày đề  
tài của mình. Em cũng mong nhận được lời nhận xét, góp ý từ nhà trường, từ  
phía Hội đồng phản biện để báo cáo của em hoàn thiện hơn.  
Sinh viên  
Bùi Thị Quỳnh Anh  
 
Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng  
LỜI MỞ ĐẦU  
Khóa luận tốt nghiệp  
Sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong điều kiện nền kinh tế thị  
trường đã tạo ra những bước phát triển các dịch vụ về tài chính, đặc biệt là dịch  
vụ kiểm toán báo cáo tài chính, tư vấn tài chính kế toán, thuế,… Tuy mới chỉ  
xuất hiện vào đầu thập niên 90 của thế kỷ XX với sự ra đời của các công ty kiểm  
toán độc lập song kiểm toán đã nhanh chóng chứng tỏ được vai trò đặc biệt quan  
trọng của mình trong việc tăng cường, nâng cao hiệu quả quản lý, lành mạnh  
hóa nền tài chính Việt Nam. Với chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến về thực  
trạng hoạt động của đơn vị được kiểm toán, kiểm toán tạo niềm tin cho các nhà  
đầu tư, các nhà quản trị doanh nghiệp, khách hàng và những người quan tâm,  
góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nền nếp hoạt động tài chính, kế toán  
nói riêng và hoạt động quản lý nói chung. Hơn hết, hoạt động kiểm toán góp  
phần nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý, từ đó đóng góp vào sự phát triển  
lâu dài của doanh nghiệp.  
Tiền là một loại tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp biểu hiện trực tiếp  
dưới hình thái giá trị. Trên Báo cáo tài chính, khoản mục tiền của doanh nghiệp  
có quan hệ với nhiều khoản mục khác như: Phải thu của khách hàng, phải trả  
người bán, hàng tồn kho, phải trả công nhân viên,… Vì vậy kiểm toán đối với  
tiền trong kiểm toán Báo cáo tài chính không thể tách rời việc kiểm toán đối với  
các khoản mục có liên quan. Mặt khác khả năng sai phạm đối với khoản mục  
tiền là rất lớn và khoản mục này thường được đánh giá là trọng yếu trong mọi  
cuộc kiểm toán, điều này càng làm cho việc kiểm toán đối với tiền trở nên quan  
trọng trong kiểm toán Báo cáo tài chính của doanh nghiệp.  
Nhận thức được vai trò quan trọng trong khoản mục vốn bằng tiền trong  
Báo cáo tài chính của doanh nghiệp, trong quá trình thực tập tại công ty TNHH  
Nexia Stt chi nhánh An Phát được sự giúp đỡ của các anh, các chị trong phòng  
kiểm toán Báo cáo tài chính, cùng với sự hướng dẫn của giảng viên hướng dẫn  
ThS Trần Thị Thanh Thảo em đã chọn đề tài cho Khóa luận tốt nghiệp là:  
Sinh viên Bùi Thị Quỳnh Anh  
1
Lớp QT2002K  
Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng  
Khóa luận tốt nghiệp  
“Hoàn thiện công tác kiểm toán vốn bằng tiền trong kiểm toán Báo  
cáo tài chính do công ty TNHH Nexia Stt chi nhánh An Phát thực hiện”.  
Nội dung báo cáo của em gồm 3 phần:  
Chương I: Lý luận chung về kiểm toán vốn bằng tiền trong kiểm toán  
Báo cáo tài chính  
Chương II: Quy trình kiểm toán vốn bằng tiền trong kiểm toán Báo  
cáo tài chính do Công ty TNHH Nexia Stt – Chi nhánh An Phát thực hiện  
Chương III: Giải pháp hoàn thiện hoạt động kiểm toán vốn bằng tiền  
trong kiểm toán Báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Nexia STT – Chi  
nhánh An Phát  
Do hạn chế về thời gian tìm hiểu và vốn kiến thức có thể bài viết còn  
những chỗ thiếu sót, em rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý từ phía các thầy  
cô giáo để bài viết của em trở nên hoàn thiện hơn.  
Sinh viên Bùi Thị Quỳnh Anh  
2
Lớp QT2002K  
Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng  
CHƯƠNG I:  
Khóa luận tốt nghiệp  
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN VỐN BẰNG TIỀN TRONG  
KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH  
1.1 Khái quát về vốn bằng tiền  
1.1.1 Khái niệm vốn bằng tiền  
Vốn bằng tiền của doanh nghiệp là tài sản tồn tại trực tiếp dưới hình thái  
giá trị bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và các khoản tiền đang  
chuyển.  
Trên bảng cân đối kế toán, vốn bằng tiền được phản ánh ở phần tài sản  
(Phần A: Tài sản ngắn hạn, khoản I: Tiền và các khoản tương đương tiền, mục  
1: Tiền). Vốn bằng tiền được trình bày trên bảng cân đối kế toán theo số tổng  
hợp và các nội dung chi tiết được công bố trong Bảng thuyết minh báo cáo tài  
chính. Dựa theo tính chất cất trữ của tiền thì người ta chia tiền thành ba loại:  
- Tiền mặt: Đây là số tiền được lưu trữ tại két của doanh nghiệp. Tiền mặt  
có thể là tiền Việt Nam đồng, là ngoại tệ các loại, là vàng, bạc, đá quý, kim khí  
quý, … có thể là ngân phiếu.  
- Tiền gửi ngân hàng: Đây là số tiền được lưu trữ tại ngân hàng của doanh  
nghiêp. Tiền gửi ngân hàng có thể gồm: tiền Việt Nam đồng, tiền ngoại tệ các  
loại, vàng bạc, đá quý, kim khí quý,…  
- Tiền đang chuyển: Đây là số tiền của doanh nghiệp đang trong quá trình  
“xử lý” như chuyển gửi vào ngân hàng, kho bạc, chuyển trả cho khách hàng,  
khách hàng thanh toán qua ngân hàng hoặc đường bưu điện nhưng doanh nghiệp  
chưa nhận được giấy báo của ngân hàng hay thông báo của bưu điện về việc  
hoàn thành nghiệp vụ. Tiền đang chuyển cũng có thể là tiền Việt Nam đồng  
nhưng cũng có thể là ngoại tệ các loại.  
Cách phân loại của tiền trên đây là cách thức phân loại phổ biến nhưng  
cũng là duy nhất được thể hiện trên Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Mỗi  
Sinh viên Bùi Thị Quỳnh Anh  
3
Lớp QT2002K  
         
Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng  
Khóa luận tốt nghiệp  
loại tiền mang những đặc điểm khác nhau và điều này ảnh hưởng tới đặc điểm  
quản lý đối với chúng cũng như quá trình kiểm soát, đối chiếu trong nội bộ của  
đơn vị. Trong kiểm toán đối với vốn bằng tiền, những đặc điểm trong quản lý  
đặc biệt là trong hạch toán tiền có ảnh hưởng quan trọng tới việc lựa chọn  
phương pháp kiểm toán như thế nào để có thể thu thập được bằng chứng kiểm  
toán đủ về số lượng và chất lượng về phần hành này.  
1.1.2 Nguyên tắc hạch toán vốn bằng tiền  
Theo điều 11 thông tư 200/2014/TT - BTC của Bộ Tài chính. Để quản lý  
tốt đối với vốn bằng tiền trên nhiều khía cạnh khác nhau, kế toán vốn bằng tiền  
cần tuân thủ những nguyên tắc hạch toán sau:  
- Kế toán phải mở sổ kế toán ghi chép hàng ngày liên tục theo trình tự  
phát sinh các khoản thu, chi, xuất, nhập tiền, ngoại tệ và tính ra số tồn tại quỹ và  
từng tài khoản ở ngân hàng tại mọi thời điểm để tiện cho việc kiểm tra đối chiếu.  
- Các khoản tiền do doanh nghiệp khác và cá nhân ký cược, ký quỹ tại  
doanh nghiệp được quản lý và hạch toán như tiền của doanh nghiệp.  
- Khi thu, chi phải có phiếu thu, phiếu chi và có đủ chữ ký theo quy định  
của chế độ chứng từ kế toán.  
- Kế toán phải theo dõi chi tiết tiền theo nguyên tệ. Khi phát sinh các giao  
dịch bằng ngoại tệ, kế toán phải quy đổi ngoại tệ ra Đồng Việt Nam theo nguyên  
tắc: Bên Nợ các tài khoản tiền áp dụng tỷ giá giao dịch thực tế; Bên Có các tài  
khoản tiền áp dụng tỷ giá ghi sổ bình quân gia quyền.  
- Tại thời điểm lập Báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật, doanh  
nghiệp phải đánh giá lại số dư ngoại tệ và vàng tiền tệ theo tỷ giá giao dịch thực  
tế.  
1.1.3 Đặc điểm của vốn bằng tiền ảnh hưởng tới quá trình kiểm toán  
Vốn bằng tiền bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển.  
Trong từng loại tiền trên lại bao gồm tiền Việt Nam, ngoại tệ các loại và vàng  
bạc, đá quý.  
Sinh viên Bùi Thị Quỳnh Anh  
4
Lớp QT2002K  
   
Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng  
Khóa luận tốt nghiệp  
Vốn bằng tiền là loại tài sản lưu động của doanh nghiệp được trình bày  
trước tiên trên Bảng cân đối kế toán. Khoản mục tiền thường đóng vai trò quan  
trọng trong quá trình phân tích về khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp.  
Nếu số dư tiền quá thấp chứng tỏ năng lực thanh toán tức thời gặp nhiều  
khó khăn, trong khi nếu số dư tiền quá cao lại chứng tỏ một điều không tốt vì sử  
dụng tiền trong quay vòng vốn không hiệu quả.  
Các nghiệp vụ về vốn bằng tiền thường phát sinh thường xuyên với số  
lượng lớn và có quy mô khác nhau. Mặc dù tiền có nhiều ưu điểm trong hoạt  
động thanh toán, kể cả trong quá trình bảo quản, sử dụng nhưng cũng chính điều  
này dẫn tới khả năng sai phạm tiềm tàng rất cao khi kiểm toán cần chú ý.  
Vốn bằng tiền có liên quan tới nhiều chu trình nghiệp vụ khác nhau. Điều  
này dẫn tới những ảnh hưởng của những sai phạm từ các khoản mục có liên  
quan trong chu trình tới khoản mục tiền và ngược lại.  
Mối quan hệ giữa vốn bằng tiền và các chu trình nghiệp vụ khác có liên  
quan.  
Tiền mặt, tiền  
gửi ngân hàng  
Chu kỳ tiền lương  
Chi phí nhân công  
trực tiếp, Chi phi  
sản xuất chung  
Phải trả cho công  
nhân viên  
Chi phí bán hàng,  
Chi phí quản lý  
doanh nghiệp  
Phải trả khác  
Sinh viên Bùi Thị Quỳnh Anh  
5
Lớp QT2002K  
Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng  
Khóa luận tốt nghiệp  
Chu kỳ mua hàng và trả tiền  
Phải trả cho người  
bán  
Hàng tồn kho, Mua  
hàng  
Tài sản cố định  
Chu kỳ bán hàng và thu tiền  
Tiền mặt, tiền  
gửi ngân hàng  
Phải thu của  
khách hàng  
Doanh thu bán  
hàng  
Chi phí tài  
chính  
Hàng bán bị trả  
lại  
Sinh viên Bùi Thị Quỳnh Anh  
6
Lớp QT2002K  
Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng  
Khóa luận tốt nghiệp  
Ngoài vốn bằng tiền, trong đơn vị còn có các khoản tương đương tiền – là  
những khoản đầu tư ngắn hạn có thời hạn thu hồi hoặc đáo hạn không quá 3  
tháng tính từ thời điểm khóa sổ lập báo cáo tài chính. Những khoản tương  
đương tiền dễ dàng chuyển đổi thành một lượng tiền xác định và không có nhiều  
rủi ro trong việc chuyển đổi nói trên nên tính linh hoạt và thanh khoản cũng rất  
cao. Vì vậy nó cũng tiềm ẩn rủi ro lớn.  
Trên báo cáo tài chính, các khoản vốn bằng tiền và tương đương tiền là  
những khoản mục quan trọng. Theo chế độ tài chính hiện hành, trên Bảng cân  
đối kế toán trình bày hai chỉ tiêu tổng quát “Tiền” và “Các khoản tương đương  
tiền”, còn chỉ tiêu về từng loại vốn bằng tiền (tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và  
tiền đang chuyển) được trình bày trong thuyết minh báo cáo tài chính. Ngoài ra,  
thông tin liên quan đến các luồng tiền thu, chi trong các lĩnh vực còn được trình  
bày trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ của đơn vị.  
Các chỉ tiêu về vốn bằng tiền và các khoản tương đương tiền cũng là  
thông tin liên quan đến phân tích, đánh giá khả năng thanh toán của đơn vị nên  
cũng thường dễ bị trình bày sai lệch phục vụ cho mục đích riêng.  
Đối với tiền đang chuyển  
Tiền đang chuyển phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện thanh toán với  
khách hàng, hay khi đã chuyển tiền vào ngân hàng mà chưa nhận được giấy báo  
của ngân hàng. Tuy các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến tiền đang chuyển  
không nhiều và phong phú như tiền mặt hay tiền gửi ngân hàng, song đây là  
khoản mục phát sinh thường xuyên và có quan hệ trực tiếp đến tiền gửi trong  
mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp và ngân hàng.  
Xuất phát từ những đặc điểm, chức năng và tính chất thường xuyên phát  
sinh của các loại tiền việc hạch toán ghi nhận thu – chi, và bảo quản tiền phải  
đảm bảo được:  
- Hàng ngày, kế toán tiền mặt phản ánh tình hình thu chi và tồn quỹ tiền mặt.  
Thường xuyên đối chiếu tiền mặt tồn quỹ thực tế với sổ sách, phát hiện và xử lý  
kịp thời các sai sót trong việc quản lý và sử dụng tiền mặt.  
Sinh viên Bùi Thị Quỳnh Anh  
7
Lớp QT2002K  
Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng  
Khóa luận tốt nghiệp  
- Kế toán tiền gửi phản ánh tình hình tăng, giảm và số dư tiền gửi ngân hàng  
hàng ngày, giám sát việc chấp hành chế độ thanh toán không dùng tiền mặt.  
Đồng thời phản ánh các khoản tiền đang chuyển, kịp thời phát hiện nguyên nhân  
làm cho tiền đang chuyển bị ách tắc để doanh nghiệp có biện pháp thích hợp,  
giải phóng nhanh tiền đang chuyển kịp thời.  
Với các đặc điểm nêu trên có thể thấy vốn bằng tiền là một khoản mục  
quan trọng nhưng lại dễ bị trình bày sai lệch, khả năng mất mát, gian lận lớn.  
Điều này dẫn tới trong bất cứ cuộc kiểm toán báo cáo tài chính nào thì kiểm toán  
vốn bằng tiền luôn là một nội dung quan trọng cho dù số dư của khoản mục tiền  
có thể là không trọng yếu. Và khi thực hiện kiểm toán tiền thì việc kiểm tra chi  
tiết đối với khoản mục cũng như là các nghiệp vụ phát sinh liên quan là vô cùng  
quan trọng và kiểm toán viên phải tập trung hơn bất cứ một thủ tục nào khác.  
Đối với tiền mặt, khả năng sai phạm thường có các trường hợp sau:  
- Tiền được ghi chép không có thực trong két tiền mặt.  
- Các khả năng chi khống, chi tiền quá giá trị thực bằng cách làm chứng từ  
khống, sửa chữa chứng từ khai chi tăng, giảm thu để biển thủ tiền.  
- Khả năng hợp tác giữa thủ quỹ và cá nhân làm công tác thanh toán hoặc trực  
tiếp với khách hàng để biển thủ tiền.  
- Khả năng mất mát tiền do điều kiện bảo quản, quản lý không tốt.  
- Khả năng sai sót do những nguyên nhân khác nhau dẫn tới khai tăng hoặc khai  
giảm khoản mục tiền mặt trên Bảng cân đối kế toán.  
- Đối với ngoại tệ, khả năng có thể ghi sai tỷ giá khi quy đổi với mục đích trục  
lợi khi tỷ giá thay đổi hoặc hạch toán sai do áp dụng sai nguyên tắc hạch toán  
ngoại tệ. Ngoài ra, các trường hợp sai phạm đối với tiền mặt Việt Nam đồng  
cũng có thể xảy ra với ngoại tệ.  
Đối với tiền gửi ngân hàng, khả năng xảy ra sai phạm thường thấp do cơ  
chế kiểm soát, đối chiếu đối với tiền gửi ngân hàng thường được đánh giá là khá  
chặt chẽ. Tuy nhiên vẫn có thể xảy ra các khả năng sai phạm sau đây:  
- Quên không tính tiền khách hàng.  
Sinh viên Bùi Thị Quỳnh Anh  
8
Lớp QT2002K  
Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng  
Khóa luận tốt nghiệp  
- Tính tiền khách hàng với giá trị thấp hơn giá trị do công ty ấn định.  
- Sự biển thủ tiền thông qua việc ăn chặn các khoản tiền thu từ khách hàng trước  
khi chúng được ghi vào sổ.  
- Thanh toán một hóa đơn nhiều lần.  
- Thanh toán phần lãi cho một phần tiền cao hơn hiện hành.  
- Khả năng hợp tác giữa nhân viên ngân hàng và nhân viên thực hiện giao dịch  
thường xuyên với ngân hàng.  
- Chênh lệch giữa số liệu theo ngân hàng và theo tính toán của kế toán ngân  
hàng tại đơn vị.  
Do tính chất và đặc điểm của tiền đang chuyển mà sai phạm đối với tiền  
đang chuyển có mức độ thấp nhất. Tuy nhiên khả năng sai phạm tiềm tàng của  
tiền đang chuyển cũng rất lớn:  
- Tiền bị chuyển sai địa chỉ.  
- Ghi sai số tiền chuyển vào ngân hàng, chuyển thanh toán.  
- Nộp vào tài khoản muộn và dùng tiền vào mục đích khác.  
1.2 Mục tiêu kiểm toán vốn bằng tiền  
Tổ chức thực hiện công việc kiểm toán đối với các thông tin về vốn bằng  
tiền và các khoản tương đương tiền có thể được kết hợp hoặc phải được tham  
chiếu với kiểm toán các chu kỳ có liên quan. Mục tiêu kiểm toán cụ thể gồm:  
- Kiểm tra, đánh giá tính hiệu lực của kiểm soát nội bộ trong quản lý các nghiệp  
vụ biến động của vốn bằng tiền và các khoản tương đương tiền, trên các khía  
cạnh: sự đầy đủ và thích hợp của các quy chế kiểm soát; sự hiện diện, tính  
thường xuyên, liên tục và tính hiện hữu của các quy chế kiểm soát nội bộ.  
- Kiểm tra và xác nhận về mức độ trung thực và hợp lý của các khoản mục về  
vốn bằng tiền và các khoản tương đương tiền trên báo cáo tài chính (trước hết là  
trên Bảng cân đối kế toán và Thuyết minh báo cáo tài chính), cụ thể trên các  
khía cạnh chủ yếu sau:  
+ Tính hiện hữu: các nghiệp vụ về vốn bằng tiền và các khoản tương đương tiền  
đã ghi trên sổ phải đảm bảo được hiện diện, liên tục. Tất cả số dư tiền mặt, tiền  
Sinh viên Bùi Thị Quỳnh Anh  
9
Lớp QT2002K  
 
Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng  
Khóa luận tốt nghiệp  
gửi ngân hàng, tiền đang chuyển có thực tại ngày lập bảng cân đối kế toán bằng  
cách đối chiếu với biên bản kiểm kê quỹ, xác nhận sổ phụ ngân hàng tại ngày  
lập bảng cân đối, kiểm tra sự tồn tại của số dư khoản tiền đang chuyển có về hết  
sau ngày kết thúc niên độ. Vì số dư này liên quan đến khả năng thanh toán nên  
doanh nghiệp thường khai báo tiền vượt quá số dư thực tế để che dấu tình hình  
tài chính thực hoặc thất thoát tài sản hoặc tiền bị chiếm dụng nên số thực tế nhỏ  
hơn số sổ sách.  
+ Quyền và nghĩa vụ: Xác nhận doanh nghiệp có quyền sở hữu về mặt pháp lý  
đối với các khoản tiền tại ngày lập bảng cân đối kế toán nhằm phản ánh đúng giá  
trị tài sản của doanh nghiệp.  
+ Tính đầy đủ: Xác nhận tất cả các nghiệp vụ liên quan đến tiền đều được phản  
ánh và ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán.  
+ Tính đúng kỳ: Các giao dịch và sự kiện được ghi nhận đúng kỳ kế toán. Các  
nghiệp vụ phát sinh phải được ghi nhận theo nguyên tắc kế toán dồn tích, tức là  
được ghi nhận vào kỳ kế toán mà chúng phát sinh mà không căn cứ vào sự phát  
sinh của dòng tiền.  
+ Tính chính xác: Tất cả các khoản mục thuộc vốn bằng tiền được cộng dồn, ghi  
chép, hạch toán một cách chính xác và đảm bảo sự nhất trí giữa sổ kế toán với  
báo cáo tài chính.  
+ Tính đánh giá: Số dư của tiền phải được ghi theo đúng giá trị có thể thực hiện  
được.  
+ Trình bày và công bố: Số dư vốn bằng tiền phản ánh trên báo cáo gồm tiền  
mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển phải được trình bày, phân loại và  
công bố đầy đủ trên các báo cáo tài chính theo đúng quy định chế độ và chuẩn  
mực kế toán. Các trường hợp tiền bị hạn chế sử dụng đều được khai báo đầy đủ.  
1.3 Căn cứ (nguồn số liệu) để kiểm toán vốn bằng tiền  
Sự vận động của vốn bằng tiền nằm trong sự quản lý của đơn vị; đồng  
thời tuân thủ các quy chế quản lý tiền tệ nói chung của nhà nước. Các quy chế  
của nhà nước và của đơn vị vừa là căn cứ để tổ chức quản lý, vừa là căn cứ để  
Sinh viên Bùi Thị Quỳnh Anh  
10  
Lớp QT2002K  
 
Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng  
Khóa luận tốt nghiệp  
kiểm toán viên xem xét đánh giá thực tiễn về quản lý vốn bằng tiền của đơn vị.  
Bản thân đơn vị dựa vào các chuẩn mực, chế độ, nguyên tắc kế toán để tổ chức  
theo dõi, hạch toán các nghiệp vụ kinh tế có liên quan, làm cơ sở để tổng hợp và  
báo cáo về các thông tin tài chính này.  
Công việc kiểm toán vốn bằng tiền và các khoản tương đương tiền phải  
dựa vào các nguồn tài liệu có liên quan đến quá trình hoạt động quản lý và hạch  
toán đối với vốn bằng tiền và các khoản tương đương tiền. Có thể khái quát  
những nguồn tài liệu, thông tin chủ yếu làm căn cứ kiểm toán gồm:  
- Các chính sách, chế độ liên quan đến quản lý tiền và các khoản tương đương  
tiền do nhà nước ban hành như: quy định về mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng;  
quy định về thanh toán qua ngân hàng; thanh toán không dùng tiền mặt; quy  
định về phát hành séc; quy định về quản lý và hạch toán ngoại tệ, vàng bạc, đá  
quý,…  
- Các quy định của hội đồng quản trị (hay ban giám đốc) đơn vị về trách nhiệm,  
quyền hạn, trình tự, thủ tục phê chuẩn, xét duyệt chi tiêu, sử dụng vốn bằng tiền;  
về phân công trách nhiệm giữ quỹ, kiểm kê – đối chiếu quỹ, báo cáo quỹ;…  
- Các báo cáo tài chính: Bảng cân đối kế toán, Thuyết minh báo cáo tài chính.  
- Các sổ hạch toán, bao gồm các sổ hạch toán nghiệp vụ (sổ quỹ, sổ theo dõi  
ngoại tệ,…) và các sổ kế toán tổng hợp, sổ kế toán chi tiết của các tài khoản liên  
quan trong hạch toán các nghiệp vụ về tiền và các khoản tương đương tiền  
(TK111,112,113,121,131,331,…)  
- Các chứng từ kế toán về các nghiệp vụ biến động tiền và các khoản tương  
đương tiền như: phiếu thu, phiếu chi, ủy nhiệm chi, giấy báo có, chứng từ  
chuyển tiền,…  
- Các hồ sơ tài liệu khác có liên quan đến tiền và các khoản tương đương tiền:  
hồ sơ về phát hành séc, hồ sơ về phát hành trái phiếu, biên bản về thanh toán  
công nợ,…  
Các nguồn tài liệu này cần thiết cho kiểm toán viên khi khảo sát để đánh  
giá về hoạt động kiểm soát nội bộ của đơn vị và kiểm tra, xác nhận về các thông  
Sinh viên Bùi Thị Quỳnh Anh  
11  
Lớp QT2002K  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 108 trang yennguyen 15240 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Hoàn thiện công tác kiểm toán vốn bằng tiền trong kiểm toán Báo cáo tài chính tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn sản xuất Long Dương do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nexia Stt – Chi nhánh An Phát thực hiện", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_hoan_thien_cong_tac_kiem_toan_von_bang_tien_trong.pdf