Khóa luận Đánh giá mức độ ô nhiễm nước thải sinh hoạt và đề xuất biện pháp cải thiện môi trường tại khu nhà ở công nhân Đồng Rì thuộc Công ty TNHH MTV 45 – Tổng công ty Đông Bắc, Bắc Giang

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
MA ĐÌNH TUẤN  
Tên đề tài:  
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ Ô NHIỄM NƯỚC THẢI SINH HOẠT VÀ ĐỀ  
XUẤT BIỆN PHÁP CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG TẠI KHU NHÀ Ở  
CÔNG NHÂN ĐỒNG RÌ THUỘC CÔNG TY TNHH MTV 45 –  
TỔNG CÔNG TY ĐÔNG BẮC, BẮC GIANG  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
: Chính quy  
Chuyên ngành : Kinh tế tài nguyên thiên nhiên  
Khoa  
: Môi Trường  
Khóa học  
: 2015 - 2019  
Thái Nguyên - 2019  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
MA ĐÌNH TUẤN  
Tên đề tài:  
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ Ô NHIỄM NƯỚC THẢI SINH HOẠT VÀ ĐỀ  
XUẤT BIỆN PHÁP CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG TẠI KHU NHÀ Ở  
CÔNG NHÂN ĐỒNG RÌ THUỘC CÔNG TY TNHH MTV 45 –  
TỔNG CÔNG TY ĐÔNG BẮC, BẮC GIANG  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính quy  
: Kinh tế tài nguyên thiên nhiên  
: K47 -KTTNTN  
: Môi trường  
Khoa  
Khóa học  
: 2015 - 2019  
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Hoàng Quý Nhân  
Thái Nguyên - 2019  
i
LỜI CẢM ƠN  
Kết thúc bốn năm học tập, nghiên cứu và rèn luyện trong mái trường  
đại học, bản thân em đã tiếp thu được nhiều kiến thức bổ ích về chuyên môn  
và khoa học. Trong đợt thực tập tốt nghiệp này em đã tiến hành nghiên cứu và  
viết đề tài với tiêu đề “Đánh giá mức độ ô nhiễm nước thải sinh hoạt và đề  
xuất biện pháp cải thiện môi trường tại khu nhà ở công nhân Đồng Rì  
thuộc công ty TNHH MTV 45 Bắc Giang- Tổng Công Ty Đông Bắc”. Trong  
thời gian thực tập và làm báo cáo tốt nghiệp, em xin chân thành cảm ơn cô  
giáo Ths Hoàng Quý Nhân đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành đề  
tài này. Bên cạnh đó, em cũng xin cảm ơn các cán bộ viện Kỹ Thuât và Công  
Nghệ Môi Trường đã tạo điều kiện cho em được đi thực tập và nghiên cứu đề  
tài. Nhân dịp này em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy giáo,  
cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, những người đã trực tiếp  
giảng dạy, truyền đạt những kiến thức bổ ích cho em, đó chính là những nền  
tảng cơ bản, những hành trang vô cùng quý giá cho sự nghiệp tương lai của  
em sau này. Trong quá trình thực tập và làm báo cáo, vì chưa có kinh nghiệm  
thực tế và thời gian hạn hẹp nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Kính  
mong nhận được sự góp ý, nhận xét từ phía các thầy, cô và các bạn để khóa  
luận này được hoàn thiện hơn.  
Em xin chân thành cảm ơn !  
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019  
Sinh viên  
Ma Đình Tuấn  
 
ii  
MỤC LỤC  
 
iii  
v
DANH MỤC CÁC BẢNG  
 
1
PHẦN 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Rất nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng nước chiếm 3/4 diện tích trái  
đất cơ mà. Sao chúng ta lại phải lo thiếu nước? Nhưng các bạn có biết rằng  
3/4 hay 75% nước đó lại chứa tới 97% là nước mặn ở các đại dương, cái mà  
chúng ta không thể sử dụng được cho những mục đích hàng ngày được. Đó là  
chưa kể đến 99.7% trong số 3% nước ngọt lại tồn tại ở dạng băng đá và tuyết.  
Vậy chỉ còn 0.3% trong tổng số 3/4 kia là nước ngọt mà chúng ta có thể sử  
dụng cho mục đích sinh hoạt của mình được. Quá là ít phải không nào?  
Mặc dù lượng nước ngọt ít là vậy nhưng hàng ngày chúng ta vẫn đang  
luôn làm cho nó ít hơn bằng sự vô tâm trong cách sử dụng nước một cách  
hoang phí và làm ô nhiễm nguồn nước.  
Hiện nay công nghiệp phát triển kéo theo đó là việc thải ra môi trường  
một lượng lớn nước thải. Nếu lượng nước thải này không được xử lý một  
cách bài bản thì việc ô nhiễm nguồn nước là điều khó tránh khỏi. Báo chí đã  
phanh phui rất nhiều những doanh nghiệp vì không muốn bỏ ra một số tiền  
lớn xử lý nước thải đã cố tình che dấu việc thải trực tiếp nước sau sản xuất ra  
tự nhiên. Điều này sẽ dẫn đến việc ô nhiễm nguồn nước xung quanh và trực  
tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân xung quanh đó.  
Theo Giấy chứng nhận đầu tư số 20121000409 ngày 29 tháng 10 năm  
2017 của UBND tỉnh Bắc Giang chứng nhận cho Tổng Công ty Đông Bắc:  
Đầu tư xây dựng khu nhà ở công nhân Đồng Rì. Tuy nhiên trong quá trình  
sinh hoạt ở khu tập thể thải ra một lượng rất lớn nước thải sinh hoạt của cán  
bộ và công nhân, viên chức vào môi trường, gây ra sự ảnh hưởng tiêu cực,  
mùi hôi thối, gây hại cho hệ sinh thái, sức khỏe con người, cảnh quan và cuộc  
sống của khu vực xung quanh.  
   
2
Xuất phát từ những vấn đề cấp bách trên, được sự nhất trí của Ban giám hiệu  
nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Môi trường- Trường Đại học Nông Lâm  
Thái Nguyên, được sự hướng dẫn của thầy Ths. Hoàng Quý Nhân em xin đề  
xuất nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá mức độ ô nhiễm nước thải sinh hoạt và  
đề xuất biện pháp cải thiện môi trường tại khu nhà ở công nhân Đồng Rì  
thuộc công ty TNHH MTV 45 - Tổng Công Ty Đông Bắc, Bắc Giang”.  
1.2. Mục đích của đề tài  
- Thông qua nghiên cứu đề tài đánh giá được hiện trạng nước thải sinh  
hoạt tại khu nhà ở công nhân Đồng Rì Công Ty TNHH MTV 45- Bắc Giang.  
- Xác định mức độ ô nhiễm và nguồn gây ô nhiễm nguồn nước thải.  
- Tìm hiểu công nghệ xử lý nước thải tại công ty.  
- Đề xuất một số biện pháp xử lý nhằm, giảm thiểu ô nhiễm đối với môi  
trường nước.  
1.3. Yêu cầu của đề tài  
- Phản ánh đúng hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại khu nhà ở  
công nhân Đồng Rì Công Ty TNHH MTV 45- Bắc Giang.  
- Đảm bảo tài liệu, số liệu đầy đủ, trung thực, khách quan.  
- Kết quả phân tích các thông số về chất lượng nước chính xác.  
- Đảm bảo những kiến nghị, đề nghị đưa ra tính khả thi, phù hợp với  
điều kiện địa phương.  
1.4. Ý nghĩa của đề tài  
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Giúp bản thân em có  
cơ hội tiếp cận với cách thức thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học, giúp  
em vận dụng kiến thức đã học vào thực tế và rèn luyện về kỹ năng tổng hợp  
và phân tích số liệu, tiếp thu và học hỏi những kinh nghiệm từ thực tế.  
     
3
- Ý nghĩa trong thực tiễn:  
+ Tăng cường trách nhiệm của ban lãnh đạo công ty trước hoạt động sản  
xuất đến môi trường; Từ đó có hoạt động tích cực trong việc xử lý nước thải.  
+ Cảnh báo nguy cơ tiềm tàng về ô nhiễm suy thoái môi trường nước  
do nước thải gây ra, ngăn ngừa và giảm thiểu ảnh hưởng của nước thải đến  
môi trường, bảo vệ sức khoẻ của người dân khu vực quanh công ty.  
4
PHẦN 2  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài  
2.1.1. Khái niệm về môi trường, ô nhiễm môi trường  
* Khái niệm môi trường:  
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo  
quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống,  
sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên. (Theo luật bảo vệ  
môi trường 2014)  
- Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:  
+ Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá  
học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu  
tác động của con người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí,  
động, thực vật, đất, nước... Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất  
để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại  
tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng  
hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con  
người thêm phong phú.  
+ Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó  
là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định... ở các cấp khác nhau  
như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng  
xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể,... Môi  
trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất  
định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống  
của con người khác với các sinh vật khác.  
     
5
- Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao  
gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong  
cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên  
nhân tạo...  
- Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội  
cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên  
nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội...  
- Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà  
chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng  
cuộc sống con người. Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với  
thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm,  
vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ  
tộc, làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng  
vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật  
pháp, nghị định, thông tư, quy định.  
- Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở  
để sống và phát triển.  
- Khái niệm ô nhiễm môi trường  
Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi  
phạm tiêu chuẩn môi trường. Chất gây ô nhiễm là những nhân tố làm cho môi  
trường trở thành độc hại. Thông thường tiêu chuẩn môi trường là những  
chuẩn mực, giới hạn cho phép được quy định dùng làm căn cứ để quản lí môi  
trường. Sự ô nhiễm môi trường có thể là hậu quả của các hoạt động tự nhiên,  
như hoạt động núi lửa, bão lũ,…. hoặc các hoạt động do con người thực hiện  
trong công nghiệp, giao thông và trong sinh hoạt (Nguồn:“Pollution -  
webster.com. Ngày 13 tháng 8 năm 2010)  
6
* Ô nhiễm môi trường nước  
Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và chất lượng nước không đáp  
ứng được cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu chuẩn cho phép  
và có ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật.  
Nước trong tự nhiên tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: nước  
cống, nước ở các sông hồ, tồn tại ở thể hơi trong không khí. Nước bị ô nhiễm  
nghĩa là thành phần của nó tồn tại các chất khác, mà các chất này có thể gây  
hại cho con người và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên. Nước ô nhiễm  
thường là khó khắc phục mà phải phòng tránh từ đầu.  
Trong quá trình sinh hoạt hàng ngày, dưới tốc độ phát triển như hiện  
nay con người vô tình làm ô nhiễm nguồn nước bằng các hóa chất, chất  
thải từ các nhà máy, xí nghiệp. Các đơn vị cá nhân sử dụng nước ngầm dưới  
hình thức khoan giếng, sau khi ngưng không sử dụng không bịt kín các lỗ  
khoan lại làm cho nước bẩn chảy lẫn vào làm ô nhiễm nguồn nước ngầm. Các  
nhà máy xí nghiệp xả khói bụi công nghiệp vào không khí làm ô nhiễm không  
khí, khi trời mưa, các chất ô nhiễm này sẽ lẫn vào trong nước mưa cũng góp  
phần làm ô nhiễm nguồn nước.  
Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa: "Ô nhiễm nước là sự biến  
đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và  
gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, cho động vật  
nuôi và các loài hoang dã." (Theo Báo cáo khoa học ô nhiễm nước và hậu quả  
của nó, 11-2009)  
+ Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ  
lụt đưa vào môi trường nước các chất thải bẩn, các sinh vật có hại kể cả xác  
chết của chúng.  
7
+ Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: quá trình thải các chất độc hại  
chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông  
nghiệp, giao thông vào môi trường nước.  
+ Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô  
nhiễm nước: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm sinh học, ô  
nhiễm bởi các tác nhân vật lý.  
+ Ô nhiễm nước mặn, ô nhiễm nước ngầm và biển.  
Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý, hoá  
học, sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho  
nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật. Làm giảm độ đa dạng  
sinh vật trong nước. Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô  
nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất.  
Ô nhiễm nước xảy ra khi nước bề mặt chảy qua rác thải sinh hoạt, nước  
rác công nghiệp, các chất ô nhiễm trên mặt đất, rồi thấm xuống nước ngầm.  
Hiện tượng ô nhiễm nước xảy ra khi các loại hoá chất độc hại, các loại vi  
khuẩn gây bệnh, virut, ký sinh trùng phát sinh từ các nguồn thải khác nhau  
như chất thải công nghiệp từ các nhà máy sản xuất, các loại rác thải của các  
bệnh viện, các loại rác thải sinh hoạt bình thường của con người hay hoá chất,  
thuốc trừ sâu, phân bón hữu cơ... sử dụng trong sản xuất nông nghiệp được  
đẩy ra các ao, hồ, sông, suối hoặc ngấm xuống nước dưới đất mà không qua  
xử lý hoặc với khối lượng quá lớn vượt quá khả năng tự điều chỉnh và tự làm  
sạch của các loại ao, hồ, sông, suối. (Nguồn: Theo Báo cáo khoa học ô nhiễm  
nước và hậu quả của nó, 11-2009)  
2.1.2. Khái niệm và thành phần nước thải sinh hoạt  
- Khái niệm nước thải  
Nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình sử dụng của con người  
và đã bị thay đổi tính chất ban đầu của chúng.  
 
8
- Khái niệm nguồn nước thải  
Thông thường nước thải được phân loại theo nguồn gốc phát sinh ra chúng.  
Đó cũng là cơ sở cho việc lựa chọn các biện pháp hoặc công nghệ xử lý. Theo  
cách phân loại này, có các loại nước thải dưới đây:  
* Nước thải sinh hoạt: là nước thải từ các khu dân cư, khu vực hoạt  
động thương mại, công sở, trường học và các cơ sở tương tự khác.  
* Nước thải công nghiệp: là nước thải từ các nhà máy đang hoạt động,  
có cả nước thải sinh hoạt nhưng trong đó nước thải công nghiệp là chủ yếu.  
* Nước thải tự nhiên: nước mưa được xem như nước thải tự nhiên. Ở  
những thành phố hiện đại nước thải tự nhiên được thu gom theo một hệ thống  
thoát riêng.  
* Nước thải đô thị: là thuật ngữ chung chỉ chất lỏng trong hệ thống  
cống thoát của một thành phố. Nước thải đô thị có thể bao gồm tất cả nước  
thải kể trên  
2.1.3. Cơ sở pháp lý  
- Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH được Quốc hội nước Cộng  
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày  
23/6/2014.  
- Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 đã được Quốc hội nước  
CHXH CNVN khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/6/2012, có hiệu lực  
thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2013.  
- Nghị định số 80/2014/NĐ – CP ngày 6 tháng 8 năm 2014 Nghị định  
Chính phủ về thoát nước và xử lý nước thải.  
- Nghị định 201/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2013 của Chính  
phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật tài nguyên nước.  
- Thông tư 27/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 5 năm 2014 của Bộ Tài  
nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện Nghị định 149/2004/NĐ-CP ngày 27  
 
9
tháng 7 năm 2004 của Chính phủ quy định việc đăng ký khai thác nước dưới đất,  
mẫu hồ sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh, cấp lại giấy phép tài nguyên nước.  
- Thông tư số 02/2009/TT-BTNMT ngày 19/03/2009 hướng dẫn đánh  
giá khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước.  
- Thông tư số 56/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường  
quy định điều kiện về năng lực của tổ chức, cá nhân thực hiện điều tra cơ bản tài  
nguyên nước, tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước, lập đề án, báo cáo trong hồ  
sơ đề nghị cấp giấy phép về tài nguyên nước ngày 24 tháng 09 năm 2014.  
- Quyết định 768/2014/QĐ-UBND tỉnh Bắc Giang ngày 18 tháng 11  
năm 2014 Ban hành Quy định một số nội dung về quản lý tài nguyên nước  
trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.  
* Các tiêu chuẩn, quy chuẩn  
- QCVN 14:2015/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nước thải  
sinh hoạt.  
- QCVN 08-MT:2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất  
lượng nước mặt.  
* Các thông tin, tài liệu khác  
- Đề án Bảo vệ môi trường chi tiết của khu nhà ở công nhân Đồng Rì.  
- Báo cáo kết quả quan trắc, phân tích, đánh giá hiện trạng môi trường  
của khu nhà ở công nhân Đồng Rì.  
- Hồ sơ thiết kế, vận hành trạm xử lý nước thải sinh hoạt của khu nhà ở  
công nhân Đồng Rì.  
- Kết quả khảo sát thực địa và các số liệu đo đạc, phân tích nước tại các  
nguồn thải và nguồn tiếp nhận do cơ quan tư vấn tiến hành tại khu nhà ở công  
nhân Đồng Rì, tháng 7 năm 2017.  
- Tài liệu về khí hậu, điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực  
thôn Nòn, thị trấn Thanh Sơn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.  
10  
- Các tài liệu liên quan đến khu nhà ở công nhân Đồng Rì bao gồm:  
Bản vẽ tổng mặt bằng, bản thiết kế hệ thống thoát nước và xử lý nước thải,...  
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài  
2.2.1. Tài nguyên nước trên thế giới  
Nước bảo phủ 71% diện tích của quả đất trong đó có 97% là nước mặn,  
còn lại là nước ngọt. Trong 3% lượng nước ngọt của quả đất thì có khoảng  
hơn 3/4 lượng nước mà con người không sử dụng được vì nó nằm quá sâu  
trong lòng đất, bị đóng băng, ở dạng hơi trong khí quyển và ở dạng tuyết trên  
lục địa… chỉ có 0,5% nước ngọt hiện diện trong sông, suối, ao, hồ mà con  
người đã và đang sử dụng. Theo sự tính toán thì khối lượng ở trạng thái tự do  
phủ lên trái đất khoảng 1,4 tỉ 푘푚3, nhưng so với trữ lượng nước ở lớp vỏ giữa  
của quả đất (khoảng 200tỉ km3) thì chẳng đáng kể vì nó chiếm không đến 1%.  
Tổng lượng nước tự nhiên trên thế giới theo ước tính có khác nhau theo các  
tác giả và dao động từ 1.385.985.000 km3 đến 1.457.802.450km3. (Theo  
Lvovits, Xokolov-1974)  
Bảng 2.1. Trữ lượng nước trên thế giới  
Loại nước  
Biển và đại dương  
Trữ lượng (km3)  
1.370.322.000  
Nước ngầm  
60.000.000  
26.660.000  
125.000  
105.000  
75.000  
Băng và băng hà  
Hồ nước ngọt  
Hồ nước mặn  
Khí ẩm trong đất  
Hơi nước trong không khí  
Nước sông  
14.000  
1.000  
Tuyết trên lục địa  
250  
(Theo F. Sargent, 1974)  
     
11  
* Tình hình sử dụng nước trên thế giới  
Khi con người bắt đầu trồng trọt và chăn nuôi thì đồng ruộng dần dần  
phát triển ở miền đồng bằng màu mỡ, kề bên lưu vực các con sông lớn. Lúc  
đầu cư dân còn ít và nước thì đầy ắp trên các sông hồ, đồng ruộng, cho dù có  
gặp thời gian khô hạn kéo dài thì cũng chỉ cần chuyển cư không xa lắm là tìm  
được nơi ở mới tốt đẹp hơn. Vì vậy, nước được xem là nguồn tài nguyên vô  
tận và cứ như thế qua một thời gian dài, vấn đề nước chưa có gì là quan trọng.  
Nhu cầu về nước trong công nghiệp: Sự phát triển càng ngày càng cao  
của nền công nghiệp trên toàn thế giới càng làm tăng nhu cầu về nước, đặc  
biệt đối với một số ngành sản xuất như chế biến thực phẩm, dầu mỏ, giấy,  
luyện kim, hóa chất... chỉ 5 ngành sản xuất này đã tiêu thụ ngót 90% tổng  
lượng nước sử dụng cho công nghiệp.Phần nước tiêu hao không hoàn lại do  
sản xuất công nghiệp chiếm khoảng từ 1-2% tổng lượng nước tiêu hao không  
hoàn lại và lượng nước còn lại sau khi đã sử dụng được quay về sông hồ dưới  
dạng nước thải chứa đầy những chất gây ô nhiễm  
Nhu cầu về nước trong nông nghiệp: Sự phát triển trong sản xuất nông  
nghiệp như sự thâm canh tăng vụ và mở rộng diện tích đất canh tác cũng đòi  
hỏi một lượng nước ngày càng cao. Phần lớn nhu cầu về nước được thỏa mãn  
nhờ mưa ở vùng có khí hậu ẩm, nhưng cũng thường được bổ sung bởi nước  
sông hoặc nước ngầm bằng biện pháp thủy lợi nhất là vào mùa khô.  
Nhu cầu về nước Sinh hoạt và giải trí: Theo sự ước tính thì các cư dân  
sinh sống kiểu nguyên thủy chỉ cần 5-10 lít nước/ người/ ngày. Ngày nay, do  
sự phát triển của xã hội loài người ngày càng cao nên nhu cầu về nước sinh  
hoạt và giải trí ngày cũng càng tăng theo nhất là ở các thị trấn và ở các đô thị  
lớn, nước sinh hoạt tăng gấp hàng chục đến hàng trăm lần nhiều hơn. Theo sự  
ước tính đó thì đến năm 2000, nhu cầu về nước sinh hoạt và giải trí sẽ tăng  
gần 20 lần so với năm 1900, tức là chiếm 7% tổng nhu cầu nước trên thế giới.  
12  
Ngoài ra, còn rất nhiều nhu cầu khác về nước trong các hoạt động khác của  
con người như giao thông vận tải, giải trí ở ngoài trời như đua thuyền, trượt  
ván, bơi lội... Nhu cầu này cũng ngày càng tăng theo sự phát triển của xã hội.  
(Theo Cao Liêm, Trần Đức Viên-1990).  
* Hiện trạng về ô nhiễm nguồn nước trên thế giới  
Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh  
hoạt đổ ra sông hồ và biển cả, 70% lượng0 chất thải công nghiệp không qua xử  
lý bị trực tiếp đổ vào các nguồn nước tại các quốc gia đang phát triển. Đây là  
thống kê của Viện Nước quốc tế (SIWI) được công bố tại Tuần lễ Nước thế  
giới (World Water Week) khai mạc tại Stockholm, thủ đô Thụy Điển ngày 5/9.  
Thực tế trên khiến nguồn nước dùng trong sinh hoạt của con người bị ô nhiễm  
nghiêm trọng. Thiếu vệ sinh và thiếu nước sạch là nguyên nhân gây tử vong  
cho hơn 1,6 triệu trẻ em mỗi năm. Tổ chức Lương Nông LHQ (FAO) cảnh báo  
trong 15 năm tới sẽ có gần 2 tỷ người phải sống tại các khu vực khan hiếm  
nguồn nước và 2/3 cư dân trên hành tinh có thể bị thiếu nước. 17 triệu trẻ em  
chưa được sử dụng nước sạch. Theo báo cáo mới nhất của Liên hiệp quốc, đến  
năm 2050, nhu cầu lương thực tăng 70% và nhu cầu nước tăng 19%. Lúc đó,  
cần huy động đến 90% nguồn nước trên thế giới. Trong khi đó, sự phân bố và  
sử dụng nguồn nước đang bộc lộ nhiều điểm bất hợp lý. Tổng giám đốc  
UNESCO Irina Bokova, một trong thành viên trong Ban soạn thảo báo cáo nói:  
“Việc sử dụng các nguồn nước hiện không hợp lý. Trong tương lai, sự bất bình  
đẳng càng sâu sắc hơn, những nguy cơ còn lớn hơn”. Khu vực đang chịu nhiều  
thách thức nhất thế giới hiện nay là các nước Mỹ Latin và Caribbean. Các  
thách thức nghiêm trọng liên quan đến nước mà khu vực này đang phải đối mặt  
xuất phát từ biến đổi khí hậu, thủy học, hoạt động quản lý và xử lý nguồn nước.  
(Theo tài nguyên nước và hiện trạng sử dụng nước, 2013).  
13  
2.2.2. Tài nguyên nước ở Việt Nam  
Nước ta có 108 lưu vực sông với khoảng 3450 sông, suối tương đối lớn  
(chiều dài từ 10km trở lên), trong đó có 9 hệ thống sông lớn (diện tích lưu vực  
lớn hơn 10.000km2), bao gồm: Hồng, Thái Bình, Bằng Giang - Kỳ Cùng, Mã,  
Cả, Vu Gia - Thu Bồn, Ba, Đồng Nai và sông Cửu Long. Tổng lượng nước  
mặt trung bình hằng năm khoảng 830-840 tỷ m3, trong đó hơn 60% lượng  
nước được sản sinh từ nước ngoài, chỉ có khoảng 310-320 tỷ m3 được sản  
sinh trên lãnh thổ Việt Nam. Lượng nước bình quân đầu người trên 9.000  
m3/năm. Nước dưới đất cũng có tổng trữ lượng tiềm năng khoảng 63 tỷ  
m3/năm, phân bố ở 26 đơn vị chứa nước lớn, nhưng tập trung chủ yếu ở Đồng  
bằng Bắc Bộ, Nam Bộ và khu vực Tây Nguyên.  
Về hồ chứa, có khoảng 2.900 hồ chứa thủy điện, thủy lợi tương đối lớn  
(dung tích từ 0,2 triệu m3 trở lên) đã vận hành, đang xây dựng hoặc đã có quy  
hoạch xây dựng, với tổng dung tích các hồ chứa trên 65 tỷ m3. Trong đó, có  
khoảng 2.100 hồ đang vận hành, tổng dung tích hơn 34 tỷ m3 nước; khoảng  
240 hồ đang xây dựng, tổng dung tích hơn 28 tỷ m3, và trên 510 hồ đã có quy  
hoạch, tổng dung tích gần 4 tỷ m3. Các hồ chứa thủy điện mặc dù với số  
lượng không lớn, nhưng có tổng dung tích khoảng 56 tỷ m3 nước (chiếm 86%  
tổng dung tích trữ nước của các hồ chứa). Trong khi đó, trên 2000 hồ chứa  
thủy lợi nêu trên chỉ có dung tích trữ nước khoảng gần 9 tỷ m3 nước, chiếm  
khoảng 14%. Các lưu vực sông có dung tích hồ chứa lớn gồm: sông Hồng  
(khoảng 30 tỷ m3); sông Đồng Nai (trên 10 tỷ m3); sông Sê San (gần 3,5 tỷ  
m3); sông Mã, sông Cả, sông Hương, sông Vũ Gia - Thu Bồn và sông Srêpok  
(có tổng dung tích hồ chứa từ gần 2 tỷ m3 đến 3 tỷ m3).  
Tổng lượng nước đang được khai thác, sử dụng hàng năm khoảng 81 tỷ  
m3, xấp xỉ 10% tổng lượng nước hiện có trung bình hàng năm của cả nước.  
Trong đó, lượng nước sử dụng tập trung chủ yếu vào 7 - 9 tháng mùa cạn, khi  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 57 trang yennguyen 24360 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá mức độ ô nhiễm nước thải sinh hoạt và đề xuất biện pháp cải thiện môi trường tại khu nhà ở công nhân Đồng Rì thuộc Công ty TNHH MTV 45 – Tổng công ty Đông Bắc, Bắc Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_danh_gia_muc_do_o_nhiem_nuoc_thai_sinh_hoat_va_de.pdf