Khóa luận Đánh giá diễn biến chất lượng nước sông Cầu trên địa bàn phường Cam Giá, thành phố Thái Nguyên trong quý I năm 2018

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
NGUYỄN DUY NAM  
Tên đề tài:  
ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG CẦU  
TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG CAM GIÁ, THÀNH PHỐ  
THÁI NGUYÊN TRONG QUÝ I NĂM 2018  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Khoa  
: Chính quy  
: Khoa học môi trường  
: Môi trường  
Khóa học  
: 2014 - 2018  
Thái Nguyên, năm 2018  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
NGUYỄN DUY NAM  
Tên đề tài:  
ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG CẦU  
TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG CAM GIÁ, THÀNH PHỐ  
THÁI NGUYÊN TRONG QUÝ I NĂM 2018  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính quy  
: Khoa học môi trường  
: K46 – KHMT- N03  
: Môi trường  
Khoa  
Khóa học  
: 2014 - 2018  
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS. Trần Văn Điền  
Thái Nguyên, năm 2018  
i
LỜI CẢM ƠN  
Để hoàn thành tốt chương trình đào tạo trong nhà trường với phương châm  
học đi đôi với hành, mỗi sinh viên sau khi ra trường cần phải chuẩn bị cho mình  
lượng kiến thức cần thiết, chuyên môn vững vàng.  
Thời gian thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cần thiết đối với mỗi sinh viên  
trong các trường đại học, nhằm hệ thống lại toàn bộ chương trình đã học, vận dụng  
lý thuyết vào thực tiễn.Qua đó sinh viên khi ra trường sẽ hoàn thành về kiến thức, lý  
luận, phương pháp làm việc, năng lực công tác, nhằm đáp ứng nhu cầu của thực tiễn  
và nghiên cứu khoa học.  
Được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Môi trường, em được phân công về  
thực tập tại khoa Môi trường , Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, với đề tài :  
‘‘Đánh giá diễn biến chất lượng nước sông Cầu trên địa bàn phường Cam Giá, thành  
phố Thái Nguyên trong quý I năm 2018”.Kết thúc thực tập hoàn thành đề tài tốt  
nghiệp cũng là hoàn thành khóa học, nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các  
Thầy giáo, Cô giáo trong khoa Môi trường đã truyền đạt kiến thức quý báu trong  
suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.  
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn tới Thầy giáo,PGS.TS.Trần Văn Điền đã  
nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn em hoàn thành đề tài tốt nghiệp này. Mặc dù bản thân đã  
có nhiều cố gắng, song do kiến thức và thời gian có hạn, bước đầu làm quen với  
phương pháp nghiên cứu, nên khóa luận của em không tránh khỏi những hạn chế và  
thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy, cô giáo, bạn bè động viên  
để khóa luận của em được hoàn chỉnh hơn.  
Em xin chân thành cảm ơn !  
Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2018  
Sinh viên  
Nguyễn Duy Nam  
 
ii  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
Viết đầy đủ  
Chữ viết tắt  
CSDL  
DO  
: Cơ sở dữ liệu  
: Oxy hòa tan  
EC  
: Độ dẫn điện  
LVS  
: Lưu vực sông  
ORP  
PTN  
: Thế oxy hóa khử  
: Phòng thí nghiệm  
QCVN  
QĐ  
: Quy chuẩn Việt Nam  
: Quyết định  
Sensor  
SOP  
: Đầu đo cảm biến  
: Quy trình thao thác chuẩn  
: Tiêu chuẩn Việt Nam  
: Trung tâm quan trắc Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên  
: Độ đục  
TCVN  
TTQT  
Turb  
v
MỤC LỤC  
2.2. Hiện trạng tài nguyên nước.................................................................................14  
1
PHẦN 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Tính cấp thiết của đề tài  
Trong những năm qua Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể về  
kinh tế, tốc độ phát triển kinh tế cao vì thế nhu cầu khai thác sử dụng nguồn  
nước phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt cũng ngày càng tăng. Tuy nhiên, việc  
khai thác, sử dụng không đi kèm với công tác bảo vệ, phát triển bền vững thì  
trong tương lai tình trạng suy thoái cạn kiện nguồn nước là hậu quả không thể  
tránh khỏi. Để phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững thì công tác bảo vệ  
môi trường, bảo vệ tài nguyên nước cần được chú trọng. Thái Nguyên có mạng  
lưới sông ngòi khá dày. Trong đó, đáng kể nhất là dòng sông Cầu, bởi đại bộ  
phận lãnh thổ thuộc hệ thống con sông này, cứ 1km² lại có 0,93km sông.  
Sông Cầu chảy từ Bắc xuống Nam tỉnh, phân chia lãnh thổ thành 2 khu  
vực có hướng dòng chảy khác nhau. Phía Tây là các phụ lưu thuộc hữu ngạn  
sông Cầu, gồm các sông Chợ Chu, sông Đu, đều có hướng Tây Bắc – Đông  
Nam phù hợp với hướng địa hình. Phía tả ngạn có sông Nghinh Tường, sông  
Huống Thượng đều có hướng Đông Bắc – Tây Nam.Các phụ lưu tả và hữu  
sông Cầu đã làm cho sông Cầu ở Thái Nguyên có hình dạng lông chim rõ rệt.  
Hình lông chim khiến lũ sông Cầu không quá đột ngột.  
Sông Cầu đã làm nên nét văn hóa đặc trưng của vùng Trung du miền núi  
và vùng đồng bằng Bắc Bộ; là con sông huyết mạch giao thông đường thủy  
gắn kết kinh tế - văn hóa giữa các địa phương. Lưu vực sông Cầu là một trong  
những lưu vực sông lớn ở Việt Nam, có vị trí địa lý đặc biệt, đa dạng và phong  
phú về tài nguyên cũng như về lịch sử phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh  
trong lưu vực của nó. Lưu vực sông Cầu hằng năm cung cấp hàng trăm triệu  
mét khối nước để phục vụ sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân và có  
chức năng giữ cân bằng hệ sinh thái và cảnh quan thiên nhiên toàn khu vực…  
     
2
Tuy nhiên, trong quá trình khai thác nguồn tài nguyên phát triển kinh tế,  
lưu vực sông Cầu đang bị đe dọa do tác động của tự nhiên và của con người.  
Qua số liệu điều tra của các cơ quan chuyên môn và nhà khoa học cho thấy,  
lượng nước lưu vực sông Cầu đang có chiều hướng suy giảm, lũ lụt với cường  
độ lớn và tần suất cao, bồi lấp dòng sông và biến đổi dòng chảy diễn ra khá  
mạnh mẽ; cảnh quan sinh thái, thiên nhiên bị biến đổi, các nguồn lợi thủy sản  
có nguy cơ bị cạn kiệt, những nét đẹp văn gắn với truyền thống và bản sắc các  
dân tộc bị mai một, đặc biệt chất lượng nguồn nước sông Cầu đang có diễn  
biến khá phức tạp, nhất là khu vực hạ lưu sông Cầu do ô nhiễm từ các làng  
nghề, các khu công nghiệp, các đô thị, từ khai thác khoáng sản, các hoạt động  
sản xuất nông nghiệp...  
Để đánh giá nguồn tài nguyên nước một cách hợp lý đồng thời có các  
biện pháp xử lý hiệu quả em tiến hành nghiên cứu đề tài:"Đánh giá diễn biến  
chất lượng nước sông Cầu trên địa bàn phường Cam Giá, thành phố Thái  
Nguyên trong quý I năm 2018"  
1.2. Mục tiêu của đề tài  
1.2.1. Mục tiêu chung  
Đánh giá diễn biến chất lượng nước Sông Cầu trên địa bàn phường Cam  
Giá, thành phố Thái Nguyên trong quý I năm 2018.  
1.2.2. Mục tiêu cụ thể  
- Điều tra tình hình phát triển điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại thành  
phố Thái Nguyên năm 2018.  
- Đánh giá diễn biến chất lượng nước trên địa bàn phường Cam Giá,  
thành phố Thái Nguyên trong quý I năm 2018.  
- Đề xuất giải pháp nâng cao phương pháp quản lý chất lượng nước sông Cầu.  
1.3 Ý nghĩa của đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa trong khoa học  
- Nâng cao kiến thức, kỹ năng tổng hợp, phân tích số liệu và rút ra những  
kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này.  
         
3
- Tạo cơ hội vận dụng lý thuyết vào thực tế, cách thức tiếp cận và thực hiện  
một đề tài.  
- Là nguồn tài liệu trong học tập và nghiên cứu khoa học.  
- Nâng cao nhận thức của bản thân về môi trường.  
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn  
- Phản ánh thực trạng về chất lượng môi trường nước mặt và các tác nhân  
gây ô nhiễm nguồn nước của thành phố Thái Nguyên.  
- Cung cấp số liệu cho công tác quản lý môi trường trên địa bàn thành phố và  
từ đó đưa ra những giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm môi trường một cách  
phù hợp.  
 
4
PHẦN 2  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1.Cơ sở khoa học  
2.1.1.Cơ sở lí luận  
2.1.1.1 Giới thiệu chung về tài nguyên nước  
Tài nguyên nước là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể sử  
dụng vào những mục đích khác nhau. Nước được dùng trong các hoạt động  
nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường.Hầu hết các hoạt  
động trên đều cần dùng nước ngọt.  
Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng cho tất cả các sinh vật trên  
quả đất.Nếu không có nước thì chắc chắn không có sự sống xuất hiện trên quả  
đất, thiếu nước thì cả nền văn minh hiện nay cũng không tồn tại được. Từ xưa,  
con người đã biết đến vai trò quan trọng của nước; các nhà khoa học cổ đại đã  
coi nước là thành phần cơ bản của vật chất và trong quá trình phát triển của xã  
hội loài người thì các nền văn minh lớn của nhân loại đều xuất hiện và phát  
triển trên lưu vực của các con sông lớn như: nền văn minh Lưỡng hà ở Tây Á  
nằm ở lưu vực hai con sông lớn là Tigre và Euphrate (thuộc Irak hiện nay);  
nền văn minh Ai Cập ở hạ lưu sông Nil; nền văn minh sông Hằng ở Ấn Ðộ;  
nền văn minh Hoàng hà ở Trung Quốc; nền văn minh sông Hồng ở Việt Nam  
Nước bao phủ 71% diện tích của quả đất trong đó có 97% là nước mặn,  
còn lại là nước ngọt. Nước giữ cho khí hậu tương đối ổn định và pha loãng các  
yếu tố gây ô nhiễm môi trường, nó còn là thành phần cấu tạo chủ yếu trong cơ  
thể sinh vật, chiếm từ 50% - 97% trọng lượng của cơ thể, chẳng hạn như ở  
người nước chiếm 70% trọng lượng cơ thể và Sứa ở biển nước chiếm tới 97%.  
Trong 3% lượng nước ngọt có trên quả đất thì có khoảng hơn 3/4 lượng nước  
mà con người không sử dụng được vì nó nằm quá sâu trong lòng đất, bị đóng  
băng, ở dạng hơi trong khí quyển và ở dạng tuyết trên lục địa….chỉ có 0,5%  
nước ngọt hiện diện trong sông, suối, ao, hồ mà con người đã và đang sử  
dụng. Tuy nhiên, nếu ta trừ phần nước bị ô nhiễm ra thì chỉ có khoảng 0,003%  
       
5
là nước ngọt sạch mà con người có thể sử dụng được và nếu tính ra trung bình  
mỗi người được cung cấp 879.000 lít nước ngọt để sử dụng ( Miller,1988)  
Theo hiểu biết hiện nay thì nước trên hành tinh của chúng ta phát sinh từ  
3 nguồn: bên trong lòng đất, từ các thiên thạch ngoài quả đất mang vào và từ  
tầng trên của khí quyển, trong đó thì nguồn gốc từ bên trong lòng đất là chủ  
yếu. Nước có nguồn gốc bên trong lòng đất được hình thành ở lớp vỏ giữa của  
quả đất do quá trình phân hóa các lớp nham thạch ở nhiệt độ cao tạo ra, sau đó  
theo các khe nứt của lớp vỏ ngoài nước thoát dần qua lớp vỏ ngoài thì biến  
thành thể hơi, bốc hơi và cuối cùng ngưng tụ lại thành thể lỏng và rơi xuống  
mặt đất. Trên mặt đất, nước chảy tràn từ nơi cao đến nơi thấp và tràn ngập các  
vùng trủng tạo nên các đại dương mênh mông và các sông hồ nguyên thủy.  
Theo sự tính toán thì khối lượng nước ở trạng thái tự do phủ lên trên trái đất  
khoảng 1,4 tỉ km3, nhưng so với trử lượng nước ở lớp vỏ giữa của qủa đất (  
khoảng 200 tỉ km3) thì chẳng đáng kể vì nó chỉ chiếm không đến 1%. Tổng  
lượng nước tự nhiên trên thế giới theo ước tính có khác nhau theo các tác giả và  
dao động từ 1.385.985.000 km³ (Lvovits, Xokolov - 1974) đến 1.457.802.450  
km³ (F. Sargent - 1974)  
Bảng 2.1:Trữ lượng nước trên thế giới (theo F.Sargent, 1974)[13]  
Loại nước  
Biển và dại dương  
Trữ lượng (km³)  
1.370.322.000  
60.000.000  
26.660.000  
125.000  
Nước ngầm  
Băng và băng hà  
Hồ nước ngọt  
Hồ nước mặn  
105.000  
Khí ẩm trong đất  
Hơi nước trong khí ẩm  
Nước sông  
75.000  
14.000  
1.000  
Tuyết trên lục địa  
250  
 
6
- Nước ngọt: nước ngọt hay nước nhạt là loại nước chứa một lượng tối  
thiểu các muối hòa tan, đặc biệt là clorua natri ( thường có nồng độ các loại  
muối hay còn gọi là độ mặn trong khoảng 0,01 – 0,5 ppt hoặc tới 1ppt), vì thế  
nó được phân biệt tương đối rõ ràng với nước lợ hay các loại nước mặn và  
nước muối. Tất cả các nguồn nước ngọt có xuất phát điểm là từ các cơn mưa  
được tạo ra do sự ngưng tụ tới hạn của hơi nước trong không khí, rơi xuống  
ao, hồ, sông của mặt đất cũng như trong các nguồn nước ngầm hoặc do sự tan  
chảy của băng hay tuyết. Nước ngọt là nguồn tài nguyên tái tạo, tuy vậy mà  
việc cung cấp nước ngọt và sạch trên thế giới đang từng bước giảm đi. Nhu  
cầu nước đã vượt cung ở một vài nơi trên thế giới trong khi dân số thể giới vẫn  
đang tiếp tục tăng làm cho nhu cầu nước càng tăng. Sự nhận thức về tầm quan  
trọng của việc bảo vệ nguồn nước cho nhu cầu hệ sinh thái mới chỉ được lên  
tiếng gần đây. Trong suốt thể kỷ 20, hơn một nửa các vùng đất ngập nước trên  
thế giới đã bị biến mất cùng với các môi trường hỗ trợ có giá trị của chúng.  
Các hệ sinh thái nước ngọt mang đậm tính đa dạng sinh học hiện đang suy  
giảm nhanh hơn các hệ sinh thái biển và đất liền.[13]  
- Nước mặn: Nước mặn là thuật ngữ chung để chỉ nước chứa một hàm  
lượng đáng kể các muối hòa tan ( chủ yếu là NaCl). Hàm lượng này thông  
thường được biểu diễn dưới dạng phần nghìn (ppt) hay phần triệu (ppm) hoặc  
phần trăm (%) hay g/l. Các mức hàm lượng muối được USGS Hoa Kỳ sử  
dụng để phân loại nước mặn thành ba thể loại. Nước hơi mặn chứa muối trong  
phạm vi 1.000 tới 3.000ppm ( 1 tới 3 ppt). Nước mặn vừa phải chứa khoảng  
3.000 tới 10.000 ppm ( 3 tới 10 ppt). Nước mặn nhiều chứa khoảng 10.000 tới  
35.000 ppm ( 10 tới 35 ppt) muối. Trên Trái Đất, nước biển trong các đại  
dương là nguồn nước mặn phổ biến nhất và cũng là nguồn nước lớn nhất. Độ  
mặn trung bình của đại dương là khoảng 35.000 ppm hay 35 ppt hoặc 3,5%,  
tương đương với 35g/l. Hàm lượng nước mặn tự nhiên cao nhất có tại hồ  
Assal ở Djibouti với nồng độ 34,8%.[13]  
7
- Nước mặt: nước mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng  
đất ngập nước. Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và  
chúng mất đi khi chảy vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất. Lượng  
giáng thủy này được thu hồi bởi các lưu vực, tổng lượng nước trong hệ thống  
này tại một thời điểm cũng tùy thuộc vào một số yếu tố khác. Các yếu tố này  
như khả năng chứa của các hồ, vùng đất ngập nước và các hồ chứa nhân tạo,  
độ thấm của đất bên dưới các thể chứa nước này, các đặc điểm của dòng chảy  
mặt trong lưu vực, thời lượng giáng thủy và tốc độ bốc hơi địa phương. Tất cả  
các yếu tố này đều ảnh hưởng đến tỷ lệ mất nước. Sự bốc hơi nước trong đất,  
ao, hồ, sông, biển, sự thoát hơi nước ở TV và ĐV…hơi nước vào trong không  
khí sau đó bị ngưng tụ lại trở về thể lỏng rơi xuống mặt đất hình thành mưa,  
nước mưa chảy tràn trên mặt đất từ nơi cao đến nơi thấp tạo nên các dòng  
chảy hình thành nên thác, ghềnh, sông, suối và được tích tụ lại ở những nơi  
thấp trên lục địa hình thành hồ hoặc đưa thẳng ra biển hình thành nên lớp nước  
trên bề mặt của vỏ trái đất. Trong quá trình chảy tràn, nước hòa tan các muối  
khoáng trong các nham thạch nơi nó chảy qua, một số vật liệu nhẹ không hòa  
tan được cuốn theo dòng chảy và bồi lắng ở nơi khác thấp hơn, sự tích tụ muối  
khoáng trong nước biển sau một thời gian dài của quá trình lịch sử của quả đất  
dần dần làm cho nước biển càng trở nên mặn. Có hai loại nước mặt là nước  
ngọt hiện diện trong ao, hồ, trên các lục địa và nước mặn hiện diện trong biển,  
các đại dương mênh mông, trong các hồ nước mặn trên các lục địa.Các hoạt  
động của con người có thể tác động lớn hoặc đôi khi phá vỡ các yếu tố này.  
Con người thường tăng khả năng trữ nước bằng cách xây dựng các bể chứa và  
giảm trữ nước bằng cách tháo khô các vùng đất ngập nước. Con người cũng  
làm tăng lưu lượng và vận tốc của dòng chảy mặt ở các khu vực lát đường và  
dẫn nước bằng các kênh.Tổng lượng nước tại một thời điểm là vấn đề cần  
quan tâm. Một số đối tượng sử dụng nước có nhu cầu nước theo vụ. Ví dụ,  
trong mùa hè cần rất nhiều nước để phục vụ cho nông nghiệp hoặc phát điện  
8
nhưng trong mùa mưa thì không cần nước, vì vậy để cung cấp nước tốt cho  
mùa hè thì cần một hệ thống trữ nước trong suốt năm và xả nước trong một  
khoảng thời gian ngắn. Các đối tượng sử dụng nước khác có nhu cầu dùng  
nước thường xuyên như nhà máy điện cần nguồn nước để làm lạnh. Để cung  
cấp nước cho các nhà máy điện, hệ thống nước mặt chỉ cần đủ trong các bể  
chứa khi dòng chảy trung bình nhỏ hơn nhu cầu nước của nhà máy.Nước mặt  
tự nhiên có thể được tăng cường thông qua việc cung cấp từ các nguồn nước  
mặt khác bởi các kênh hoặc đường ống dẫn nước. Cũng có thể bổ cấp nhân tạo  
từ các nguồn khác được liêt kê ở đây, tuy nhiên, số lượng không đáng kể. Con  
người có thể làm cho nguồn nước cạn kiệt bởi ô nhiễm.[13]  
- Nước ngầm: Nước ngầm hay còn gọi là nước dưới đất, là nước ngọt  
được chứa trong các lỗ rỗng của đất hoặc đá. Nó cũng có thể là nước chứa  
trong các tầng ngậm nước bên dưới mực nước ngầm. Đôi khi người ta còn  
phân biệt nước ngầm nông, nước ngầm sâu và nước chôn vùi. "Nước ngầm là  
một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích bở rời như cặn,  
sạn, cát bột kết, trong các khe nứt, hang caxtơ dưới bề mặt trái đất, có thể khai  
thác cho các hoạt động sống của con người".Nước ngầm cũng có những đặc  
điểm giống như nước mặt như: nguồn vào (bổ cấp), nguồn ra và chứa. Sự khác  
biệt chủ yếu với nước mặt là do tốc độ luân chuyển chậm (dòng thấm rất chậm  
so với nước mặt), khả năng giữ nước ngầm nhìn chung lớn hơn nước mặt khi  
so sánh về lượng nước đầu vào. Nguồn cung cấp nước cho nước ngầm là nước  
mặt thấm vào tầng chứa. Các nguồn thoát tự nhiên như suối và thấm vào các  
đại dương. Theo độ sâu phân bố, có thể chia nước ngầm thành nước ngầm  
tầng mặt và nước ngầm tầng sâu. Ðặc điểm chung của nước ngầm là khả năng  
di chuyển nhanh trong các lớp đất xốp, tạo thành dòng chảy ngầm theo địa  
hình. Nước ngầm tầng mặt thường không có lớp ngăn cách với địa hình bề  
mặt. Do vậy, thành phần và mực nước biến đổi nhiều, phụ thuộc vào trạng thái  
của nước mặt. Loại nước ngầm tầng mặt rất dễ bị ô nhiễm. Nước ngầm tầng  
9
sâu thường nằm trong lớp đất đá xốp được ngăn cách bên trên và phía dưới  
bởi các lớp không thấm nước. Theo không gian phân bố, một lớp nước ngầm  
tầng sâu thường có ba vùng chức năng:  
• Vùng thu nhận nước.  
• Vùng chuyển tải nước.  
• Vùng khai thác nước có áp.  
Khoảng cách giữa vùng thu nhận và vùng khai thác nước thường khá xa,  
từ vài chục đến vài trăm km. Các lỗ khoan nước ở vùng khai thác thường có  
áp lực. Ðây là loại nước ngầm có chất lượng tốt và lưu lượng ổn định. Trong  
các khu vực phát triển đá cacbonat thường tồn tại loại nước ngầm caxtơ di  
chuyển theo các khe nứt caxtơ. Trong các dải cồn cát vùng ven biển thường có  
các thấu kính nước ngọt nằm trên mực nước biển. Có hai loại nước ngầm:  
nước ngầm không có áp lực và nước ngầm có áp lực. Nước ngầm không có áp  
lực: là dạng nước được giữ lại trong các lớp đá ngậm nước và lớp đá nầy nằm  
bên trên lớp đá không thấm như lớp diệp thạch hoặc lớp sét nén chặt. Loại  
nước ngầm nầy có áp suất rất yếu, nên muốn khai thác nó phải thì phải đào  
giếng xuyên qua lớp đá ngậm rồi dùng bơm hút nước lên.Nước ngầm loại nầy  
thường ở không sâu dưới mặt đất,ì có nhiều trong mùa mưa và ít dần trong  
mùa khô.  
Nước ngầm có áp lực: là dạng nước được giữ lại trong các lớp đá ngậm  
nước và lớp đá nầy bị kẹp giữa hai lớp sét hoặc diệp thạch không thấm. Do bị  
kẹp chặt giữa hai lớp đá không thấm nên nước có một áp lực rất lớn vì thế khi  
khai thác người ta dùng khoan xuyên qua lớp đá không thấm bên trên và chạm  
vào lớp nước này nó sẽ tự phun lên mà không cần phải bơm. Loại nước ngầm  
nầy thường ở sâu dưới mặt đất, có trử lượng lớn và thời gian hình thành nó  
phải mất hàng trăm năm thậm chí hàng nghìn năm.[13]  
2.1.1.2 Vai trò của nước đối với con người  
Nước có vai trò đặc biệt với cơ thể con người, con người có thể nhịn ăn  
được vài ngày nhưng không thể nhịn uống nước. Nước chiếm khoảng 70% trọng  
lượng cơ thể, 65-75% trọng lượng cơ, 50% trọng lượng mỡ, 50% trọng lượng  
10  
xương. Nước tồn tại ở 2 dạng: nước trong tế bào và nước ngoài tế bào. Nước  
ngoài tế bào có trong huyết tương máu, nước bọt…Nước là chất quan trọng để  
các phản ứng hóa học và sự trao đổi chất diễn ra không ngừng trong cơ thể. Nước  
là dung môi, nhờ đó tất cả các chất dinh dưỡng được đưa vào cơ thể, sau đó được  
chuyển vào máu dưới dạng dung dịch nước. Mỗi người cần 2-3 lít nước mỗi ngày  
để đỏi mới lượng nước của cơ thể và duy trì các hoạt ðộng sống bình thường.  
Uống không đủ nước ảnh hưởng đến chức năng của tế bào cũng như chức  
năng của các hệ thống trong cơ thể. Những người thường xuyên uống không đủ  
nước có khả năng gây trụy tim mạch, hạ huyết áp, nhịp tim tăng cao. Nguy hiểm  
hơn, bạn có thể tử vong nếu lượng nước mất trên 20%.Bên cạnh oxy, nước đóng  
vai trò quan trọng thứ hai để duy trì sự sống.  
Tóm lại, nước rất cần cho cơ thể, mỗi người phải tập cho mình một thói  
quen uống nước để cơ thể không bị thiếu nước.Có thể nhận biết cơ thể bị thiếu  
nước qua cảm giác khát hoặc màu của nước tiểu, nước tiểu có màu vàng đậm  
chứng tỏ cơ thể đang bị thiếu nước. Duy trì cho cơ thể luôn ở trạng thái cân  
bằng nước là yếu tố quan trọng bảo đảm sức khỏe của mỗi người.[13]  
2.1.1.3 Vai trò của nước đối với sinh vật  
Nước chứa trong cơ thể sinh vật một hàm lượng rất cao, từ 50 - 90%khối  
lượng cơ thể sinh vật là nước, có trường hợp nước chiếm tỷ lệ cao hơn, tới  
98%như ở một số cây mọng nước, ở ruột khoang (ví dụ: thủy tức).  
Nước là dung môi cho các chất vô cơ, các chất hữu cơ có mang gốcphân  
cực (ưa nước) như hydroxyl, amin, các boxyl…..  
Nước là nguyên liệu cho cây trong quá trình quang hợp tạo ra các chất  
hữu cơ. Nước là môi trường hoà tan chất vô cơ và phương tiện vận chuyển  
chất vô cơ và hữu cơ trong cây, vận chuyển máu và các chất dinh dưỡng ở  
động vật.  
Nước bảo đảm cho thực vật có một hình dạng và cấu trúc nhất định. Do  
nước chiếm một lượng lớn trong tế bào thực vật, duy trì độ trương của tế bào  
cho nên làm cho thực vật có một hình dáng nhất định.  
11  
Nước nối liền cây với đất và khí quyển góp phần tích cực trong việc bảo  
đảm mối liên hệ khăng khít sự thống nhất giữa cơ thể và môi trường. Trong  
quá trình trao đổi giữa cây và môi trường đất có sự tham gia tích cực của ion  
H+ và OH- do nước phân ly ra.  
Nước tham gia vào quá trình trao đổi năng lượng và điều hòa nhiệt độ cơ thể.  
Nước còn là môi trường sống của rất nhiều loài sinh vật  
Cuối cùng nuóc giữ vai trò tích cực trong việc phát tán nòi giống của các  
sinh vật, nước còn là môi trường sống của nhiều loài sinh vật.Vì vậy các cơ  
thể sinh vật thường xuyên cần nước.[13]  
2.1.1.4 Vai trò của nước đối với sản xuất phục vụ đời sống con người  
- Trong nông nghiệp: tất cả các cây trồng và vật nuôi đều cần nước đề phát  
triển. Từ một hạt cải bắp phát triển thành một cây rau thương phẩm cần 25 lít  
nước; lúa cần 4.500 lít nước để cho ra 1 kg hạt. Dân gian ta có câu: “Nhất  
nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”, qua đó chúng ta có thể thấy được vai trò  
của nước trong nông nghiệp. Theo FAO, tưới nước và phân bón là hai yếu tố  
quyết định hàng đầu là nhu cầu thiết yếu, đồng thời còn có vai trò điều tiết các  
chế độ nhiệt, ánh sáng, chất dinh dưỡng, vi sinh vật, độ thoáng khí trong đất,  
làm cho tốc độ tăng sản lượng lương thực vượt qua tốc độ tăng dân số thế giới.  
Đối với VIệt Nam, nước đã cùng với con người làm lên nền Văn minh lúa  
nước tại châu thổ sông Hồng – các nôi Văn minh của dân tộc, của đất nước, đã  
làm nên các hệ sinh thái nông nghiệp có năng xuất và tính bền vững vào loại  
cao nhất thế giới, đã làm nên một nước Việt Nam có xuất khẩu gạo đứng nhất  
nhì thế giới hiện nay. Nước Việt Nam theo nghĩa đen đúng của nó là nước.  
- Trong Công nghiệp: Nước cho nhu cầu sản xuất công nghiệp rất lớn.  
Nước dùng để làm nguội các động cơ, làm quay các tubin, là dung môi làm  
tan các hóa chất màu và các phản ứng hóa học. Để sản xuất 1 tấn gang cần 300  
tấn nước, một tấn xút cần 800 tấn nước. Người ta ước tính rằng 15% sử dụng  
nước trên toàn thế giới công nghiệp như: các nhà máy điện, sử dụng nước để  
12  
làm mát hoặc như một nguồn năng lượng, quặng và nhà máy lọc dầu, sử dụng  
nước trong quá trình hóa học, và các nhà máy sản xuất, sử dụng nước như một  
dung môi. Mỗi ngành công nghiêp, mỗi loại hình sản xuất và mỗi công nghệ  
yêu cầu một lượng nước, loại nước khác nhau.Nước góp phần làm động lực  
thúc đẩy sự phát triển kinh tế.Nếu không có nước thì chắc chắn toàn bộ các hệ  
thống sản xuất công nghiệp, nông nghiệp…trên hành tinh này đều ngừng hoạt  
động và không tồn tại.  
Từ 3.000 năm trước công nguyên, người Ai Cập đã biết dùng hệ thống  
tưới nước để trồng trọt và ngày nay con người đã khám phá thêm nhiều khả  
năng của nước đảm bảo cho sự phát triển của xã hội trong tương lai: nước là  
nguồn cung cấp thực phẩm và nguyên liệu công nghiệp dồi dào, nước rất quan  
trọng trong nông nghiệp, công nghiệp, trong sinh hoạt, thể thao, giải trí và cho  
rất nhiều hoạt động khác của con người. Ngoài ra nước còn được coi là một  
khoáng sản đặc biệt vì nó tàng trữ một nguồn năng lượng lớn và lại hòa tan  
nhiều vật chất có thể khai thác phục vụ cho nhu cầu nhiều mặt của con  
người.[13]  
2.1.1.5 Khái niệm ô nhiễm nước  
Ô nhiễm nước là hiện tượng các vùng nước như sông, hồ, biển, nước  
ngầm... bị các hoạt động của con người làm nhiễm các chất độc hại như chất  
có trong thuốc bảo vệ thực vật,chất thải công nghiệp chưa được xử lí,.....tất cả  
có thể gây hại cho con người và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên.  
Theo hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa: “Ô nhiễm nước là sự  
biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước  
và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, cho động vật  
nuôi và các loài hoang dã”.  
Tóm lại, ô nhiễm nước là sự biến đổi tính chất vật lý, hóa học và thành  
phần sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kĩ thuật cho  
phép, gây ảnh hưởng xấu đến con người và vi sinh vật.[13]  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 51 trang yennguyen 10520 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá diễn biến chất lượng nước sông Cầu trên địa bàn phường Cam Giá, thành phố Thái Nguyên trong quý I năm 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_danh_gia_dien_bien_chat_luong_nuoc_song_cau_tren_d.pdf