Kết quả khảo sát, đánh giá chất lượng cung cấp điện của mạng điện mỏ vùng Quảng Ninh

THÔNG TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MỎ  
KẾT QUẢ KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUNG CẤP ĐIỆN  
CỦA MẠNG ĐIỆN MỎ VÙNG QUẢNG NINH  
ThS. Vũ Thế Nam  
Viện Khoa học Công nghệ Mỏ - Vinacomin  
Biên tập: TS. Đào Đắc Tạo  
Tóm tắt:  
Bài báo trình bày kết quả khảo sát đánh giá chất lượng cung cấp điện của mạng điện Mỏ Vùng  
Quảng Ninh  
1. Vì sao phải quan tâm đến “chất lượng hành sản xuất. Điện áp dao động lớn hơn 15%  
điện năng”  
làm cho các avtomat hút của các rơle điều khiển,  
các attômat và khởi động từ không giữ được tay  
đòn, ảnh hưởng đến sự hoạt động bình thường  
của máy móc thiết bị trong các dây chuyền sản  
xuất. Điện áp dao động trong khoảng từ 10÷15%  
có thể làm hư hỏng các tụ điện bù cũng như các  
bộ biến đổi bán dẫn;  
Ở các nước công nghiệp phát triển “chất  
lượng điện” được quan tâm từ những năm 50 ÷  
60 của thế kỷ trước bởi các lý do:  
Độ lệch điện áp có ảnh hưởng rất lớn  
đếnhoạt động của động cơ không đồng bộ, là  
phụ tải chủ yếu của các xí nghiệp công nghiệp.  
Khi điện áp trên cực động cơ giảm quá mức cho  
phép, mômen cản có thể vượt quá giá trị của  
mômen quay, dẫn đến động cơ không thể quay  
được. Nếu không cắt điện, động cơ có thể bị  
cháy. Điện áp trên cực động cơ thấp làm cho  
điều kiện khởi động của động cơ giảm đi đáng  
kể. Khi điện áp trên cực động cơ thấp thì cường  
độ từ trường của stator cũng giảm đi (đến 2-3%  
khi điện áp giảm 1%) và như vậy, với công suất  
tiêu thụ như trước thì dòng phải tăng lên, dẫn  
đến cuộn dây bị nóng quá mức, làm giảm cách  
điện của cuộn dây và kèm theo đó là tuổi thọ  
của động cơ;  
Điện áp lệch khỏi giá trị danh định làm tăng  
đáng kể công suất phản kháng tiêu tán trên  
đường dây, trong các máy biến áp và các động  
cơ điện. Nếu điện áp trên cực động cơ tăng lên  
1% thì công suất phản kháng tăng thêm từ 3%  
trở lên (do tăng dòng không tải của động cơ);  
Các thiết bị nhạy cảm với sự dao động điện  
áp là các lò điện, các đèn chiếu sáng và các  
thiết bị điện tử. Sự nhấp nháy của nguồn sáng  
gây sự khó chịu, mệt mỏi, ảnh hưởng đến năng  
suất lao động, tiềm ẩn nguy cơ gây tai nạn trong  
quá trình sản xuất;  
Sự mất đối xứng pha ảnh hưởng trực tiếp  
đến các phụ tải, điển hình nhất là các động cơ  
không đồng bộ. Người ta đã chứng minh rằng  
tuổi thọ của động cơ không đồng bộ mang đầy  
tải, khi làm việc trong lưới có điện áp mất đối  
xứng 4% sẽ bị giảm đi 2 lần và nếu như sự mất  
đối xứng là 5% thì công suất của động cơ sẽ bị  
giảm đi từ 5 ÷ 10%. Sự mất đối xứng pha cũng  
gây tổn hao công suất và phát nhiệt trong stator  
và rôtor, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của  
các động cơ đồng bộ. Sự mất đối xứng pha làm  
cho chế độ làm việc của của các bộ biến đổi,  
bộ chỉnh lưu nhiều pha xấu đi rất nhiều - làm  
tăng đáng kể sự nhấp nhô của điện áp nắn, làm  
cho hệ thống điều khiển xung - pha của các bộ  
biến đổi tiristor không thể làm việc bình thường  
được;  
Khi điện áp mất đối xứng các tụ bù sẽ tiêu thụ  
công suất vô công ở các pha không đều nhau.  
Do vậy tụ điện không sử dụng hết dung lượng  
lắp đặt. Ngoài ra, do sự mất đối xứng của các  
pha mà chính các bộ tụ điện trong trường hợp  
này còn làm tăng thêm sự mất đối xứng bởi vì  
công suất phản kháng của tụ trong pha có điện  
áp thấp sẽ nhỏ hơn trong các pha khác (tỷ lệ  
thuận với bình phương điện áp của lưới);  
Dao động điện áp làm cho nhiều hệ thống  
điện tử, tự động hóa, thông tin liên lạc, quan  
trắc, giám sát… không thể hoạt động được bình  
thường, gây tổn hại cho quá trình giám sát, điều  
Điện áp “không sin” cũng mang lại những tổn  
hại giống như là sự mất đối xứng. Sóng hài bậc  
cao cũng gây nên tổn thất hữu công trên tất cả  
KHCNM SỐ 1/2019 * CƠ ĐIỆN - TỰ ĐỘNG HÓA  
39  
THÔNG TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MỎ  
các phần tử của hệ thống cung cấp điện như Nhà nước đã ban hành Tiêu chuẩn Việt Nam  
trong mạng cung cấp, máy biến áp, các máy TCVN 3971-84 quy định về “Mức chất lượng  
điện, các bộ tụ điện bởi vì điện trở của các phần điện năng ở các thiết bị tiêu thụ điện năng nối  
tử này phụ thuộc vào tần số;  
vào lưới điện công dụng chung”;  
Sự dao động của tần số có ảnh hưởng trực  
Ngày 02/08/2001 Chính phủ đã ban hành  
tiếp đến thành phần điện từ, liên quan mật thiết Nghị định số 45/2001/NĐ-CP về “Các hoạt động  
đến sự tiêu hao công suất hữu công và vô công điện lực và sử dụng điện”;  
trong mạng. Người ta đã chứng minh được  
rằng - nếu như tần số giảm đi 1% (0,5 Hz) thì  
lượng tổn hao công suất trong mạng sẽ là 2%.  
Do dao động của tần số, sự thiệt hại đối với chất  
lượng sản phẩm trong dây chuyền công nghệ  
của xí nghiệp nhiều khi còn lớn hơn nhiều, so  
với những tổn hao kể trên. Dao động tần số của  
điện áp có ảnh hưởng rꢀ rệt nhất đối với các  
thiết bị điện tử. Dao động tần số quá +0,1 Hz đã  
làm cho các tín hiệu của các màn hình mônitor,  
camera theo dꢀi, màn hình vô tuyến bị méo đi  
rꢀ rệt. Tần số ở trong khoảng từ 49,5 ÷ 49,9 Hz  
làm cho tín hiệu trên màn hình biến dạng đến 4  
lần so với tín hiệu chuẩn. Với tần số <49,5 Hz thì  
hầu hết các thiết bị thu phát tín hiệu không thể  
làm việc được.  
“Quy phạm trang bị điện” được ban hành  
theo Quyết định số 19/2006/ QĐ-BCN, ngày  
11/07/2006 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp là  
một bước tiến mới trong việc đưa dần các “chỉ  
tiêu chất lượng điện” của Việt Nam phù hợp  
với Tiêu chuẩn của các nước công nghiệp phát  
triển. Quy phạm này có bốn phần được biên  
soạn thành dạng Tiêu chuẩn của ngành. Tuy  
nhiên, trong TCN-19-2006 cũng mới chỉ có quy  
định về “chất lượng điện áp và tần số của lưới  
điện”.  
Tiêu chuẩn về chất lượng điện của các nước  
hiện đều tuân theo các Tiêu chuẩn của Ủy ban  
Kỹ thuật điện Quốc tế (IEC), bao gồm nhiều chỉ  
tiêu, có các yêu cầu và quy định rất chi tiết về  
các chỉ tiêu này. Quá trình hòa nhập để phát  
triển, Việt Nam cũng cần thiết phải ban hành các  
Tiêu chuẩn (TCVN) phù hợp với các Tiêu chuẩn  
nêu trên.  
Các chỉ tiêu chất lượng điện không phù hợp  
với tiêu chuẩn, khác với các giá trị danh định  
không chỉ ảnh hưởng đến năng suất của máy  
móc thiết bị, đến tuổi thọ của chúng mà còn có  
khả năng gây nên các sự cố liên hoàn, sự tác  
động nhầm lẫn của các bộ phận bảo vệ, đặc  
biệt có thể có những tín hiệu điều khiển các  
quá trình sản xuất bị sai lệch do có sự tác động  
nhầm lẫn của các thiết bị đóng cắt, và kết quả là  
xác suất xuất hiện hư hỏng cũng tăng lên theo  
gây những hậu quả không lường trước được.  
3. Kết quả khảo sát đánh giá về chất lượng  
điện cung cấp cho một số đơn vị sản xuất  
trong Tập đoàn TKV vùng Quảng Ninh  
Trong quá trình kiểm toán năng lượng, cũng  
như nghiên cứu đề tài khoa học các cấp nhóm  
nghiên cứu của Viện Khoa học Công nghệ Mỏ  
đã kết hợp với các cán bộ kỹ thuật của một số  
mỏ khai thác than, như đơn vị sản xuất khác  
trong Tập đoàn tiến hành khảo sát, đánh giá một  
số chỉ tiêu chất lượng cung cấp điện cho các  
đơn vị khu vực Quảng Ninh bằng tổ hợp thiết  
bị đo lường đa năng WM 14-96 được chế tạo ở  
dạng “an toàn nổ”, dùng trong mỏ hầm lò có thể  
đo được các thông số tức thời của chất lượng  
điện đặt vào phụ tải như U, I, f, Cosφ, P, S, Q,  
các dạng sóng hài… Các thông số hoạt động  
này được cập nhật liên tục và lưu vào thẻ nhớ,  
sau đó dùng phần mềm chuyên dụng (ACE-  
Reader-V1) để lấy và đọc (ACE-PowerSoft-V1)  
các dữ liệu đo. Thiết bị được thiết kế chế tạo và  
kiểm định theo tiêu chuẩn TCVN 7079-0: 2002,  
2. Tiêu chuẩn về “Chất lượng điện năng”  
ở Việt Nam  
Ở nước ta, “chất lượng điện” đã được những  
người làm công tác năng lượng quan tâm từ  
những năm 80 của thế kỷ trước. Trải qua những  
năm chiến tranh kéo dài, ngành điện mới chỉ cố  
gắng đáp ứng đủ nhu cầu cung cấp điện cho các  
hộ tiêu thụ, mà chưa thể đáp ứng ngay cho các  
hộ tiêu thụ điện chất lượng như các nước công  
nghiệp phát triển. Tuy nhiên, trong quá trình xây  
dựng và phát triển chúng ta cũng đã thấy được  
định hướng mục tiêu phấn đấu của ngành điện  
thông qua một số mốc quan trọng:  
Ngày 21 tháng 11 năm 1984 theo đề nghị và TCVN 7079 -1: 2002. Đồng thời sử dụng máy  
của Bộ Điện Lực, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật phân tích điện năng đa năng của hãng Chauvin  
KHCNM SỐ 1/2019 * CƠ ĐIỆN - TỰ ĐỘNG HÓA  
40  
THÔNG TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MỎ  
Hình 1. Biểu đồ công suất biểu kiến và hệ số công suất của MBA 1000 kVA Công ty tuyển than Cửa Ông -  
Vinacomin  
CA8335 để đo phát hiện sóng hài bậc cao tại  
các đơn vị sản xuất trong Tập đoàn TKV vùng  
Quảng Ninh.  
Các số liệu đo được thực hiện tại các trạm  
biến áp 35/6 kV để xác định sự dao động điện  
áp và tần số của mạng ở cấp điện áp 35kV và  
6kV. Đối với các khu vực khai thác và đào lò,  
các đơn vị sản xuất khác nhóm nghiên cứu đã  
tiến hành lắp đặt thiết bị để xác định các thông  
số đặc trưng của mạng hạ áp nhằm đánh giá  
chất lượng điện trên một số chỉ tiêu chủ yếu  
như: Chất lượng điện áp; Chất lượng tần số;  
Hệ số mang tải; Hệ số công suất; Tổn hao điện  
năng; Một số dạng sóng hài.v.v… Trên các hình  
1 và 2 mô tả một số kết quả khảo sát được trong  
quá trình đo cũng như xử lý các số liệu đo để  
đánh giá.  
Hình 2. Ảnh hưởng sóng hài tới dòng điện động cơ  
máy cán thép Công ty CP Chế tạo máy  
Sóng hài là một dạng nhiễu không mong  
muốn, ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng lưới  
điện và cần được chú ý tới khi tổng các dòng  
điện hài cao hơn mức độ giới hạn cho phép.  
Dòng điện hài là dòng điện có tần số là bội của  
tần số cơ bản. Ví dụ dòng 250Hz trên lưới 50Hz  
là sóng hài bậc 5.  
Dòng điện 250Hz là dòng năng lượng không  
sử dụng được với các thiết bị trên lưới. Vì vậy,  
nó sẽ bị chuyển hoá sang dạng nhiệt năng và  
gây tổn hao.  
Qua hình 2 và hình 3 cho thấy sự ảnh hưởng  
của sóng hài khiến cho điện áp và dòng điện  
xuất hiện dạng méo sin, răng cưa.  
Thành phần quan trọng để đánh giá sóng hài  
là hệ số méo dạng tổng (THD), mà giá trị càng  
cao thì mức ảnh hưởng tới chất lượng cung  
cấp điện càng lớn. Kết quả đo kiểm cho thấy  
Hình 3. Ảnh hưởng sóng hài tới dòng điện động cơ  
máy cán thép Công ty CP Chế tạo máy  
KHCNM SỐ 1/2019 * CƠ ĐIỆN - TỰ ĐỘNG HÓA  
41  
THÔNG TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MỎ  
Hình 4. Hệ số méo dạng tổng (THD) sóng hài dòng điện động cơ máy cán thép  
Công ty CP Chế tạo máy - Vinacomin  
Bảng 1 Tổng hợp đo kiểm sóng hài tại các đơn vị  
Uông  
Bí  
(2014)  
Công  
ty  
Thống Nhất  
(2017)  
Cơ khí VMC (2016)  
TT Hòn Gai (2015)  
TBA số 1  
TBA  
số 2  
(630  
kVA)-  
PX  
Sóng  
hài  
Băng  
RC2-PX  
Sàng  
(1000 kVA)-  
khu tuyển  
Úc-PX  
TBA  
400  
kVA  
Động  
Động cơ  
MBA 400 kVA  
MB+41 Lộ Trí  
Phụ tải  
cơ cán máy nắn  
tuyển  
tuyển  
A1h3  
A2h3  
A3h3  
A1h5  
A2h5  
A3h5  
A1h7  
A2h7  
A3h7  
A1h9  
A2h9  
A3h9  
A1h11  
3,81  
3,80  
13,36  
17,11  
12,15  
52,51  
50,72  
50,01  
34,49  
32,85  
32,30  
4,60  
7,99  
2,57  
9,00  
3,19  
3,72  
3,12  
2,76  
2,79  
3,80  
0,53  
0,85  
0,69  
0,38  
0,82  
0,76  
0,33  
0,49  
0,61  
0,53  
0,58  
0,50  
0,89  
0,76  
0,41  
1,67  
5,49  
5,29  
2,05  
2,35  
2,58  
0,30  
0,21  
0,31  
0,84  
0,66  
0,72  
0,69  
0,66  
0,92  
0,15  
0,15  
0,18  
0,56  
1,31  
1,73  
11,81  
11,96  
12,27  
9,34  
9,36  
10,16  
0,47  
0,33  
0,53  
4,65  
4,85  
4,93  
1,17  
1,03  
1,35  
0,14  
0,10  
0,10  
5,03  
3,70  
2,38  
19,51  
21,19  
15,47  
11,61  
12,46  
10,12  
1,24  
0,98  
0,57  
4,22  
5,04  
3,01  
3,48  
3,69  
3,57  
2,14  
2,07  
0,75  
0,92  
1,57  
2,85  
3,87  
4,54  
4,16  
5,37  
7,31  
5,96  
7,31  
3,65  
5,96  
13,04  
11,97  
14,24  
8,29  
11,01  
10,54  
0,56  
0,34  
0,52  
Bậc 3  
Bậc 5  
Bậc 7  
Bậc 9  
3,56  
38,16  
37,65  
37,55  
16,43  
15,63  
16,15  
1,58  
1,68  
4,82  
1,26  
3,74  
15,19  
14,69  
14,58  
9,43  
13,52  
12,78  
12,08  
7,17  
Bậc 11 A2h11  
A3h11  
A1h13  
Bậc 13 A2h13  
A3h13  
8,74  
6,72  
9,13  
6,31  
A1h15  
0,92  
2,74  
Bậc 15 A2h15  
A3h15  
1,08  
2,61  
0,65  
1,94  
THD≈43,2÷174,8% (hình 4).  
4. Các kết quả nghiên cứu  
Đối chiếu với Tiêu chuẩn chúng ta thấy rằng,  
điện áp trung và cao áp của các TBA là tương  
đối ổn định, các giá trị của điện áp không có sự  
Tổng hợp các kết quả đo kiểm trong quá trình  
khảo sát đánh giá sự ảnh hưởng của sóng hài  
nhóm nghiên cứu có bảng tổng hợp số 1.  
KHCNM SỐ 1/2019 * CƠ ĐIỆN - TỰ ĐỘNG HÓA  
42  
THÔNG TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MỎ  
dao động nhiều, nhưng điện áp trên cực phụ tải thuật và hiệu quả sử dụng điện năng trong quản  
gần với trạm thường được giữ ở mức khá cao lý vận hành mạng cung cấp điện.  
so với giá trị danh định, do hầu hết các máy biến  
áp đều không có hệ thống tự động điều chỉnh  
dưới tải.  
Nhiều mạng điện có xuất hiện sóng hài bậc  
cao, tập trung tại nhà máy cơ khí có lò hồ quang,  
các trạm biến áp cung cấp điện cho các động cơ  
Tần số của nguồn nhìn chung là ổn định, sử dụng các thiết bị điện tử công suất hỗ trợ  
dao động trong khoảng nhỏ, chủ yếu nằm trong điều khiển, các động cơ điện một chiều,…làm  
khoảng giới hạn cho phép của Tiêu chuẩn, đảm ảnh hưởng đến chất lượng cung cấp điện và tổn  
bảo để các thiết bị làm việc bình thường.  
thất điện năng.  
Mạng hạ áp của hầu hết các khu vực khảo  
sát đều có tổn thất điện năng khá lớn. Tổn thất  
điện năng chủ yếu xảy ra trên đường cáp trục  
chính và cáp mềm. Các mạng hạ áp mỏ đều có  
hệ số yêu cầu, hệ số công suất và hệ số mang  
tải thấp. Nếu được chú ý đầu tư, cải tạo chắc  
chắn sẽ nâng cao được các chỉ tiêu kinh tế kỹ  
Tài liệu tham khảo:  
1. Đào Đắc Tạo và nnk (2009). Nghiên cứu  
đề xuất các giải pháp cung cấp điện ổn định và  
an toàn và hiệu quả cho các mỏ than hầm lò  
Quảng Ninh đáp ứng yêu cầu cơ giới hóa, hiện  
đại hóa ngành than giai đoạn 2008 – 2025; Báo  
cáo tổng kết đề tài; Hà Nội.  
Results from surveying and evaluating the power supply quality of the  
electronic network at Quang Ninh underground coal mines  
MSc. Vu The Nam  
Institute of Mining Science and Technology - Vinacomin  
Summary:  
The paper repesents some results from surveying and evaluating the power supply quality of the  
electronic network at Quang Ninh underground coal mines  
KHCNM SỐ 1/2019 * CƠ ĐIỆN - TỰ ĐỘNG HÓA  
43  
pdf 5 trang yennguyen 17080 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả khảo sát, đánh giá chất lượng cung cấp điện của mạng điện mỏ vùng Quảng Ninh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfket_qua_khao_sat_danh_gia_chat_luong_cung_cap_dien_cua_mang.pdf