Giáo trình mô đun Thực hành nguội sửa chữa máy công cụ - Nghề: Cắt gọt kim loại
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG LÀO CAI
GIÁO TRÌNH
MÔ ĐUN: THỰC HÀNH NGUỘI SỬA CHỮA MÁY CÔNG CỤ
NGHỀ: CẮT GỌT KIM LOẠI
TRÌNH ĐỘ: TRUNG CẤP VÀ CAO ĐẲNG
Lào Cai, năm 2017
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép
dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo.
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu
lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.
LỜI NÓI ĐẦU
Giáo trình Thực hành nguội sửa chữa máy công cụ được biên soạn theo chương trình
đào tạo trung cấp và cao đẳng nghề Cắt gọt kim loại do Hiệu trưởng trường Cao đẳng Lào
Cai ban hành ngày….. tháng ….. năm 2017.
Giáo trình Thực hành nguội sửa chữa máy công cụ nhằm cung cấp cho học sinh, sinh
viên nghề Cắt gọt kim loại những kiến thức và kỹ năng cơ bản về sửa chữa các cơ cấu, chi
tiết thông dụng của các máy công cụ vạn năng. Khi biên soạn giáo trình, tác giả đã cập nhật
những kiến thức mới có liên quan đến môn học và nghề đào tạo, cần thiết cho học sinh tiếp
thu kiến thức nhanh hơn.
Nội dung giáo trình gồm 5 bài:
Bài 1: Sửa chữa các chi tiết máy và các bộ truyền.
Bài 2. Sửa chữa các chi tiết, cụm máy.
Bài 3: Sửa chữa hệ thống thủy lực.
Bài 4: Sửa chữa máy tiện
Bài 5: Sửa chữa máy khoan, máy phay, máy bào và máy cắt
Trong quá trình biên soạn mặc dù đã cố gắng, nhưng chắc chắn không tránh khỏi
những thiếu sót do thời gian biên soạn còn hạn chế. Rất mong được sự góp ý của người sử
dụng để giáo trình được hoàn thiện hơn.
Lào Cai, tháng 3 năm 2017
Tác giả
Ths. Hoàng Anh Thái
GIÁO TRÌNH MÔ ĐUN
THỰC HÀNH NGUỘI SỬA CHỮA MÁY CÔNG CỤ
I.Vị trí, tính chất của mô đun:
- Thực hành nguội sửa chữa là mô đun trang bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản về sửa
chữa máy công cụ, là mô đun quan trọng đối với HSSV nghề Cắt gọt kim loại, giúp cho
người học sửa chữa được các chi tiết máy thông dụng của máy công cụ trong quá trình học
và công tác sau này.Mô đun này được bố trí học sau khi học xong các môn học chung, các
môn học chuyên môn nghề bắt buộc.
- Là mô đun chuyên môn nghề tự chọn.
II. Mục tiêu của mô đun:
+ Kiến thức:
- Trình bày được cấu tạo và nguyên lý hoạt động của các cơ cấu, hệ thống, bộ phận của
máy công cụ
- Phân tích được các hiện tượng, nguyên nhân hư hỏng và đề ra được phương pháp
kiểm tra, sửa chữa các chi tiết, bộ phận của các máy công cụ
+ Kỹ năng:
- Tháo lắp, kiểm tra, bảo dưꢀng và sửa chữa các bộ phận cố định, chuyển động của các
máy công cụ đꢁng quy trình, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật
+ Năng lực tự chủ và trách nhiệm.
+ Chấp hành đꢁng quy trình, quy phạm trong nghề nguội sửa chữa máy công cụ.
+ Rèn luyện tính kỷ luật, cẩn thận, tỉ mỉ của học viên.
NỘI DUNG CHÍNH CỦA MÔ ĐUN
Bài 1: Sửa chữa các chi tiết máy và các bộ truyền
* Mục tiêu:
- Trình bày được các yêu cầu kỹ thuật của mối ghép then, then hoa và ren.
- Trình bày được cấu tạo, nguyên lý hoạt động và ưu, nhược điểm của các bộ truyền;
- Vẽ được sơ đồ cấu tạo của các bộ truyền.
- Nhận dạng được đꢁng các loại mối ghép và bộ truyền trong các máy công cụ.
- Giải thích được các hiện tượng, nguyên nhân hư hỏng; lựa chọn được phương pháp
kiểm tra, sửa chữa thích hợp;
- Tháo, lắp; nhận dạng; kiểm tra, sửa chữa các bộ phận đꢁng quy trình, quy phạm; đảm bảo
các tiêu chuẩn kỹ thuật;
- Rèn luyện tác phong công nghiệp.
* Nội dung
1. Giới thiệu một số nét về công tác sửa chữa
2. Sửa chữa then và then hoa
2.1. Mối ghép then
2.1.1.Công dụng, phân loại
> Công dụng: thường dùng để lắp các chi tiết máy truyền mô men xoắn như: bánh răng,
bánh đai, đĩa xích... với trục. Nó được dùng rộng rãi vì cấu tạo đơn giản, chắc chắn, dễ tháo
lắp, giá thành hạ...
> Phân loại: Chia ra làm hai loại
- Then lắp lỏng: Then bằng, then bán nguyệt, then dẫn hướng.
- Then ghép căng: then vát, then tiếp tuyến,...
2.1.2.Các dạng hỏng thường gặp của mối ghép
Mối ghép then bằng truyền mô men xoắn chủ yêꢁ nhờ 2 mặt bên của then, trong quá
trình làm việc mối ghép then bằng thường phải chịu tải trọng đột ngột (khi bắt đầu truyền
chuyển động). Do đó, mối ghép thường có dạng hỏng như:
- Rãnh then trên mayơ và trên trục bị nong rộng, biểu hiện làm mối ghép then làm việc có
độ rơ.
- Khi chịu tải trọng đột ngột hoặc khi bị quá tải mối ghép then có thể bị cắt đứt (biết con
then). Hậu quả là mối ghép không truyền được chuyển động.
2.1.3.Các biện pháp sữa chữa các loại hư hỏng trên
- Trường hợp rãnh then trên may ơ hoặc trên trục bị nong rộng:
Sửa lại rãnh then trên trục tới kích thươc sữa chữa sau đó làm lại con then mới. Chꢁ ý:
khi làm lại con then mới cần chọn đꢁng vật liêuụ tương thích để có thể đảm bảo được các
yêu cầu của mối ghép.
Trong tường hợp rãnh then trên trục hoặc trên mayơ bị nong quá rộng thì chꢁng ta có
thể gia công lại rãnh then mới, khi gia công cần chꢁ ý quay trục (may ơ) đi một góc 900,
1350 hoặc 1800 và gia công rãnh then mới tại vị trí đó.
- Trường hợp con then bị cắt đứt:
Trong trường hợp này chꢁng ta xử lý rất đơn giản theo cách sau: lấy phần then bị cắt
đứt trên trục và may ơ ra sau đó gia công lại con then mới. Chꢁ ý: Khi làm lại con then mới
cần chọn đꢁng vật liệu tương thích để có thể đảm bảo được đꢁng yêu cầu của mối ghép.
2.2. Mối ghép then hoa
2.2.1.Công dụng, phân loại
> Công dụng: thường dùng để lắp các chi tiết máy truyền mô men xoắn, đảm bảo mối
ghép được đổng tâm hơn và dễ di trượt các chi tiết khác trên trục.
>Phân loại:
- Theo điều kiện làm việc của mối ghép then hoa có thể chia ra làm 2 loại :
+ Ghép cố định: Trong đó moayơ được cố định trên trục.
+ Ghép di động: Moayơ có thể trượt dọc trục.
- Theo dạng răng thì có 3 loại :
+ Then hoa răng chữ nhật: Loại này dùng khá phổ biến trong ngành cơ khí chế tạo
máy.
+ Then hoa răng tam giác: Dùng truyền mômen không lớn, thường áp dụng cho mối
ghép cố định.
+ Then hoa răng thân khai: Loại này truyền mômen xoắn lớn, giảm được ứng suất tập ở
chân then do có biến dạng thân khai.
- Theo cách định tâm khi ghép chia ra:
+ Định tâm theo đường kính ngoài: Dùng khi moayơ không nhiệt luyện và đảm bảo độ
đổng tâm cao.
+ Định tâm theo đường kính trong: Dùng mối ghép cần có độ đổng tâm cao.
+ Định tâm theo cạnh bên: Không đảm bảo độ đổng tâm nhưng lực phân bố đều trên
răng, nên dùng trong trường hợp truyền mômen xoắn lớn.
2.2.2.Các dạng hỏng thường gặp của mối ghép
Những hư hỏng của mối ghép then hoa thường gặp là:
- Mòn then trong trục và rãnh then trong lỗ.
- Dập, vꢀ, sứt mẻ then hoa.
- Sây sát hoặc tróc bề mặt làm việc của then hoa do tác dụng của tải trọng động
2.2.3. Các biện pháp sữa chữa các loại hư hỏng trên
- Nếu then hoa và rãnh then mòn ít mà mối ghép định tâm theo đường kính trong của
trục thì cách sữa chữa tốt nhất là sửa lỗ then hoa tới kích thước sửa chữa và tăng kích thước
then hoa trên trục bằng cách sấn từng then một theo chiều dọc then.
- Nếu then hoa và rãnh then mòn ít mà mối ghép định tâm theo đường kính ngoài của
trục thì sửa chữa như sau : Sửa chữa then hoa tới kích thước sửa chữa
Và nâng đường kính đường kính ngoài để các rãnh then hẹp lại phù hợp với kích thước
sữa chữa của chiều rộng then hoa trên trục.
- Nếu then hoa và rãnh then hoa mòn nhiều nhưng chưa quá 20-25 % chiều rộng then
thi gia công lỗ then hoa đến kích thước sửa chữa, hàn đắp trục then hoa rồi gia công theo
kích thước lỗ then hoa.
- Nếu then hoa và rãnh then hoa mòn nhiều quá 20-25 % chiều rộng then thì ta hàn
đắp toàn bộ rãnh then rồi gia công rãnh then mới.
+ Lưu ý : Những chi tiết phức tạp gia công khó khăn và đắt tiền, nếu còn khả năng làm
việc, chỉ có một phần then hoa bị hỏng mà việc hàn đắp ảnh hưởng đến độ chính xác của chi
tiết vì vậy ta phải thay phần trục có then hoa.
3. Sửa chữa mối ghép ren.
3.1. Công dụng, phân loại
> Công dụng:
- Ren tam giác là loại ren thông dụng nhất, có độ kín khít cao, thường được sử dụng
trong các kết cấu ren vít, trong bu lông, êcu, các ống thủy lực, nꢁt ren ở các van trượt.
- Ren vuông và ren thang thường được dùng trong các co cấu truyền động như các vít
me hành tinh, vít bàn dao của máy công cụ, vít nâng của máy, vít me cái của máy tiện ren,
vít me tải, may ép, vít me trong êtô nguội...
- Ren răng cưa thường dùng trong các co cấu chịu lực lớn theo một hướng như máy
nén dạng co khí hay thủy lực, các loại kích ...
- Ren cung tròn thường được dùng trong các móc nối toa tàu, nối các đường ống nước
lớn.
> Phân loại:
- Căn cứ theo hình dạng prôfin thì ren được chia làm nhiều loại: ren tam giác, ren
vuông, ren thang, ren răng cưa, ren cung tròn, ren bán nguyệt, ren định vị, ren góc vuông..,
được thể hiện ở (hình 2.1).
- Căn cứ theo vị trí thì ren được chia làm hai loại: ren ngoài và ren trong.
- Căn cứ theo hướng xoắn thì ren được chia làm hai loại: ren phải và ren trái, như
(hình 2.2) thể hiện. Đặt đứng bulông, ren từ trái qua phải lên cao dần, là phải (đai ốc vặn vào
theo chiều kim đổng hổ), ren từ phải qua trái cao dần, tức là ren trái (đai ốc vặn vào ngược
chiều kim đổng hổ).
- Căn cứ theo số đầu mối thì ren được chia làm hai loại: ren một đầu mối và ren nhiều
đầu mối.
Ngoài ren thường dùng ra người ta còn phân loại theo bề mặt và theo công dụng:
- Căn cứ theo hình dạng bề mặt thì ren được chia làm hai loại: ren trụ và ren côn.
- Căn cứ theo công dụng thì ren được chia làm ba loại: ren lắp siết, ren truyền động và
ren chuyên dùng.
- Căn cứ theo tiêu chuẩn thì ren được chia làm hai loại: ren tiêu chuẩn và ren không
tiêu chuẩn.
- Theo hệ thống ren thì ren được chia làm ba loại: ren hệ mét, ren hệ anh và ren ống
(trụ), được thể hiện ở (hình 2.3).
Hình 2.1: Ren: a) Ren côn; b) Ren trụ;
c) Ren hệ mét; d) Ren hệ Anh; e) Ren ống (hệ anh)
Hình 2.2: Phương pháp phân biệt ren trái, ren phải.
Hình 2.3: Thể hiện ren theo hệ Anh và hệ mét.
3.2. Các dạng hỏng thường gặp của mối ghép
Các dạng hư hỏng thường gặp nhất của mối ghép ren là:
- Mòn profin ren theo đường kính trung bình
- Giảm diện tích bề mặt làm việc của ren (vì mòn).
- Thân bulông bị giãn vì biến dạng dẻo.
- Thân bulông hoặc vít cấy bị uốn hoặc bị đứt.
- Các vòng ren bị cắt đứt do lực kéo hoặc nén dọc trục tăng đột ngột.
3.3.Các biện pháp sữa chữa các loại hư hỏng trên
> Ren bị mòn đứt hoặc mẻ trên bu lông hoặc trục có ren.
- Tiện hết ren cũ rồi cắt ren mới có kích thước nhỏ hơn, lꢁc này phải thay thế đai ốc
mới. Nếu ren cũ đã được tôi cứng thì trước khi tiện cần ủ.
- Nếu không cho phép giảm kích thước ren thì phục hồi bằng cách hàn đắp hoặc mạ
kim loại hoặc gia công cơ.
> Ren bị mòn đứt, vꢀ hay mẻ, ở trong lỗ(trong thân chi tiết máy).
- Sửa tớikích thước sửa chữa bằng cách tiện, khoan hoặc khoét hết ren cũ rồi làm lại
ren mới có kích thước lớn hơn lꢁc này phải thay bu lông hoặc vít cấy.
- Để sửa chữa tạm mối ghép ren trong trường hợp phức tạp ta có thể làm bu lông
hoặc vít cấy hơi nhỉnh hơn lỗ cũ để lắp với lỗ ren mòn. Khi có dịp thuận lợi phải sửa chữa
chính thức ngay.
- Trong tường hợp lỗ ren được sửa chữa bằng chi tiết bổ sung: muốn vậy ta khoét
hoặc khoan lỗ ren có hỏng rộng thêm 5-6 mm nữa rồi mới tiện ren ở bạc với kích thước ren
ban đầu.
> Thân bu lông bị cong.
Nắn bằng bàn ép kiểu vít me hoặc êtô để tránh hư hại ren. Khi nắn phải dùng đệm mềm
để kẹp chặt chi tiết.
Các vít cấy bị cong hoặc ren hỏng đều được thay mới mà không sửa chữa.
> Bị các chất bẩn cꢁa chặt vào rãnh then.
Dùng bàn ren, tarô hoặc chi tiết lắp ren với nó để cạy chất bẩn ở ren và “ nắn lại ren”
> Đầu bu lông đai ốc bị vꢀ, méo “ chờn” (không có hình dáng sáu cạnh) các chi tiết
khác bị sứt mẻ.
Dũa hàn đắp, rồi gia công cơ hoặc chỉ gia công cơ rồi dùng chìa vặn có ngàm hẹp hơn
và vặn.
> Các chi tiết ren bị nứt.
Hàn đắp hoặc thay mới
> Ren méo vì xiết đai ốc quả tải.
Tuỳ theo độ hư hỏng mà áp dụng một trong các biện pháp sửa chữa đã nêu hoặc thay
mới.
> “Chết” ren (tức ren bị chặt cứng không vặn ra được)
Ngâm trong xăng hoặc dầu hoả từ vài giờ đến vài ngày rồi dùng chìa vặn nối với cánh
tay đòn mà vặn ra. Vặn được rồi thì tuỳ theo hình dạng ren mà sửa chữa.
4. Sửa chữa bộ truyền đai
Bộ truyền đai dùng để truyền chuyển động giữa 2 trục khá xa nhau đảm bảo êm và bảo
vệ đuợc khi quá tải. Bộ truyền đai đuợc sử dụng nhiều trong ngành co khí chế tạo và một số
máy công nghiệp nhẹ.
Bộ truyền đai gồm có hai bánh đai (bánh dẫn và bánh bị dẫn) và dây đai.
4.1. Sửa chữa bánh đai
> Các dạng hỏng của bánh đai là:
- Bánh đai bị đảo nguyên nhân do sai số gia công, hoặc do trục bị cong, ổ trục bị mòn, công
nghệ lắp không đꢁng.
- Bề mặt làm việc của bánh đai bị mòn.
- Mòn lỗ may ơ, mòn mặt đầu may ơ, mòn rãnh then, vꢀ vành bánh đai, nứt vꢀ may ơ.
> Phuong pháp sửa chữa:
- Sửa chữa bề mặt bánh đai bị mòn:
+ Đối với bánh đai dẹt thì tiến hành tiện lại măt ngoài bánh đai. Hình dáng hình học
cần thiết áp dụng đối với bộ truyền không quan trọng cho phép thay đổi tốc độ ±5% so với
tốc độ cũ.
+ Nếu giữ nguyên tỷ số truyền i thì phải tiện cả hai bánh đai để đảm bảo:
+ Nếu bề mặt bánh đai bị mòn qua và vành đai đủ dày thì tiến hành tiện vành ngoài để
ép bạc sửa chữa sau đó gia công co.
+ Đối với đai thang khi mòn tiến hành tiện sâu rãnh. áp dụng đối với bộ truyền cho
phếp thay đổi tốc độ ±5% so với tốc độ cũ.
4.2. Sửa chữa đai truyền
Đai bị trùng dẫn đến trượt đai. Nguyên nhân là do dây đai bị dãn trong quá trình làm
việc do đó ta phải tiến hành căng đai để tăng góc ôm của đai.
Dây đai bị mòn , bị đứt thì thay đai mới (chọn đai có ký hiệu như cũ).
5. Sửa chữa trục bộ truyền xích
Khi cần truyền chuyển động từ một trục đến nhiều trục song song mà bộ truyền bánh
răng không sử dụng được, bộ truyền đai không chắc chắn thì ta sử dụng bộ truyền xích. Hiện
nay bộ truyền xích được sử dụng nhiều trong các ngành chế tạo máy.
5.1.Các dạng hỏng
Các dạng hỏng của bộ truyền xích là:
- Gỉ bề mặt khớp nối
- Khớp nối cứng bị xoay.
- Bung chốt xích hình thành từ cứng khớp và chốt bị xoay.
- Mòn bản lề, gãy chốt.
- Xích bị đứt.
- Con lăn bị vꢀ.
5.2. Phương pháp sửa chữa
- Gỉ bề mặt khớp nối. Nguyên nhân là do thiếu dầu bôi trơn vì vây phương pháp khắc phục
là rửa xích, dùng chất bôi trơn hợp lý.
- Khớp nối cứng bị xoay. Nguyên nhân là do gỉ sét bị ăn mòn ^ thay xích mới
- Bung chốt xích hình thành từ cứng khớp và chốt bị xoay do quá tải ^ Thay xích mới.
- Mòn bản lề, gãy chốt do ma sát, thiếu dầu bôi trơn gây nên, làm cho sự ăn khớp thường
xuyên không chính xác, gây tuột xích ^ Thay xích mới.
- Xích bị đứt do mòn, do quá tải ^ Nối lại xích.
- Con lăn bị vꢀ do bụi bẩn, do va đập đột ngột ^ Làm sạch và bôi trơn hợp lý cho bộ truyền.
6. Sửa chữa bộ truyền bánh răng
6.1. Các dạng hư hỏng của bộ truyền bánh răng
Các dạng hỏng của bánh răng rất đa dạng trong đó chủ yếu là :
- Mòn mặt làm việc của răng vì ma sát và giữa các răng ngăn khớp với nhau trong quá
trình làm việc, nhất là các bánh răng di trượt.
- Gẫy răng vì quá tải đột ngột hoặc vì chịu mômen uốn với chu kỳ nhỏ.
- Chắp rỗ bề mặt răng vì mỏi tiếp xꢁc
- vꢀ vành răng
6.2. Sửa chữa bánh răng trụ răng thẳng bị mồn
Nếu mòn ít (lượng mòn vượt quá giới hạn cho phép ít) thì có thể hàn răng. Đối với các
bánh răng không quan trọng độ mòn cho phép đến 0,2mm với mô đun từ 1-3mm; đến 0,3 với
mô đun 4mm đến 0,5mm với mô đun trên 4mm.
Phương pháp hàn đắp và bề mặt làm việc của răng bằng hàn hơi và hàn điện rất thích
hợp với các bánh răng mô đun lớn, chính xác thấp (cấp 2 trở lên) và dùng trong các bộ
truyền hở hoặc nửa kín. Đối với bánh răng quan trọng không nên dùng phương pháp này vì
lớp hàn đắp có sức bền tiếp xꢁc thấp và khó gia công chính xá. Những bánh răng mô đun
nhỏ bị mòn ít có thể đắp bằng hàn điện hàn quang rung.
Khi hàn phục hổi răng, tốt nhất là dùng kim loại đắp tương tự kim loại nền ( kim loại
của bánh răng). Không nên hàn đắp những bánh răng bằng thép hợp kim .
1_dưꢀng đổng
- Nếu bánh răng làm việc một chiều thì răng chỉ mòn một phía, có thể dùng lại bằng cách
lắp đảo chiều bánh răng. Nếu mayơ bánh răntg có hình dáng đối xứng ( đối xứng qua mặt
phẳng vuông góc với đuờng tâm và chia đôi chiều rông vành răng) thì không phải đảo mayơ
đổng thời với đảo bánh răng.
- Nếu các bánh răng bị mòn nhiều thì có thể tiện hết răng rổi ép bạc sửa chữa, sau đó gia
công răng. Lắp bạc có thể bằng keo dán, ép nóng hoặc ép nguội. Nếu răng đuợc sửa chữa
không qua nhiệt thì có thể ép bằng keo dán. Nếu có nhiệt luyện thì phải ép. Dùng phuơng
pháp ép nóng là tốt nhất. Khi nhiệt luỵện răng nên dùng phuơng pháp tôi bề mặt bằng dòng
điện cao tần hoặc bằng ngọn lửa ôxy axetilen. Để chông xoay cho bạc có thể dùng vít hãm
hoặc hàn theo chu vi lắp ghép.
- Nếu một bánh răng trong bộ bánh răng bậc bị mòn thì nên sửa chữa bằng cách ép bạc rối
mới làm răng trên bạc.
- Lỗ bánh răng bị mòn đuợc sửa chữa bằng cách tiện rộng rổi ép bạc bằng vít chông xoay,
sau đó gia công lỗ bạc đạt kích thuớc yêu cầu. Đối với bánh răng đã tôi cứng, truớc khi tiện
lỗ phải ủ. Nếu lỗ bánh răng mòn ít, có thể hàn đắp rổi gia công cơ, nhung truớc khi hàn đắp
cung phải tiễn lỗ rộng để chiều dày lớp kim loại đắp đủ lớn.
- Rãnh then trong lỗ bánh răng bị hu hỏng đuợc sửa chữa theo các biện pháp đã nêu ở phần
sửa chữa then và răng then.
- Mặt đầu răng bị mòn : luợnh mòn này thuờng không đámg kể và không quan trọng nên
không cần xử lý.
6.3. Sửa chữa bánh răng nứt vành hoặc moay ơ
Nếu nứt ở vành thì hàn hoặc táp một miếng đệm vào chỗ nứt. Tấm táp đuợc hàn hoặc
bắt vít vào vành bánh răng. Nếu nứt ở moayơ thì hàn hoặc tiện sấn mặt ngoài moayơ một
đoạn ngắn rổi ép đai thép vào để ngăn ngừa vết nứt phát triển. Mặt mꢁt moayơ bị mòn có thể
được tiện bớt cho phẳng hoặc hàn đắp gia công cơ.
Các bánh răng sau khi sửa chữa phải thoả mãn các số liệu trong các bảng từ bảng 9.1
đến bảng 9.3 và những yêu cầu sau đây:
+ Các yêu cầu kỹ thuật cơ bản của chi tiết mới.
+ Độ bám tốt của lớp đắp, nối với kim loại nền mặt răng không được có vết xước hoặc
có vết gia công cơ.
+ Độ đảo mặt nꢁt của vành răng không được quá 0,1- 0,2mm
Bảng 6.1 : Tốc độ vòng giới hạn và độ chính xác của bánh răng trụ
Tốc độ vòng giới hạn Vmax, m/s ứng với các cấp chính
Dạng bộ
xác của bộ truyền theo TCVN 1067-72
truyền
6
Đến 15
Đến 25
7
8
9
10
Đến 1
Đến 2
Răng thẳng
Đến 10
Đến 20
Đến 6
Đến 10
Đến 2
Đến 3,5
Răng nghiêng
Bảng 6.2: Dung sai độ đảo hướng kính của vành bánh răng trụ, jam (Theo
TCVN1067-71)
Cấp
Mô
Dung sai đường kính vòng chia, mm
chính
xác
6
đun
50 50-80
80
120
200
200
320
320
500
500
800
(mm)
120
1-16
1-30
20
26
42
32
50
38
58
45
70
50
80
58
95
7
32
50
8
1-50
65
80
95
110
180
280
450
120
200
320
500
150
240
380
600
9
2,5-50
2,5-50
2,5-50
80
105
170
260
120
20
180
240
380
10
11
120
200
320
Bảng 6.3: Dung sai của sai số hướng răng, độ không song song và độ xiên của các
đường tâm bánh răng trụ (Theo TCVN 1067-71)
Cấp chính
Dung sai, Lim, theo chiều rộng vành răng, mm
Mô đun
xác
(mm)
55
55-110
111-160 160-220 220-320
6
7
1- 16
1-30
13
17
21
26
34
42
15
19
24
30
38
48
17
21
26
34
42
52
19
21
36
38
48
58
22
28
36
45
55
70
8
1-50
9
2,5-50
2,5-50
2,5-50
10
11
Bảng 6.4: Hư hỏng trong các bộ truyền bánh răng trụ
Hư hỏng
Dự đoán nguyên nhân
Vật liệu bánh răng bị mòn
vì làm việc lâu với tải trọng
Cách sử lý
Thay bánh răng, kiểm tra độ
nhớt của dầu nếu cần thi thay
dầu. nếu thiếu dầu thì bổ xung
Tróc bề mặt làm việc lớn. Bề mặt làm việc của
của răng
răng bị quá tải không đủ dầu
bôi trơn hoặc không đủ độ
nhớt
Xước bề mặt làm
việc của răng
Răng bị làm việc trong điều Bôi trơn bộ truyền đꢁng các
kiện ma sát khô chế độ quy định
Răng mòn nhanh
quá, chóng mất hình
dạng của prôfin răng
Có bùn, bụi, hạt mài hoặc
mạt sắt lọt vào bộ truyền
Lau chùi sạch và bôi trơn
hợp lý
Răng bị quá tải hoặc có vật Đã nêu cách sửa chữa ở trên
Gẫy răng
lạ lọt vào
nếu cần thì thay thế
Giảm khoảng cách trục (nếu
có thể), Điều chỉnh bộ truyền
Nếu cần đảm bảo khoảng cách
trục và tỷ số truyền thì thay thế
bánh răng mới
Bộ truyền làm việc
ổn quá kèm theo va
đập
Khoảng cách trục lớn quá
Giảm chiều dày răng hoặc
thay răng mới (nếu cần giữ
khoảng cách trục) tăng khoảng
cách trục
Bộ truyền bị kẹt và
Khe hở cạnh răng quá bé
thậm chí bằng 0
nóng quá
7. Sửa chưa bộ truyền trục vít – bánh vít
7. Sửa chữa bộ truyền trục vít – bánh vít.
Bộ truyền trục vít - bánh vít được sử rụng rộng rãi trong các máy cắt kim loại và ở
những cơ cấu chia độ. Trục vít thường làm liền, với trục những trục vít lớn có thể chế tạo rời
với trục.
7.1. Các dạng hư hỏng của bộ truyền trục vít
Mòn răng ở trục vít và bánh vít; sây sát mặt răng; tróc rỗ hoặc sứt mẻ răng bánh vít;
mòn lỗ bánh vít; mòn ngõng trục bánh vít; nứt các chi tiết của bộ truyền, răng bánh vít
không đều..v.v.
7.2. Sửa chữa bộ truyền trục vít
Bảng 7.1: Hư hỏng thường gặp của bộ truyền trục vít bánh vít
Hư hỏng
Dự đoán nguyên nhân
Cách khắc phục
Các đường tâm của trục Điều chỉnh và sửa lắp
vít và bánh vít không Tăng khoảng cách trục
vuông góc với nhau. khe( nếu có thể) Gia công
Truyền động nặng hoặc
kẹt tắc
hở cạnh răng nhỏ quá
nhỏ bớt trục vít
Trục vít quay và bánh
Tất cả các bộ phận đều Thay hoặc sửa chữa
mòn quá làm cho răng như đã nêu ở trên
vít không quay
trục vít và bánh vít không Thay bánh vít
với tới nhau
Đứt răng bánh vít vì quá
tải
Khe hở chiều trục của
bánh vít hoặc trục vít quá
lớn
Điêu chỉnh khe hở ổ
trục nếu cần thì thay ổ
Mòn ổ trục
Hành trình tự do của Mòn các chi tiết ở răng Thay trục vít và bánh
trục vít lớn quá bánh vít và trục vít vít
Xuất hiện các mạt đổng Không có hoặc không đủ Lau ổ sạch rổi đổ đầy
trong bộ truyền
dầu bôi trơn
dầu bôi trơn
Đường tâm trục vít không
nằm trong mặt phẳng trung
bình của bánh vít ( Khi thử
bằng sơn thấy vết sơn ở
răng bánh vít bị lệch về
một phía
Điều chỉnh bánh vít
theo chiều trục đạt trị số
cho phép trong bảng 5-
21
Răng bánh vít chỉ mòn ở
một đâu( mòn không đều)
Bài 2. Sửa chữa các chi tiết, cụm máy
* Mục tiêu:
- Trình bày được nhiệm vụ, phân loại, cấu tạo của thân máy, băng trượt, và trục.
- Giải thích được các hiện tượng, nguyên nhân hư hỏng của các bộ phận; lựa chọn được
phương pháp kiểm tra, sửa chữa thích hợp;
- Tháo, lắp; nhận dạng; kiểm tra, sửa chữa các bộ phận đꢁng quy trình, quy phạm; đảm bảo
các tiêu chuẩn kỹ thuật;
- Rèn luyện tác phong công nghiệp.
* Nội dung .
1. Sửa chữa thân máy
………………………………………………………….
2. Sửa chữa băng trượt dẫn hướng
2.1. Băng máy
Băng máy là bề mặt quan trọng khi làm việc của các máy cắt kim loại,có ảnh hưởng
đến độ chính xác của các chi tiết ra công. Băng máy lại là bề mặt làm việc của thân máy nên
việc sửa chữa nó phải hết sức thận trọng và tỷ mỉ
2.2. Các điều kiện kỹ thuật đảm bảo khi sửa chữa băng máy
- Băng máy phải thẳng và phẳng các bề mặt của băng máy phải song song với nhau .
- Sau khi sửa chữa lần cuối các băng máy làm việc theo ma sát trượt, các vết sơn tiếp
sꢁc khi kiểm tra bằng thước thẳng, mặt phẳng và mặt trượt của chi tiết đối tiếp phải bằng
hoặc lớn hơn các trị số cho trong bảng ( 11.1) và phải phân bố đều.
Bảng 2.1 : Số điểm sơn tiếp xúc ít nhất cần có của các băng máy ma sát trượt khi kiểm
tra bằng thước thẳng hoặc mặt phẳng mẫu.
Bề mặt
Số điểm sơn tiếp xꢁc/ 25x25
Đốivới máy chính xác cao
Đốivới máy chính xác thường
Mặt trượt ở bàn máy
20
16
10
10
Mặt trượt ở bàn dao và con
- Trên bề mặt băng máy không được có vết xước, rỗ, lõm, vết gia công cơ ( trừ vân
cạo), ba via...
- Độ cứng phải đổng đều trên toàn bộ bề mặt.
- Băng máy dài đến 1.5 m không được quá 3 chỗ hàn đắp. Băng máy dài trên 1,5m
không được quá 6 chỗ hàn đắp.
- Đảm bảo độ vuông góc giữa các bề mặt băng máy nằm ngang và bề mặt băng máy
thẳng đứng ( ở các máy mài tròn...)
- Chỗ chuyển tiếp từ mặt không gia công đến mặt gia công hoặc giữa các mặt gia công
với nhau phải vát hoặc lượn tròn.
2.3. Các phương pháp sửa chữa băng máy
Tuỳ theo chiều dày lớp kim loại được lấy đi ở nguyên công gia công chủ yếu, người ta
phân biệt 3 phương pháp sửa chữa băng máy chủ yếu: Phương pháp cạo, phương pháp mài
và phương pháp bào hoặc phay.
a. Phương pháp cạo
Chọn phương pháp sửa chữa băng máy
Bảng 2 .2: Chọn phương pháp sửa chữa băng máy
Độ mòn, mm
Phương pháp sửa chữa
(Cạo ) hoăc (cạo + mài nghiền)
0,2
0,3
(mài) hoặc ( dũa+ cạo)
0,3-0,5
0,5
(bào tinh hoặc dũa)+(cạo hoặc mài nghiền)
Bào thô rồi bào tinh, sau đó mới bào hoặc cạo.
Khi cạo, phải cạo chỗ ít mòn nhất, lượng dư để cạo không được quá trị số cho trong
bảng 11.3. Trong quá trình cạo phải kiểm tra độ phẳng của mặt được cạo bằng số vết sơn in
vào dùng thước hay mặt phẳng mẫu để kiểm tra. Mỗi lần kiểm tra, phải chùi sạch vết sơn cũ
ở bề mặt băng máy, chùi sạch thước kiểm bằng khăn có thẩm xăng rồi lau bằng khăn lau
khô, sau đó phết sơn lên băng máy. Lớp sơn thật đều và mỏng, cạo càng tinh, lớp sơn kiểm
tra phải càng mỏng muốn vậy ta dùng một thước kiểm khác gạt đều lên băng máy.
Lượng dư cho cạo, mm (Bảng 11.3):
Bảng 2.3: Lượng dư cho cạo, mm
Chiều rộng
mặt phẳng
Chiều dài mặt phẳng được cạo, mm
được cạo, mm
100 - 500 500- 1000 1000-2000 2000-4000 4000-6000
0.05
0.08
0.08
0.10
0.10
0.12
0.12
0.15
0.15
0.20
100
100-500
mtraáyđư(Kbợằchnibgcắạđcoổn,ngngagnhogổàiqsđouộavtbàhăẳđnnổgggmváà)áyvđ)àộ. đpộhẳcnogngcầvnênkhiểcmủatrtaoàđnộ bsoộnbgănsogn(gbăcnủga ncáivcobvềàmcặầtubkăinểgm
Phương pháp cạo đảm bảo chất lượng bề mặt mặt cao nhưng tốn sức, năng suất thấp và
đắt tiền, vì vậy nên thay băng mái tính hoặc kết hợp cạo với mái nghiền bằng bột mài; đôi
khi có thể dùng bào với dao bào rộng bản đạt năng suất rất cao.
b) Phuong pháp mài: Nguyên công mài có thể tiến hành trên máy mài chuyên dùng
hoặc trên máy bào giường, máy phay giường với đổ gá mài. Dùng đá mài hình bát trụ (hoặc
bát côn) đường kính 100 - 175mm, tốc độ cắt 30 - 40m/s. Còn có thể dùng một đổ gá mài rất
gọn nhẹ đặt trực tiếp lên băng máy cần sửa chữa và dịch chuyển băng truyền động xích.
Bảng 2.4: Các dạng cạo và công dụng.
Chiều
Số vết tiếp xꢁc
Chiều
rộng mũi
cao
dài đường đạt được trong
cao, mm mỗi ô vuông 25 x
25mm
Dạng cạo
Công dụng
Cạo chỗ có vết son tiếp
xꢁc to quá, chuẩn bị bề
mặt để cạo bán tinh
Thô
20-25
10
4-6
Gia công lần cuối các
băng máy, mặt trượt của
bàn máy bàn cạo.
Bán tinh 12-16
5-10
8-15
Gia công tinh dụng cụ
kiểm tra
Tinh
Tinh
5-10
3-5
-
20-25
-
-
Dể trang trí, tạo văn hoá
Phương pháp mài đảm bảo chính xác cao và năng suất cao, vì vậy nó được sử dụng
rộng rãi ở các nước tiên tiến để sửa chữa băng máy. Người ta thường kết hợp mài băng máy
và cạo mặt trước của các chi tiết đối tiếp (như đế ụ động, bàn dao dọc máy tiện, mặt trượt
bàn máy bào,vv...) c) Phương pháp bào: Phương pháp này rất thích hợp để sửa chữa những
băng máy bị mòn nhiều. Máy được sửa chữa phải bắt chặt trên máy bào giường và điều
chỉnh cẩn thận bằng đổng hổ so. Khi kẹp chặt đừng siết bulông quá mức vì có thể làm cho
băng máy bị biến dạng đàn hổi, không đạt được độ chính xác sau khi gia công.
Thoạt tiên bào thô, sau đó dùng đổng hổ so kiểm tra độ thẳng và điều chỉnh băng chêm.
Bào tinh bằng dao bào rộng bản có gắn mảnh hợp kim BK6 hoặc BK8, chiều rộng lưꢀi cắt
của dao tới 40mm. Mặt trước và sau của dao được gia công tinh bằng mài nghiền. Khi bào
gá nghiêng lưꢀi cắt đi 15 -300 so với đường vuông góc của phương tiến dao đẻ giảm lực cắt,
tăng độ nhẵn gia công. Lượng dư bào tinh nên lấy là 0,3 - 0,6 mm và gia công làm 4-7 bước:
Hai bước đầu với chiều sâu cắt 0.08 - 0.12mm; ba, bốn bước sau với chiều sâu cắt 0.05mm;
bào tinh là nguyên công cuối cùng của công việc sửa chữa. Sau khi bào tinh băng máy có thể
đạt độ nhẵn bề mặt A 7, A 8, sai số về độ phẳng và độ vênh không quá 0.02mm trên chiều
dài 1000mm.
Nếu không có dao bào rộng bản, có thể bào thô rổi cạo hoặc mài.
Ngoài ba phương pháp cơ bản trên, các phương pháp kết hợp nhiều hình thức gia công
(cạo, mài, bào , mài nghiền) cũng được dùng rộng rãi nhằm mục đích phát huy ưu điểm của
từng hình thức gia công cơ ở các giai đoạn sửa chữa băng máy (thô, bán tinh, tinh) để đạt
năng suất cao, độ nhẵn bề mặt và độ chính xác hợp yêu cầu kỹ thuật.
3. Sửa chữa ổ trượt và ổ lăn
3.1. Sửa chữa ổ lăn
3.1.1. Đặc điểm lắp ghép
Ổ lăn được lắp ghép với bộ phận máy theo đường kính trong- d ( lắp với trục) và kích
thước ngoài của vòng ngoài-D ( lắp với vỏ hộp), ổ dùng để đꢀ trục và làm cho trục chuyển
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình mô đun Thực hành nguội sửa chữa máy công cụ - Nghề: Cắt gọt kim loại", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_mo_dun_thuc_hanh_nguoi_sua_chua_may_cong_cu_nghe.pdf

