Giáo trình Khí tượng hải dương - Nghề: Điều khiển tàu biển

CỤC HÀNG HẢI VIỆT NAM  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG HÀNG HẢI I  
GIÁO TRÌNH  
MÔN HỌC: KHÍ TƯỢNG  
HẢI DƯƠNG  
NGHỀ: ĐIỀU KHIỂN TÀU BIỂN  
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG  
(Ban hành kèm theo Quyết định số.....QĐ/ ngày....tháng.....năm....của.....)  
HẢI PHÒNG, NĂM 2017  
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN  
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được  
phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo.  
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh  
thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.  
i
LỜI GIỚI THIỆU  
Ngành giao thông vận tải đường biển Việt Nam, cũng như nhiều nước khác trên  
thế giới, đã và đang phát triển mạnh mẽ. Các tàu biển được trang bị các phương tiện  
dẫn đường tối tân, cho phép đi biển trong mọi điều kiện thời tiết. Sự hoàn thiện kết  
cấu thân tàu, kích thước cuả tàu chứng tỏ rằng việc đi biển trong thời gian hiện nay  
không phụ thuộc quá nhiều vào ảnh hưởng của điều kiện thời tiết. Tuy vậy, những sỹ  
quan hàng hải trong hoạt động thực tiễn của mình luôn luôn phải chú ý đến các điều  
kiện thời tiết và tình trạng mặt biển, vì chúng có ảnh hưởng đáng kể đến độ an toàn  
và hiệu quả kinh tế của việc khai thác tàu biển.  
Sóng to, gió lớn, tầm nhìn xa hạn chế, hải lưu bất thường… là những nhân tố  
chủ yếu đe doạ đến sự an toàn trên biển. Chúng làm giảm tốc độ tàu, kéo dài thời  
gian chuyến đi, làm tiêu hao nhiên liệu quá mức, gây ra những tổn thất cơ học đối với  
thân tàu hoặc hư hỏng hàng hoá, làm giảm hiệu quả kinh tế.  
Đối với người điều khiển tàu biển phải biết được các điều kiện khí tượng - thuỷ  
văn nơi tàu mình đang hoạt động và sắp đi tới, để có thể tránh mọi nguy hiểm cho  
tàu, bảo đảm an toàn và mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất.  
Để phục vụ cho công tác dạy và học trong nhà trường được tốt, tập thể giảng  
viên tổ Hàng hải cơ sở, khoa Điều khiển tàu biển, trường Cao đẳng Hàng hải I đã  
biên soạn giáo trình KHÍ TƯỢNG HẢIDƯƠNG để làm tài liệu giảng dạy và học tập  
trong nhà trường đối với hệ Cao đẳng, ngành Điều khiển tàu biển. Giáo trình này  
cũng là tài liệu cho các độc giả chuyên ngành về Điều khiển tàu biển cùng các lĩnh  
vực có liên quan tham khảo.  
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn những đóng góp và sự cộng tác nhiệt tình của  
các đồng nghiệp trong Khoa Điều khiển tàu biển - Trường Cao đẳng Hàng hải I. Mặc  
dù đã có nhiều cố gắng, nhưng không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong các bạn  
đồng nghiệp và bạn đọc đóng góp ý kiến để chúng tôi tiếp tục cập nhật và hiệu chỉnh  
cho giáo trình “KHÍ TƯỢNG HẢI DƯƠNG” ngày thêm hoàn thiện hơn.  
Xin chân thành cám ơn.  
Hải Phòng, ngày…tháng… năm…  
Tham gia biên soạn  
1. Chủ biên: Ks, TTr Lương Văn Hải  
2. Ks, SQQL Thái Hữu Kha  
3. Ths, SQQL Nguyễn Chí Thạnh  
ii  
 
MỤC LỤC  
Trang  
iii  
 
iv  
v
vi  
vii  
DANH MỤC BẢNG  
Tên bảng  
Stt  
1
Trang  
4
Bảng 1.1. Bảng phân chia khí quyển  
2
3
4
5
6
7
8
9
Bảng 2.1. Bảng phân hạng mây  
Bảng 2.2. Bảng chuyển độ ra hướng và ngược lại  
Bảng 2.3. Bảng cấp gió Beaufort  
22  
34  
35  
39  
59  
66  
68  
69  
70  
77  
78  
92  
Bảng 2.4. Thang cấp gió Beaufort  
Bảng 3.1. Các vùng biển thường có bão nhiệt đới và tên riêng  
Bảng 3.2. Độ giảm khí áp và khoảng cách đến tâm bão  
Bảng 3.3. Bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động ở Biển Đông  
Bảng 3.4. Số cơn bão ảnh hưởng vào Việt Nam theo chu kỳ 5 năm  
10 Bảng 3.5. Số cơn bão đổ bộ vào các khu vực theo thời gian  
11 Bảng 4.1. Phân cấp sóng biển theo độ cao  
12 Bảng 4.2. Dấu hiệu xác định cấp trạng thái mặt biển  
13 Bảng 5.1. Tên gọi bão nhiệt đới trong bản tin báo bão  
DANH MỤC HÌNH ẢNH  
Stt  
1
2
Tên hình  
Hình 1.1. Sự phân chia khí quyển thành các tầng  
Hình 1.2. Biến trình ngày của khí áp trên các vĩ độ khác nhau  
Hình 1.3. Áp kế kiểu hộp  
Trang  
5
7
8
3
4
Hình 1.4. Áp kế tự ghi  
9
5
6
7
8
Hình 1.5. Các hệ thống khí áp  
Hình 1.6. Ẩm kế Assman  
Hình 1.7. Ẩm kế tự ghi  
Hình 2.1. Phân hạng mây  
Hình 2.2. Mây ti  
10  
14  
15  
23  
24  
25  
25  
26  
27  
28  
28  
29  
30  
9
10 Hình 2.3. Mây ti tích  
11 Hình 2.4. Mây ti tầng  
12 Hình 2.5. Mây cao tích  
13 Hình 2.6. Mây cao tầng  
14 Hình 2.7. Mây tầng tích  
15 Hình 2.8. Mây tầng  
16 Hình 2.9. Mây vũ tầng  
17 Hình 2.10. Mây tích  
viii  
   
18 Hình 2.11. Mây cu fra  
19 Hình 2.12. Mây cu con  
20 Hình 2.13. Mây vũ tích  
21 Hình 2.14. Vòng chia độ và 16 hướng gió chính  
22 Hình 2.15. Máy đo gió cầm tay  
23 Hình 2.16. Máy đo gió cố định hiển thị số trên tàu  
24 Hình 2.17. Xác định hướng và tốc độ gió thực nhờ giản đồ gió  
25 Hình 2.18. Gió biển  
26 Hình 2.19. Gió đất  
27 Hình 2.20. Vòi rồng trên biển  
30  
31  
31  
35  
40  
40  
42  
43  
43  
45  
49  
50  
50  
51  
57  
60  
61  
62  
65  
71  
28 Hình 2.21. Ký hiệu front trên bản đồ thời tiết  
29 Hình 2.22. Hệ mây trong front nóng  
30 Hình 2.23. Thời tiết trong front lạnh loại 1  
31 Hình 2.24. Hệ mây front lạnh loại 2  
32 Hình 3.1. Xoáy nghịch, xoáy thuận  
33 Hình 3.2. Quỹ đạo trung bình của bão ở tây Thái Bình Dương  
34 Hình 3.3. Các kiểu dy chuyển của bão ở tây Thái Bình Dương  
35 Hình 3.4. Sơ đồ mặt cắt ngang của một cơn bão  
36 Hình 3.5. Xác định hướng đến tâm bão theo Buysbalotte  
37 Hình 3.6. Đường đi trung bình trong các tháng của bão ở biển  
Đông  
38 Hình 3.7. Quỹ đạo dy chuyển của cơn bão Wayne (8614)  
39 Hình 4.1. Các yếu tố của sóng biển  
40 Hình 4.2. Sơ đồ giải thích hiện tượng thủy triều  
41 Hình 4.3. Các đặc trưng của thủy triều  
42 Hình 5.1. Bản đồ thời tiết facsimile  
43 Hình 5.2. Bản đồ thời tiết facsimile bề mặt  
44 Hình 5.3. Ký hiệu gió trên bản đồ facsimile  
45 Hình 5.4. Bản đồ facsimile trường sóng biển  
72  
76  
84  
86  
94  
95  
96  
98  
ix  
GIÁO TRÌNH MÔN HỌC  
Tên môn học:Khí tượng hải dương  
Mã môn học:MH 18  
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học:  
- Vị trí: Môn học này được giảng dạy sau khi người học đã học: Các môn học thuộc  
kiến thức cơ sở ngành; La bàn từ; Máy móc điện, Vô tuyến điện hàng hải.  
- Tính chất: Môn học chuyên ngành bắt buộc.  
- Ý nghĩa và vai trò của môn học: Môn học cung cấp cho người học các kiến thức về  
khí tượng - thuỷ văn để có thể tránh mọi nguy hiểm cho tàu, bảo đảm an toàn và mang  
lại hiệu quả kinh tế.  
Mục tiêu môn học:  
Sau khi học xong học phần này, người học có khả năng:  
- Về kiến thức: Trình bày được khái niệm, đặc điểmcủa các hiện tượng khí tượng,  
thủy văn;  
- Về kỹ năng: Sử dụng được các dụng cụ đo các yếu tố khí tượng. Quan trắc được  
nhiệt độ, khí áp, độ ẩm, quan trắc được mây trên tàu biển. Giải thích được các hiện  
tượng thời tiết. Xác định được hướng gió thật,sử dụng được các dụng cụ đo gió. Đánh  
giá được các hiện tượng thời tiết để dẫn tàu an toàn;  
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Rèn luyện tính cẩn thận, chính xác khi nhận  
định, đánh giá thời tiết trên biển.  
Nội dung môn học:  
1
CHƯƠNG 1.KHÍ QUYỂN, CÁC ĐẠI LƯỢNGXÁC ĐỊNHTRẠNG THÁI KHÍ  
QUYỂN  
Mã chương: MH.6840109.18.01  
Giới thiệu:  
Khí quyển trái đất là hỗn hợp gồm các chất khí, hơi nước và các hạt bụi rất nhỏ  
bao quanh trái đất, trong đó các đại lượng đặc trưng cho khí quyển trái đất đóng vai  
trò rất quan trọng hình thành nên các hiện tượng thời tiết. Các hiện tượng thời tiết có  
ảnh hưởng và tác động rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của tất cả các sinh vật trên  
trái đất, kể cả con người.  
Mục tiêu:  
- Trình bày được thành phần, cấu trúc của khí quyển;  
- Xác định được các đại lượng đặc trưng của khí quyển;  
- Rèn luyện tính cẩn thận, kiên trì khi xác định các đại lượng vật lý của khí quyển trên  
tàu.  
Nội dung:  
1. Thành phần khí quyển trái đất  
1.1. Thành phần khí quyển gần mặt đất  
Khí quyển tạo thành từ hỗn hợp của nhiều chất khí khác nhau, trong đó (theo  
thể tích) bao gồm: nitơ (chiếm 78,09%), ôxy (20,95%) và ocgon (0,93%). Còn lại một  
lượng không đáng kể (tổng cộng là 0,03%) là khí cac-bô-nic, nê-ôn, he-li, me-tan,  
hiđrô, ôzôn v.v…trong không khí bao giờ cũng có hơi nước và các tạp chất lơ lửng  
khác. Không khí không chứa hơi nước và các tạp chất cơ học gọi là không khí sạch và  
khô.  
Hơi nước đi vào khí quyển do sự bốc hơi từ bề mặt nước, mật đất ẩm, lớp phủ  
thực vật v.v… Lượng hơi nước giảm rất nhanh khi độ cao tăng lên. Sự tồn tại của hơi  
nước phần nào làm thay đổi thành phần (theo thể tích) của không khí. Hơi nước đóng  
vai trò quan trọng trong khí quyển. Do sự ngưng kết và đóng băng tạo ra các dạng  
mây, mưa,tuyết,sương mù… làm giảm tầm nhìn xa. Ngoài ra hơi nước còn có tính  
chất hấp thụ, bức xạ sóng dài cùa trái đất nên ảnh hưởng rõ rệt đến nhiệt độ của khí  
quyển.  
Khí các-bô-níc đi vào khí quyển từ các đám cháy, từ sự mục nát, sinh hoá của  
sinh vật, từ sự thở ra của động vật…  
Khí ô-zôn tạo thành từ ba nguyên tử ôxy. Ở tầng thấp của khí quyển khí ô-zôn  
tạo ra từ các loại chớp giông. Ở các tầng cao của khí quyển, khí ô-zôn sinh ra trong  
kết quả của sự tương tác tia tử ngoại mặt trời với ôxy. Vai trò chính và rất quan trọng  
2
     
của khí ôzôn với cuộc sống trên trái đất là khả năng hấp thụ bức xạ tử ngoại mặt trời.  
Khíôzôn có thể hấp thụ 4% năng lượng tia của mặt trời, làm tăng nhiệt độ không khí ở  
độ cao từ 20-50 km.  
1.2. Thành phần khí quyển trên cao  
Từ độ cao 90-100 km trở lên thì thành phần khí quyển thay đổi mạnh. Trên 100  
km quan sát thấy có ôxy đơn nguyên tử, còn trên 300 km thì một phần ni-tơ bị phân  
rã. Ở độ cao trên 1000 km khí quyển tạo thành chủ yếu từ khí hê-li và khí hyđrô. Các  
quan sát của trạm tự động cho biết ở độ cao trên 2000 km còn tồn tại dấu hiệu của khí  
quyển trái đất, còn gọi là không gian vũ trụ.  
2. Cấu trúc khí quyển  
2.1. Độ cao và khối lượng khí quyển  
Dưới tác dụng của lực hút của trái đất, mật độ không khí lớn nhất ở lớp gần mặt  
đất. Theo chiều tăng của độ cao, mật độ giảm xuống (khoảng cách giữa các phần tử  
tăng lên). Dần dần mật độ không khí tiến gần đến mật độ của không gian vũ trụ (ở độ  
cao trên 2000 km).  
Ngày nay, người ta tạm thời công nhận giới hạn vật lý trên cùng của khí quyển  
trái đất nằm ở độ cao 2000 km.  
Khối lượng tổng cộng của khí quyển bằng 5,16×10²¹ g, gần 50% khối lượng ở  
trong bề dày cách mặt đất 5 km, 75% nằm trong lớp dày đến 10 km và 90% đến 16 km.  
2.2. Sự phân chia khí quyển thành các tầng  
Nghiên cứu các hiện tượng quan sát được trong khí quyển người ta thấy có thể  
chia khí quyển thành một loạt những lớp cầu đồng tâm. Sự phân chia đó thực hiện  
theo các nguyên tắc khác nhau. Nếu theo những đặc trưng của sự thay đổi nhiệt độ với  
độ cao và đặc biệt về chế độ nhiệt bên trong của mỗi lớp thì khí quyển được chia  
thành năm tầng (lớp cầu) chính sau đây (giữa các tầng đó là lớp chuyển tiếp).  
Tầng đối lưu: Điều nổi bật của tầng đối lưu là nhiệt độ hạ theo độ cao. Đại  
lượng hạ nhiệt độ trung bình cỡ 6 -7ºc trên 1 km độ cao. Trong tầng đối lưu bao giờ  
cũng có hơi nước, có mây, có mưa, tuyết, sương mù… Gió trong tầng đối lưu trên các  
vĩ độ vừa và cao chủ yếu có hướng tây và càng lên cao cường độ gió càng tăng, đạt  
giá trị cực đại ở gần giới hạn trên. Áp suất không khí giảm mạnh theo độ cao và ở độ  
cao 5 km, áp suất còn lại ½, ở độ cao 10 km là ¼ so với ở mặt đất.  
Độ cao của giới hạn trên tầng đối lưu không ổn định, nó phụ thuộc vào mùa  
trong năm và đặc tính của các quá trình khí quyển. Sự gia tăng của giới hạn trên tầng  
đối lưu quan sát thấy từ mùa đông đến mùa hạ và từ cực về xích đạo.  
3
       
Tầng bình lưu: Nằm giữa tầng đối lưu và bình lưu là lớp chuyển tiếp (gọi là đối  
lưu hạn). Độ dày của lớp này khoảng 1-2 km. Trong đối lưu hạn nhiệt độ ngừng hạ  
theo độ cao.  
Đặc điểm chính của tầng bình lưu là sự ổn định nhiệt độ theo độ cao ở phần  
dưới và sự gia tăng lên theo độ cao bắt đầu từ km thứ 25 cho đến tận giới hạn trên. Ở  
giới hạn trên của tầng bình lưu nhiệt độ tăng đến 0ºc, và cũng có thể đạt cực đại đến  
dương 10ºc thậm chí dương 30ºc. Điều đó được giải thích bởi tính hấp thụ lớn của  
ôzôn mà khối lượng lớn của nó nằm ở lớp này. Trong tầng bình lưu hơi nước rất hiếm  
và hầu như không có mây.  
Bảng 1.1.Bảng phân chia khí quyển  
Độ cao trung bình  
Các tầng (lớp cầu)  
Tầng đôi lưu (tropos)  
Các lớp chuyển tiếp  
Lớp đối lưu hạn  
(km)  
0 – 20  
(tronpopauso)  
Lớp bình lưu hạn  
(stratopause)  
Tầng bình lưu (stratus)  
20 – 50  
50 – 85  
85 – 800  
Tầng trung gian (Tầng  
giữa-mezos)  
Tầng nhiệt (Thượng  
tầng- termos)  
Lớp mezo hạn (mezopause)  
Lớp Termô hạn (termopause)  
Tầng khí quyển ngoài  
Trên 800 – 2000  
Tầng trung gian: Lớp chuyển tiếp giữa tầng bình lưu và tầng trung gian gọi là  
lớpbình lưu hạn. Trong tầng trung gian nhiệt độ hạ theo độ cao. Tại giới hạn trên của  
tầng này nhiệt độ xuống tới âm 70ºc, âm 80ºc. Tầng trung gian có đặc trưng là sự  
nhiễu loạn mạnh và xáo trộn của không khi theo chiều thẳng đứng, mật độ không khí  
ở đây không đáng kể. Tại giới hạn trên của tầng này áp suất không khí nhỏ hơn áp  
suất trên mặt đất khoảng 200 lần. Tốc độ gió đạt tới vài trăm km/giờ. Trên độ cao  
chừng 82-85 km, thỉnh thoảng quan sát thấy loại mây ánh bạc được tạo thành từ các  
tinh thể băng nhỏ xíu.  
Tầng nhiệt: Đặc trưng của tầng này là sự tăng lên của nhiệt độ theo độ cao, có  
liên quan tới sự hấp thụ năng lượng mặt trời bởi các nguyên tử ôxy. Theo tính toán,  
tại giới hạn trên (khoảng 800 km), nhiệt độ có thể đạt tới 750ºc -1500ºc. Dĩ nhiên,  
nhiệt độ này không thể đo được. Khí quyển tầng nhiệt vô cùng loãng.  
Tầng khí quyển ngoài:Nhiệt độ của không khí ở tầng này còn có thể đạt giá trị  
cao hơn ở tầng nhiệt. Chuyển động của các chất khí nhẹ như hyđrô và hêli với tốc độ  
4
rất lớn, có thể đạt tới 11,2 km/s và có thể thắng lực hấp dẫn của trái đất đi vào không  
gian giữa các hành tinh.  
Ngoài cách phân chia khí quyển thành năm tầng theo trạng thái nhiệt trên đây,  
người ta còn phân chia theo tính chất điện. Theo cách này tầng nhiệt được gọi là tầng  
điện ly. Trong phần lớn độ dày của tầng điện ly (từ 60-80 km đến 800-1000 km) có  
mật độ lớn của các i-ôn nguyên tử và phân tử của các chất khí khác nhau.  
Hình 1.1. Sự phân chia khí quyển thành các tầng  
[Nguồn:Khí tượng – Trường Cao đẳng Hàng hải 1- 2016]  
3. Các đại lượng đặc trưng cho khí quyển  
3.1. Áp suất không khí  
3.1.1. Mật độ và áp suất không khí  
a. Mật độ không khí  
Mật độ không khí là lượng không khí trong một đơn vị thể tích, tính bằng g/cm³  
hay kg/m³. Mật độ không khí phụ thuộc vào nhiệt độ, ẩm độ và khí áp.  
- Nhiệt độ không khí càng cao thì mật độ của nó càng nhỏ, vì cùng với sự gia tăng của  
nhiệt độ không khí, thì tất cả vật chất bị nở ra và khối lượng trong một đơn vị thể tích  
giảm xuống.  
5
     
- Độ ẩm không khí càng lớn, mật độ của nó càng giảm, vì khối lượng phân tử hơi  
nước chỉ bằng 0,622 khối lượng phân tử không khí.  
- Áp suất càng lớn, thì mật độ càng tăng vì trong cùng một thể tích chứa khí, dưới áp  
lực tăng lên tất cả khí bị nén chặt thêm, còn khi áp suất giảm thì chúng nở ra nhanh  
chóng.  
Trên thực tế, mật độ không khí trên bề mặt đất thay đổi từ 1,175 – 1,200 kg/m³  
đối với vùng xích đạo và từ 1,500 – 1,600 kg/m³ đối với vùng vĩ độ trung bình và cao,  
nơi mà nhiệt độ không khí rất thấp.  
b. Áp suất không khí (gọi tắt là khí áp)  
Là một trong những đặc trưng quan trọng nhất của khí quyển. Áp suất được đo  
bởi khối lượng (tỉ lệ với trọng lượng) của cột khí thẳng đứng trên một đơn vị bề mặt  
ngang.  
Sự phân bố khí áp trên bề mặt đất không đều. Bởi vì như ta hiểu, khối lượng cột  
khí (hay trọng lượng) phụ thuộc vào mật độ của nó (tức là phụ thuộc vào nhiệt độ, độ  
ẩm…), mà còn phụ thuộc vào vĩ độ địa dư (vì lực hấp dẫn thay đổi theo vĩ độ).  
Càng lên cao mật độ không khí càng giảm và giảm rất nhanh so với nhiệt độ và  
độ ẩm. Vậy khí áp giảm mạnh theo độ cao.  
c.Đơn vị đo khí áp  
Trong hệ thống đo lường quốc tế (SI), đơn vị khí áp gọi là Paskan (viết tắt Pa),  
là áp lực của khí 1N phân bố đều trên một đơn vị diện tích ngang 1m² (N/m²).  
Trong khí tượng thực hành, đơn vị đo áp suất không khí được dùng là mi-li-bar  
(viết tắt mb) và mi-li-mét thuỷ ngân (viết tắt là mmHg).  
푑푖푛  
1mb = 10³  
= 10 pa (vì 1 N = 10 din)  
cm2  
푑푖푛  
1mmHg = 0,1 x 13,596 x 980,616= 1333,3  
= 1,33mb  
1
cm2  
Trong đó: 13,596 - mật độ thuỷ ngân ở 0°C,  
980,616 - gia tốc trọng trường trên mực nước biển ở vĩ độ 45°  
- Khí áp thường:Khí áp trên mực biển, ở vĩ độ 45°, nhiệt độ 0°C, độ cao cột thuỷ ngân  
là 76 cm (hay 760 mmHg)  
P thường = 76 x 13.596 x 980,616 = 1013,25 mb  
- Khí áp tiêu chuẩn trong khí tượng thực hành được công nhận là1000mb hay  
750mmHg.  
d. Biến trình ngày của khí áp  
Đó là những dao động của khí áp với chu kỳ ngày đêm, và được lặp đi lặp lại  
liên tục trong khoảng thời gian dài. Theo số liệu thống kê cho biết, biến trình ngày khí  
6
áp ở các vĩ độ trung bình cũng như ở miền nhiệt đới luôn tồn tại hai cực đại (vào lúc  
gần 10h và 22h) và hai cực tiểu (vào lúc gần 4h và 16h) theo giờ địa phương.  
Biên độ dao động tăng lên theo chiều giảm của vĩ độ. Như ở vĩ độ 60ºN hiệu  
khí áp giữa 10h và 16h thường chỉ là 0,3mb ở Ôđecxa (46,5ºN) là 0,8mb, ở 33ºN – 1,8  
mb, ở gần xích đạo (4ºN) đến 3,2mb.  
Trên các vĩ độ trung bình và cao, dao động hàng ngày của khí áp rất nhỏ, lại  
thường bị che lấp bởi những dao động lớn của khí áp đến hàng chục lần (thậm chí  
hàng trăm lần) do có sự xuất hiện của các xoáy thuận, xoáy nghịch. Phụ thuộc vào  
mức độ hoạt động của các vùng xoáy trên khu vực nọ hay trên khu vực kia, những  
thay đổi hàng ngày của khí áp đạt trung bình khoảng từ 3-10mb.  
Hình 1.2. Biến trình ngày của khí áp trên các vĩ độ khác nhau  
[Nguồn:Khí tượng – Trường Cao đẳng Hàng hải 1- 2016]  
e. Biến trình năm của khí áp  
Trên các đại dương, khí áp thấp nhất xảy ra vào tháng 12, tháng giêng, còn cao  
nhất vào tháng 7, tháng 8, tuy nhiên dao động khí áp hàng năm thấp hơn trên đất liền.  
Đại lượng trung bình của biên độ hàng năm trên các vĩ độ trung bình là 5-6mb, trên  
miền nhiệt đới không quá 2-3mb.  
3.1.2. Phương pháp dụng cụ đo khí áp  
Trên các trạm khí tượng phần nhiều khí áp được đo bằng khí áp kế thuỷ ngân.  
Nguyên tắc cấu tạo của loại áp kế thuỷ ngân là dựa vào sự cân bằng trọng lượng  
của cột khí nằm trên ống thuỷ ngân với trọng lượng cột thuỷ ngân nằm ở trong ống.  
Trường hợp không đòi hỏi độ chính xác cao, hay vì lí do nào khác, trạm ở trên tàu  
biển có thể dùng khí áp kế hộp.  
a. Áp kế kiểu hộp  
7
 
Dụng cụ chính để đo khí áp trên tàu biển là áp kế kiểu hộp. Phần nhạy cảm của  
dụng cụ này là hộp kim loại mỏng đã được hút hết không khí. Sự nén vào và dãn nở  
ra của hộp được thông ra một hệ thống tay đòn truyền đến kim chỉ số. Thang đo của  
áp kế hộp chia theo mmHg. Trong hộp có lắp nhiệt kế thuỷ ngân dạng vòng cung, áp  
kế được  
đặt trong một hộp bảo vệ sao cho nó luôn ở tư thế nằm ngang.  
Hình 1.3. Áp kế kiểu hộp  
[Nguồn:Khí tượng – Trường Cao đẳng Hàng hải 1- 2016]  
b. Khí áp kế tự ghi (Áp ký)  
Quan sát sự biến thiên của khí áp theo thời gian đặc biệt quan trọng đối với  
người dẫn tàu, bởi vì nó cho biết trước những thay đổi của thời tiết. Với mục đích đó  
được sử dụng áp ký, nó tự động ghi lại những thay đổi liên tục của khí áp. Cấu tạo của  
áp ký gồm hai bộ phận chính: bộ phận cảm ứng và bộ phận ghi. Bộ phận thứ nhất là  
một một chồng các hộp rỗng bằng kim loại mỏng, liên kết với nhau dạng hình lò xo.  
Sự nén vào và dãn ra của chồng hộp dưới sự tác dụng của khí áp biến đổi thông qua  
một hệ thống thanh truyền dẫn đến cần bút. Ngòi bút chứa đầy mực chuyên dụng áp  
vào băng giấy được bọc xung quanh trống hình trụ có bộ cơ.  
Trống hình trụ có vòng quay hàng ngày và hàng tuần lễ. Tương ứng với nó  
băng giấy cũng được sản xuất hai loại hàng ngày (với những vòng cung thẳng đứng  
chia theo thời gian có giãn cách 15 phút một) và hàng tuần (với vòng cung thẳng đứng  
– giãn cách 2 giờ một). Những đường ngang là thang khí áp (tính là mi li bar) giống  
nhau cho cả hai loại băng giấy.  
8
Trên tàu biển, tiện lợi hơn cả, được sử dụng áp ký hàng tuần. Theo áp ký, người  
ta xác định được đặc trưng quan trọng nhất để dự đoán những biến đổi sắp tới của thời  
tiết – như xu thế khí áp cho biết áp suất không khí thay đổi như thế nào, nhất là trong  
3 giờ cuối cùng. Theo đường cong trên băng giấy ta thấy được khí áp đã thay đổi ra  
sao trong 3 giờ và đặc điểm của các thay đổi đó.  
Hình 1.4. Áp kế tự ghi  
[Nguồn: Khí tượng – Trường Cao đẳng Hàng hải 1- 2016]  
3.1.3. Trường khí áp trên mặt đại dương  
a. Khái niệm  
Khí áp là đại lượng khả biến: trên mỗi điểm đã cho nó thay đổi liên tục hàng  
ngày, hàng tháng và hàng năm. Để làm rõ những đặc điểm trong sự phân bố khí áp tại  
một thời điểm (ví dụ trong một thời hạn quan trắc Si nốp trên toàn bộ mặt đất) hoặc là  
trong một khoảng thời gian nào đó, người ta phải phân tích các trường khí áp. Trên  
các bản đồ, nơi ghi lại các số liệu quan trắc (như trên các bản đồ thời tiết mặt đất)  
người ta vẽ các đường đẳng áp – đó là đường cong nối liền những giá trị khí áp như  
nhau. Các đường đẳng áp được vẽ với giãn cách là 5 hoặc 4 mb một (Ví dụ:  
1010,1005,1000,995,990 hoặc 1008,1004,1000,996).  
b. Các hệ thống khí áp  
Theo các đường đẳng áp, người ta phát hiện ra các trường khí áp. Hình dạng  
của nó được đặt tên cho các hệ thống khí áp.  
9
 
Hệ thống khí áp – là một vùng tỉ lệ lớn trong trường khí áp với sự phân bố khí  
áp điển hình. Các hệ thống khí áp được chia thành vùng khí áp cao, vùng khí áp thấp  
với các đường đẳng áp khép kín hoặc không khép kín.  
Hệ thống khí áp với các đường đẳng áp khép kín là xoáy thuận hoặc xoáy  
nghịch.  
Xoáy thuận (vùng cực tiểu khí áp) là vùng nhiễu loạn khí quyển với áp suất  
thấp, được thể hiện bởi một hệ thống các đường đẳng áp khép kín đồng tâm, giá trị  
của mỗi đường đẳng áp ở trong đó giảm dần từ ngoài vào trung tâm, ngược chiều kim  
đồng hồ ở Bắc bán cầu và thuận chiều kim đồng hồ ở Nam bán cầu. Ở trung tâm áp  
suất là thấp nhất và thường điền chữ L (đó là chữ cái đầu của Low) tiếng Anh nghĩa là  
thấp.  
Hình 1.5. Các hệ thống khí áp  
a) Xoáy thuận; b) Xoáy nghịch; c) Rãnh khí áp;  
d) Lưỡi khí áp; e) Khí áp yên ngựa  
[Nguồn:Khí tượng – Trường Cao đẳng Hàng hải 1- 2016]  
Xoáy nghịch (hay vùng cực đại khí áp) là vùng nhiễu loạn khí quyển với áp suất  
cao, được thể hiện nhờ một hệ thống các đường đẳng áp khép kín, giá trị của chúng  
tăng từ ngoài vào trung tâm, nơi mà khí áp ở đó cực đại, với sự xoáy của không khí  
xung quanh tâm theo chiều kim đồng hồ ở Bắc bán cầu và ngược chiều kim đồng hồ ở  
Nam bán cầu. Ở tâm xoáy nghịch thường điền chữ cái H, là chữ cái đầu của từ High  
(nghĩa là cao).  
Các hệ thống khí áp với những đường đẳng áp không khép kín là: rãnh khí áp,  
lưỡi khí áp, khí áp yên ngựa.  
10  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 119 trang yennguyen 27723 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Khí tượng hải dương - Nghề: Điều khiển tàu biển", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_khi_tuong_hai_duong_nghe_dieu_khien_tau_bien.pdf