Động cơ và cách thức thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận thông qua các thủ thuật kế toán

TÖØ LYÙ LUAÄN ÑEÁN THÖÏC TIEÃN  
ÑOÄNG CÔ VAØ CAÙCH THÖÙC THÖÏC HIEÄN  
HAØNH VI QUAÛN TRÒ LÔÏI NHUAÄN  
THOÂNG QUA CAÙC THUÛ THUAÄT KEÁ TOAÙN  
S. PHùNG ANH THƯ*  
S. NGUYỄN VĩNH KHƯơNG*  
ể quản trị doanh nghiệp hiệu quả việc nhận diện và hiểu rõ cách thức “phù phép” thông  
tin báo cáo tài chính là rất cần thiết. Nhất là khi có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và  
quyền quản lý thì vấn đề này càng cấp thiết hơn bao giờ hết. Bài viết nhằm mục đích xác  
Đ
định động cơ và các cách thức thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận phổ biến cũng như  
chỉ ra các điểm cần lưu ý khi xem các thông tin báo cáo tài chính. ông qua đó, ban quản trị của doanh  
nghiệp có thể đưa ra các biện pháp cần thiết trong bối cảnh hiện nay.  
Từ khóa: Hành vi quản trị lợi nhuận, động cơ  
e mechanics of profit management through accounting techniques  
For effective corporate governance, it is important to recognize and understand the “creative” way  
financial reporting information is presented. Especially when there is a separation between ownership and  
management, the problem is more urgent than ever. e article aims to show the motivations and commons  
ways of managing profit and points to consider when reviewing financial statements. rough this, the  
management of the business can take the necessary measures in the current context.  
keywords: Profit management, mechanics  
1. Đặt vấn đề  
chính (BCTC) và chất lượng công bố thông tin trên  
BCTC được xem là rất quan trọng đối với các nhà  
đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam nói  
riêng và trên thế giới nói chung. Chất lượng thông  
tin trên BCTC của DN, đặc biệt là thông tin về lợi  
nhuận có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định nhiều  
bên liên quan. Trong bối cảnh đó, vấn đề quan tâm  
chính là chất lượng của thông tin lợi nhuận được  
công bố. Những hành vi quản trị lợi nhuận theo  
mục đích của nhà quản lý có thể làm cho BCTC  
không còn phản ánh được bản chất của tình hình  
tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của DN.  
Trong bối cảnh hiện nay, vấn đề sở hữu và quản  
lý ngày trở nên tách biệt như chúng ta biết tới đó là  
lý thuyết đại diện. Sự tách biệt giữa sở hữu doanh  
nghiệp (DN) và quản lý DN, sẽ mang đến rất nhiều  
thuận lợi như việc chuyển nhượng quyền sở hữu  
không ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của  
DN, khi thuê được những nhà quản lý chuyên  
nghiệp đảm bảo thực hiện mục tiêu của DN. Tuy  
nhiên, việc tách biệt này lại dẫn tới một vấn đề nổi  
bật khác - vấn đề đại diện, hay còn gọi là vấn đề  
về xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và các chủ sở  
hữu. Các nhà đầu tư hay còn gọi là các chủ sở hữu  
rất muốn biết chính xác tiền của mình đã được sử  
dụng như thế nào và tình hình hoạt động thực tế  
của công ty. Vì vậy, vấn đề minh bạch báo cáo tài  
Chính vì vậy, bài báo này làm rõ bản chất của  
hành vi quản trị lợi nhuận. Người quản lý được  
quyền vận dụng các xét đoán chủ quan của mình  
trong việc lựa chọn chính sách và thực hiện các ước  
* Khoa Tài chính-Kế toán, Trường Đại học Nguyễn Tất ành; Khoa Kế toán-Kiểm toán, Trường Đại học Kinh tế - Luật  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  
Số 118 - tháng 8/2017 47  
TÖØ LYÙ LUAÄN ÑEÁN THÖÏC TIEÃN  
tính để phản ánh một cách đúng đắn hơn bản chất  
kinh tế của thực trạng tài chính và kết quả hoạt  
động của DN. Do đó, cần làm rõ động cơ và cách  
thực hiện để có biện pháp phù hợp.  
- Là hành vi phụ thuộc vào quyết định có chủ ý  
của nhà quản lý.  
- Là sự can thiệp của nhà quản lý làm thay đổi  
các thông tin trên báo cáo tài chính.  
2. Hành vi quản trị lợi nhuận  
- Là sự công bố thông tin liên quan đến các thời  
điểm trình bày báo cáo.  
2.1. Khái niệm  
2.2. Cơ sở hành vi quản trị lợi nhuận  
eo Schipper (1989)[17] Hành vi quản trị lợi  
nhuận là hành vi có mục đích đối với quy trình lập  
và trình bày BCTC nhằm đạt được lợi ích cá nhân.  
Cơ sở của hành vi quản trị lợi nhuận chính là  
kế toán theo cơ sở dồn tích. Cơ sở kế toán dồn tích  
là một trong các nguyên tắc kế toán cơ bản nhất  
chi phối các phương pháp kế toán cụ thể trong kế  
toán DN. eo đó, mọi giao dịch kinh tế liên quan  
đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu,  
doanh thu và chi phí được ghi nhận tại thời điểm  
phát sinh giao dịch, không quan tâm đến thời điểm  
thực tế thu hoặc chi tiền (chuẩn mực kế toán số  
01, 2002). Vì việc ghi nhận doanh thu và chi phí  
có ảnh hưởng quyết định đến báo cáo lợi nhuận  
của DN trong một kỳ, cơ sở kế toán dồn tích được  
xem là một nguyên tắc chính yếu đối với việc xác  
định lợi nhuận của DN. Lợi nhuận theo cơ sở dồn  
tích là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí;  
từ đó, BCTC nói chung và báo cáo kết quả kinh  
doanh (BCKQKD) nói riêng phải được lập trên cơ  
sở dồn tích. Điều này mang lại cơ hội cho nhà quản  
trị (NQT) thực hiện hành động quản trị lợi nhuận  
eo Healy và Wahlen (1999)[7] thì hành vi  
quản trị lợi nhuận xuất hiện khi nhà quản trị dùng  
xét đoán trên BCTC và trong cấu trúc các nghiệp  
vụ kinh tế nhằm làm thay đổi BCTC để gây hiểu  
lầm cho một số đối tượng liên quan về thực trạng  
kinh tế của DN hoặc nhằm tác động đến kết quả  
của các hợp đồng kinh tế mà chúng dựa trên số  
liệu kế toán.  
Quản trị lợi nhuận là hành vi của nhà quản lý  
sử dụng việc ghi nhận trên cơ sở dồn tích thông  
qua một số tài khoản để làm thay đổi lợi nhuận  
sau thuế theo các mục tiêu công bố thông tin của  
họ [15].  
Như vậy, chúng ta có thể thấy được những đặc  
điểm chung trong các khái niệm về quản trị lợi  
nhuận như sau:  
48 Số 118 - tháng 8/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  
thông qua các giao dịch không bằng tiền nhằm đạt  
được một mục tiêu nào đó. Trong khi đó, kế toán  
theo cơ sở tiền được sử dụng để lập báo cáo lưu  
chuyển tiền tệ (theo phương pháp trực tiếp) dựa  
trên cơ sở thực thu, thực chi tiền nên NQT không  
thể điều chỉnh các giao dịch. Từ đó chênh lệch giữa  
lợi nhuận trên BCKQHĐKD và dòng tiền trên báo  
cáo lưu chuyển tiền tệ (theo phương pháp trực  
tiếp) tạo ra biến kế toán gọi là Accruals. Ta có công  
thức sau:  
thủ thuật kế toán. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để  
đo lường biến DA vì biến này đại diện cho mức  
độ quản trị lợi nhuận của DN. Để xem xét mức độ  
quản trị lợi nhuận của các DN, các nhà nghiên cứu  
không thể quan sát một cách trực tiếp. Vì vậy các  
nhà nghiên cứu phải thông qua 2 cách: một là xem  
xét sự lựa chọn chính sách kế toán, hai là tính biến  
NDA.  
3. Động cơ hành vi quản trị lợi nhuận  
- Động cơ về thị trường vốn: Động cơ thực  
hiện hành vi chi phối lợi nhuận xuất phát từ thị  
trường vốn là một trong những hiện tượng phổ  
biến. ông thường nhà quản lý thực hiện hành vi  
quản trị lợi nhuận nhằm mục đích đạt được hoặc  
vượt mức lợi nhuận mục tiêu, phát hành cổ phiếu,  
mua bán hoặc sáp nhập DN. Ví dụ như công đoàn  
công ty sẽ gây sức ép với ban lãnh đạo để được trả  
lương cao hơn khi công ty có lãi cao hoặc một số  
những cổ đông quá khích sẽ gây áp lực lên nhà  
quản lý nếu lợi nhuận thực tế chênh lệch quá lớn  
so với dự báo… Đó là động lực để ban lãnh đạo  
phù phép giảm lợi nhuận thông qua các thủ thuật  
kế toán. Bằng chứng thực nghiệm cũng cho thấy  
rằng giá cổ phiếu có xu hướng tăng khi công ty  
có mức lợi nhuận vượt quá lợi nhuận kỳ vọng.  
Do về mặt tâm lý nhà đầu tư luôn thích một DN  
đạt được một mức lợi nhuận nào đó thay vì lỗ,  
và không có quá nhiều biến động qua các năm.  
Do đó sự thất bại trong việc không đạt được mức  
lợi nhuận kỳ vọng của nhà quản lý cũng bị trừng  
phạt mạnh bởi thị trường. Vì vậy nhà quản lý có  
xu hướng trình bày mức lợi nhuận đạt hoặc vượt  
mức lợi nhuận mục tiêu.  
Biến kế toán dồn tích (Accruals) = Lợi nhuận  
sau thuế - Dòng tiền thuần từ hoạt HĐkD  
eo cơ sở dồn tích, việc ghi nhận doanh thu  
và chi phí không dựa vào dòng tiền tương ứng thu  
vào hay chi ra mà chỉ căn cứ vào thời điểm nghiệp  
vụ kinh tế phát sinh. Do đó, số liệu trên BCTC,  
đặc biệt là báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh  
thể hiện ý chí chủ quan của NQT và nhà kế toán.  
Trong khi đó, báo cáo lưu chuyển tiền tệ được  
lập trên cơ sở dòng tiền, nghĩa là báo cáo này căn  
cứ vào dòng tiền thực thu vào hay thực chi ra để  
trình bày. Chính vì vậy, giữa dòng tiền trên báo  
cáo lưu chuyển tiền tệ và lợi nhuận trên báo cáo  
kết quả hoạt động kinh doanh sẽ có một sự chênh  
lệch. Các nhà nghiên cứu kế toán gọi đó là biến kế  
toán dồn tích (Total Accruals-TA) và được tính  
bằng công thức:  
Biến kế toán dồn tích (TA) = Lợi nhuận sau  
thuế - Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh  
doanh (1)  
Nhưng trong biến kế toán dồn tích gồm hai  
phần: Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được  
(Discretionary Accurals -DA) và biến kế toán dồn  
tích không thể điều chỉnh được (Non Discretionary  
Accurals - NDA)  
- Động cơ về chi phí hợp đồng: Hợp đồng vay  
thường được các chủ nợ sử dụng để bảo vệ quyền  
lợi của họ trước hành động điều chỉnh lợi nhuận  
của NQT. Ở các nước phát triển, hợp đồng vay có  
một số những điều khoản ràng buộc sau: công ty  
đi vay phải duy trì mức tài sản hữu hình đáp ứng  
một mức cụ thể nào đó hoặc phải đáp ứng những  
yêu cầu tối thiểu về cân bằng thanh toán theo quy  
định, hoặc phải duy trì một mức bảo hiểm cụ thể  
nào đó về nợ vay, hoặc mức lợi nhuận tối thiểu.  
Do có sự tách rời quyền sở hữu và quyền quản lý  
Biến kế toán dồn tích (TA) = Biến kế toán dồn  
tích có thể điều chỉnh được (DA) + Biến kế toán  
dồn tích không thể điều chỉnh được (NDA)  
Biến NDA phản ánh điều kiện kinh doanh cụ  
thể của từng đơn vị do đó không điều chỉnh được  
bởi nhà quản lý. Ví dụ: độ dài của chu kỳ kinh  
doanh, chu kỳ sống của sản phẩm. Ngược lại biến  
DA là biến NQT có thể điều chỉnh thông qua các  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  
Số 118 - tháng 8/2017 49  
TÖØ LYÙ LUAÄN ÑEÁN THÖÏC TIEÃN  
đáp ứng hay khi họ đã đạt được mức tối đa trong kế  
hoạch thưởng. Mặt khác, nhà quản lý cũng có thể  
sở hữu cổ phiếu của DN. Khi này, nếu muốn bán đi  
số cổ phiếu nắm giữ và thu lợi được mức cao, nhà  
quản lý cũng có thể điều chỉnh lợi nhuận tăng để  
tác động vào giá cổ phiếu nhằm thu lợi.  
trong các công ty niêm yết nên các NQT có động  
cơ điều chỉnh lợi nhuận tăng để tránh vi phạm hợp  
đồng đi vay. Nếu vi phạm, các chủ nợ có thể tăng  
tỷ lệ lãi suất đối với các khoản nợ hoặc yêu cầu DN  
thanh toán khoản nợ ngay lập tức. Vì các chủ nợ  
cho rằng nếu DN làm ăn không có lãi thì khả năng  
thanh toán nợ cho họ khó khăn hơn. Từ đó rủi ro  
rất lớn trong việc thu hồi nợ vốn vay. Hệ quả là các  
NQT sử dụng các thủ thuật điều chỉnh lợi nhuận  
nhằm tránh các rắc rối liên quan đến hợp đồng đi  
vay. Đặc biệt là trong trường hợp công ty niêm yết  
làm ăn thua lỗ thì NQT càng có động cơ mạnh hơn  
trong việc điều chỉnh lợi nhuận.  
4. Cách thức thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận  
Tùy theo mục tiêu khác nhau của các NQT,  
có thể mục tiêu của NQT là điều chỉnh lợi nhuận  
nhằm tiết kiệm thuế phải nộp, có thể mục tiêu điều  
chính tăng lợi nhuận là để hút vốn đầu tư, bán cổ  
phiếu ra thị trường. Nhiều thủ thuật được nhà  
quản lý sử dụng để chi phối thu nhập. Có thể phân  
loại theo hành vi quản trị lợi nhuận theo bốn loại:  
- Động cơ đáp ứng các quy định về phía nhà  
nước: DN có thể thực hiện hành vi quản trị lợi  
nhuận để tối thiểu hóa chi phí thuế TNDN hoặc trì  
hoãn thanh toán thuế hoặc hưởng ưu đãi thuế [6].  
Nghiên cứu của Han and Wang (1998)[6] cho thấy  
các DN xăng dầu đã trì hoãn ghi lợi nhuận trong  
thời kỳ khủng hoảng vùng vịnh năm 1990 khi các  
DN này đã đạt được khoản lợi nhuận siêu lớn. Hay  
DN sẽ ghi nhận tài sản thuế thu nhập hoãn lại khi  
cung cấp được bằng chứng rằng trong tương lai DN  
sẽ tạo ra được lợi nhuận để khấu trừ với tài sản này.  
NQT sẽ sử dụng tài khoản này để giảm chi phí thuế  
TNDN khi DN đã biết được rằng mình đã đạt được  
mức lợi nhuận như mong muốn [1;11;18]. Ngoài  
ra hành vi quản trị lợi nhuận còn có thể được thực  
hiện nhằm mục tiêu tối thiểu hóa chi phí thuế thu  
nhập DN [2].  
* Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn chính  
sách kế toán: Quản trị lợi nhuận phản ánh hành  
động của NQT trong việc lựa chọn các chính sách  
kế toán để mang lại lợi ích cho họ hoặc làm gia tăng  
giá thị trường của công ty [16]. Việc lựa chọn chính  
sách kế toán áp dụng để thực hiện hành động để  
thực hiện hành động quản trị lợi nhuận luôn nằm  
trong khuôn khổ của chuẩn mực kế toán. Do đó,  
hành động quản trị lợi nhuận là tuân thủ khuôn  
khổ pháp lý và là sự vận động khéo léo, linh hoạt  
của các “khoảng không tự do” mà chuẩn mực để lại  
để sắp xếp BCTC theo cách thuận lợi nhất cho công  
ty hay cho chính họ chứ không phải hành động phi  
pháp. eo đó, để tăng cường có thể so sánh thông  
tin trình bày trên BCTC, chuẩn mực kế toán yêu  
cầu DN cần phải áp dụng chính sách kế toán một  
cách nhất quán đối với các sự kiện và các giao dịch  
tương tự nhau. Khi có sự thay đổi chính sách kế  
toán thì cần phải thuyết minh lại sự thay đổi và  
ảnh hưởng của nó đối với BCTC, hoặc phải điều  
chỉnh hồi tố số liệu đầu kỳ. Sự lựa chọn chính sách  
kế toán phụ thuộc vào xét đoán của nhà quản lý  
để đảm bảo BCTC phản ánh trung thực nhất thực  
trạng kinh tế của DN. Chính vì lý do đó NQT có  
thể lựa chọn chính sách kế toán có lợi nhất để đạt  
được mục đích gì đó.  
Bên cạnh đó, trong mối quan hệ giữa người  
quản lý và DN, nhà quản lý có thể điều chỉnh  
lợi nhuận vì những lợi ích cá nhân, nhà quản lý  
sẽ được hưởng nhiều quyền lợi khi hoàn thành  
các chỉ tiêu được giao, chẳng hạn như các khoản  
thưởng, đề bạt, tăng lương, và cả việc giữ được vị  
trí của mình. Do đó, nếu không hoàn thành các chỉ  
tiêu lợi nhuận, nhà quản lý có thể điều chỉnh tăng  
lợi nhuận để đạt được các chỉ tiêu này, hoặc khi  
đã đạt vượt chỉ tiêu lợi nhuận nhưng mức thưởng  
có giới hạn, nhà quản lý có thể điều chuyển bớt  
lợi nhuận sang năm sau. eo Leone, A., Rock, S.,  
Guidry, F.,(1998) cho thấy rằng cá nhân nhà quản  
lý có khả năng trì hoãn thu nhập khi lợi nhuận mục  
tiêu trong kế hoạch tiền thưởng của họ không được  
- Lựa chọn chính sách kế toán ghi nhận doanh  
thu, giá vốn: Ta thấy rằng việc lựa chọn chính sách  
kế toán về doanh thu và giá vốn sẽ tác động rất lớn  
đến lợi nhuận trong kỳ vì doanh thu và giá vốn là  
50 Số 118 - tháng 8/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  
hai chỉ tiêu quan trọng trên báo cáo hoạt động kinh  
doanh. Ví dụ đối với những hợp đồng dài hạn thì  
DN được phép lựa chọn chính sách kế toán doanh  
thu theo tiến độ thực hiện hoặc theo tỷ lệ phần  
trăm hoàn thành như đối với DN xây dựng, việc  
thi công công trình kéo dài. Do đó, NQT có thể  
lựa chọn chính sách kế toán để xác định doanh thu  
theo tiến độ thực hiện hay tỷ lệ phần trăm hoàn  
thành công trình. Nhưng việc xác định theo tiến  
độ thực hiện hay tỷ lệ phần trăm hoàn thành cũng  
có thể dựa vào xét đoán của NQT khi xác định mức  
doanh thu và giá vốn được ghi nhận trong kỳ tính  
thuế hiện tại.  
đối kế toán có giá trị thấp hơn và lợi nhuận trên  
báo cáo hoạt động kinh doanh thấp hơn.  
- Lựa chọn chính sách kế toán về đánh giá tổn  
thất tài sản: Chuẩn mực kế toán yêu cầu DN cần  
đánh giá tổn thất cho các tài sản phải khấu hao và  
các tài sản không khấu hao như lợi thế thương mại.  
Việc đánh giá tổn thất tài sản dựa trên nhiều xét  
đoán của NQT liên quan đến giá cả hợp lý, giá trị  
sử dụng, giá trị thu hồi… Do đó, cũng tạo cơ hội  
cho nhà quản lý thực hiện hành động quản trị lợi  
nhuận của DN.  
* Quản trị lợi nhuận thông qua thực hiện ước  
tính kế toán: ủ thuật lựa chọn chính sách kế toán  
là thủ thuật phổ biến nhất mà các NQT thường sử  
dụng để điều chỉnh lợi nhuận. Do hệ thống chuẩn  
mực kế toán nói chung cho phép sử dụng nhiều  
chính sách kế toán khác nhau để ghi nhận và trình  
bày một loại sự kiện, nghiệp vụ. ủ thuật này được  
gọi tên là thủ thuật “Cookie jar reservers” (CJR).  
Nguyên tắc hoạt động chung của CJR là lập các  
dự phòng và trích trước nhiều hơn mức cần thiết  
nhằm mục đích sử dụng cho tương lai khi cần thiết.  
Nhà quản lý thường có xu hướng ghi nhận chi phí  
cao trong kỳ kế toán hiện tại và thông qua đó sẽ  
giảm chi phí ghi nhận trong các kỳ trong tương lai.  
Trong việc thực hiện các ước tính kế toán, có thể  
chia thành ước tính kế toán một lần và ước tính kế  
toán mỗi kỳ.  
- Lựa chọn chính sách kế toán đánh giá hàng  
tồn kho:  
+ Chính sách đối với tính giá thành sản phẩm:  
Lựa chọn phương pháp tính giá thành sản phẩm và  
phương pháp đánh giá giá thành sản phẩm dở dang  
cuối kỳ khác nhau như phương pháp trực tiếp,  
phương pháp tỷ lệ, phương pháp hệ số, phương  
pháp loại trừ sản phẩm phụ, phương pháp theo  
đơn đặt hàng, phương pháp phân bước có thể làm  
cho giá thành sản phẩm thay đổi, từ đó có thể điều  
chỉnh giá vốn hàng bán.  
+ Chính sách đối với xác định giá trị hàng xuất  
kho: Chuẩn mực kế toán cho phép DN lựa chọn  
chính sách khác nhau để đánh giá hàng tồn kho  
như nhập trước xuất trước (FIFO), thực tế đích  
danh, bình quân gia quyền (Trước đây chuẩn mực  
kế toán quốc tế về hàng tồn kho cho phép áp dụng  
phương pháp nhập sau xuất trước nhưng chuẩn  
mực mới không cho phép áp dụng phương pháp  
này (IAS 02)). Việc lựa chọn phương pháp tính giá  
xuất kho ở một kỳ có thể điều chỉnh giá vốn hàng  
bán và qua đó tác động đến lợi nhuận.  
Ước tính kế toán một lần được áp dụng một lần  
khi nghiệp vụ kinh tế phát sinh, chẳng hạn:  
Ước tính thời gian khấu hao tài sản cố định:  
DN được tự quyết định thời gian sử dụng tài sản  
cố định trong khoảng thời gian theo quy định về  
mức khấu hao. Vì vậy, NQT có thể sử dụng thời  
gian khấu hao tài sản cố định để quản trị được  
mức lợi nhuận theo mong muốn. Và DN được  
quyền khấu hao nhanh khi có đủ bằng chứng  
chứng minh rằng DN có hiệu quả hoạt động kinh  
tế cao và cần thiết để đổi mới công nghệ. Vì vậy,  
khi DN đã vượt quá mức lợi nhuận mong muốn  
thì NQT có thể sử dụng ước tính này để điều  
chỉnh thu nhập giảm xuống.  
- Lựa chọn phương pháp tính khấu hao: Lựa chọn  
phương pháp khấu hao TSCĐ cũng cho phép dịch  
chuyển lợi nhuận giữa các niên độ. Ví dụ phương  
pháp khấu hao giảm dần sẽ ghi nhận chi phí khấu  
hao cao trong những năm đầu sử dụng tài sản và  
ghi nhận chi phí khấu hao thấp trong những năm  
sau sử dụng tài sản. So với DN sử dụng phương  
pháp khấu hao đường thẳng, DN áp dụng phương  
pháp khấu hao giảm dần sẽ trình bày trên bảng cân  
Ước tính số lần phân bổ hay mức phân bổ của chi  
phí trả trước: ời gian phân bổ công cụ dụng cụ hay  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  
Số 118 - tháng 8/2017 51  
TÖØ LYÙ LUAÄN ÑEÁN THÖÏC TIEÃN  
số lần phân bổ công cụ dụng cụ là do DN tự xác định  
dựa vào đặc điểm của công cụ dụng cụ, tính chất  
công việc, công suất sử dụng công cụ dụng cụ. Do  
đó, có thể cùng là một công cụ dụng cụ nhưng các  
DN có khi lại phân bổ công cụ dụng cụ khác nhau về  
thời gian và số lần phân bổ. Vì vậy nhà quản lý cũng  
có thể điều chỉnh được khoản chi phí này.  
doanh thu sẽ gặp nhiều khó khăn và cũng dựa rất  
nhiều trên xét đoán của hai bên. Do vậy, sẽ tạo cơ  
hội cho hành vi thực hiện quản trị lợi nhuận của  
nhà quản lý.  
- Ước tính khoản phải thu khó đòi để lập dự  
phòng: Các DN thường cung cấp một hạn mức tín  
dụng cho khách hàng, do đó hầu hết các DN đều  
có nợ phải thu. ủ thuật CJR dựa trên khoản mục  
dự phòng phải thu khó đòi theo yêu cầu của chuẩn  
mực kế toán về việc lập dự phòng đối với các khoản  
nợ phải thu có khả năng không thu hồi được. eo  
chuẩn mực kế toán, khoản mục nợ phải thu cần  
được trình bày trên BCTC theo giá trị thuần có  
thể thực hiện được. Khi đó nhà quản lý cần ước  
tính các khoản nợ không thể thu hồi được để lập  
dự phòng. Mức trích lập có thể là 30%, 50%, 70%,  
100% tùy theo tuổi nợ quá hạn của các khoản nợ.  
ông thường phương pháp lập dự phòng nợ phải  
thu khó đòi đòi hỏi nhiều xét đoán của nhà quản  
lý, do đó tạo cơ hội cho hành vi quản trị thu nhập.  
Uớc tính kế toán vào mỗi kỳ được thực hiện vào  
cuối mỗi kỳ kế toán, chẳng hạn:  
- Ước tính chi phí bảo hành sản phẩm: Nhiều  
DN bán sản phẩm kèm theo điều khoản bảo hành  
sản phẩm trong một khoảng thời gian nhất định.  
Khi sản phẩm bị hư hỏng và được bảo hành, DN  
sẽ phát sinh chi phí để sửa chữa sản phẩm hoặc đổi  
mới sản phẩm cho khách hàng. eo chuẩn mực  
kế toán chi phí bảo hành sản phẩm trong tương  
lai là để tạo ra doanh thu bán hàng trong hiện tại,  
do đó theo nguyên tắc cơ sở dồn tích, chi phí bảo  
hành sản phẩm trong tương lai phải được ghi nhận  
cùng thời kỳ với doanh thu bán hàng khi ghi nhận  
sản phẩm được bán ra. Để xác định khoản chi phí  
bảo hành sản phẩm cần được ghi nhận trên BCTC,  
chuẩn mực kế toán cho phép DN sử dụng xét đoán  
liên quan đến tỷ lệ sản phẩm bảo hành bình quân  
của quá khứ và chi phí bảo hành trên mỗi đơn vị  
sản phẩm để tính chi phí bảo hành đối với doanh số  
bán hàng trong kỳ kế toán hiện tại. Việc cho phép  
sử dụng xét đoán sẽ tăng cơ hội cho nhà quản lý  
quản trị được lợi nhuận thông qua ước tính chi phí  
bảo hành sản phẩm cao hơn hoặc thấp hơn mức  
cần trích lập.  
- Ước tính khoản giá trị hàng tồn kho bị giảm  
giá để lập dự phòng: Khi giá trị thuần có thể thực  
hiện được của hàng tồn kho thấp hơn so với giá  
gốc thì DN cần lập dự phòng giảm giá hàng tồn  
kho (chuẩn mực số 02 về hàng tồn kho). Ngược lại,  
khi giá trị thuần của hàng tồn kho được phục hồi  
lại thì DN phải hoàn nhập dự phòng đã trích trước  
đó. Việc lập chi phí dự phòng giảm giá hàng tồn  
kho là hợp pháp theo pháp luật Việt Nam. Vì vậy,  
nhà quản lý có thể sử dụng thủ thuật CJR để điều  
chỉnh lợi nhuận trong kỳ. Trong kỳ kế toán hiện tại  
nhà quản lý lập dự phòng hàng tồn kho nhiều hơn  
hoặc thấp hơn mức thực tế cần lập để điều chỉnh  
lợi nhuận. Trong những kỳ sau khoản dự phòng đó  
được hoàn nhập khi hàng tồn kho được bán hoặc  
có bằng chứng về sự phục hồi của giá trị thuần có  
thể thực hiện được.  
- Ước tính tỷ lệ hoàn thành công trình xây lắp  
và cung cấp dịch vụ: Trong nhiều lĩnh vực như xây  
dựng, hợp đồng dịch vụ phát triển phần mềm…  
Khi hợp đồng dài hạn được thanh toán theo tiến độ  
kế hoạch, doanh thu và chi phí liên quan đến hợp  
đồng được ghi nhận với phần tương ứng công việc  
đã hoàn thành dựa trên biên bản nghiệm thu được  
hai bên xác nhận. Phương pháp tỷ lệ hoàn thành  
được áp dụng bởi vì phương pháp này giải quyết  
được vấn đề sự phù hợp giữa doanh thu và chi phí  
tạo ra doanh thu. Nhưng đối với việc xây dựng một  
ước tính kế toán hợp lý, mức chính xác của doanh  
thu đã hoàn thành và mức chi phí tương ứng với  
Sở dĩ cần phân biệt quản trị lợi nhuận thông  
qua lựa chọn chính sách kế toán và quản trị lợi  
nhuận thông qua thực hiện các ước tính kế toán  
là vì điều này sẽ giúp phân biệt được khả năng vận  
dụng hai hình thức trên để thực hiện hành vi quản  
trị lợi nhuận. Khi nhà quản lý lựa chọn để áp dụng  
một chính sách kế toán hay một phương pháp kế  
52 Số 118 - tháng 8/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  
toán cụ thể, nguyên tắc nhất quán yêu cầu DN phải  
nhất quán chính sách đó trong nhiều kỳ kế toán  
khác nhau, nếu có thay đổi giữa hai kỳ thì cần phải  
có thuyết minh sự thay đổi chính sách kế toán và  
mức độ ảnh hưởng đến sự thay đổi này đến lợi  
nhuận trên BCTC. Do đó, việc áp dụng lựa chọn  
một chính sách kế toán để điều chỉnh lợi nhuận  
thường chỉ có thể áp dụng ở một kỳ kế toán nhất  
định. Trong khi việc thực hiện ước tính kế toán ta  
thấy có thể chia thành hai loại: ước tính một lần và  
ước tính mỗi kỳ. Các ước tính thực hiện một lần  
thì cũng có thể được sử dụng để thực hiện hành  
vi điều chỉnh lợi nhuận như đối với việc lựa chọn  
chính sách kế toán nhưng những ước tính thực  
hiện mỗi kỳ thì có thể được vận dụng vào mỗi kỳ  
và đây là công cụ để nhà quản lý sử dụng thường  
xuyên hành vi điều chỉnh lợi nhuận.  
cũng có thể quyết định nhượng bán tài sản trong  
kỳ để điều chỉnh lợi nhuận. NQT có thể chọn thời  
điểm thanh lý tài sản, nếu việc thanh lý tài sản cố  
định dẫn đến lợi nhuận bị giảm, DN có thể quyết  
định thực hiện kỳ này để giảm lợi nhuận hoặc đẩy  
kỳ sau để làm giữ mức lợi nhuận đạt được trong kỳ.  
ông thường các DN có lợi nhuận giảm sẽ có thu  
nhập từ thanh lý tài sản cố định nhiều hơn so với  
các DN có lợi nhuận tăng, đây là dấu hiệu của hành  
vi quản trị lợi nhuận.  
- Quyết định về việc thực hiện các khoản chi phí:  
Nhà quản lý có thể điều chỉnh chi phí thông qua  
việc quyết định thực hiện quyết định thực hiện  
các khoản chi phí như chi phí quảng cáo, chi phí  
nghiên cứu và phát triển, chi phí sửa chữa tài sản  
cố định.  
- Quyết định về đầu tư dài hạn: Chuẩn mực kế  
toán phân loại khoản đầu tư vào một công ty khác  
dựa trên mức độ ảnh hưởng của nhà đầu tư đối với  
đơn vị nhận đầu tư. Ví dụ như đầu tư vào công ty  
con (nếu như nhà đầu tư nắm giữ quyền kiểm soát,  
thông thường nắm giữ trên 50% tỷ lệ lợi ích trong  
đơn vị nhận đầu tư), đầu tư vào công ty liên kết,  
đầu tư liên doanh đồng kiểm soát, đầu tư khác…  
Khi đó nhà quản lý có cơ hội để thực hiện chiến  
lược bán các khoản đầu tư có lãi hoặc giữ lại các  
khoản đầu tư lỗ để đẩy kết quả kinh doanh của kỳ  
hiện tại. Hoặc nhà quản lý sẽ làm ngược lại nếu  
muốn điều chỉnh giảm lợi nhuận.  
* Quản trị lợi nhuận thông qua quyết định  
quản lý về thực hiện nghiệp vụ kinh tế  
- Chính sách quyết định về việc thực hiện sản  
xuất, tiêu thụ sản phẩm: Nhà quản lý có thể quyết  
định sản xuất hoặc thay đổi chính sách bán hàng  
nhằm đạt được mức lợi nhuận mục tiêu. Ví dụ khi  
DN muốn tăng lợi nhuận, nhà quản lý sẽ quyết  
định tăng sản xuất, khi đó định phí cố định sẽ  
được phân bổ cho nhiều sản phẩm hơn nên định  
phí trên mỗi đơn vị sản phẩm giảm. Khi mức độ  
tăng lên của định phí không bị bù trừ bởi chi phí  
biên thì tổng chi phí của một đơn vị sản phẩm giảm  
xuống. Từ đó giá thành sản phẩm giảm dẫn đến giá  
vốn hàng bán giảm và lãi gộp cao hơn. Nhưng khi  
DN tăng sản xuất sẽ làm giảm dòng tiền hoạt động  
với mức doanh thu không đổi. Hoặc đối với chính  
sách bán hàng, khi NQT muốn đạt mức lợi nhuận  
mục tiêu để nhận các khoản lợi ích cá nhân thì họ  
có thể đưa ra chính sách giảm giá, khuyến mãi hoặc  
nới lỏng thời gian thanh toán của khách hàng. Khi  
đó doanh thu tạm thời sẽ tăng nhưng điều này sẽ  
không còn khi DN trở lại mức giá hoặc chính sách  
như cũ. Việc giảm giá và nới lỏng chính sách bán  
hàng sẽ làm giảm dòng tiền hoạt động của kỳ kế  
toán hiện tại.  
* Quản trị lợi nhuận thông qua hành vi vận  
dụng sai các quy định kế toán  
Đây là hành vi cố tình làm sai các quy định kế  
toán để điều chỉnh lợi nhuận, bao gồm cả hành vi  
gian lận. Các hành vi này thông thường là các đối  
tượng chú ý của kiểm toán, do vậy các hành vi này  
thường được phát hiện bởi kiểm toán viên khi kiểm  
toán BCTC, như cố tình ghi nhận tài sản sai niên  
độ, che giấu các khoản công nợ và chi phí… Ví dụ  
như số liệu kế toán của Tập đoàn Công nghiệp Tàu  
thủy Vinashin đã được Công ty Kiểm toán KPMG  
phát hiện ra rất nhiều các sai phạm làm lệch lạc đến  
kết quả lợi nhuận kinh doanh. Cụ thể, như Vinashin  
đã che giấu các khoản lỗ thông qua các biện pháp  
kế toán. Mặc dù, kết quả BCTC của Vinashin cho  
- Chính sách về thực hiện nghiệp vụ thanh lý tài  
sản dài hạn: Nếu lợi nhuận trong kỳ đạt thấp DN  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  
Số 118 - tháng 8/2017 53  
pdf 7 trang yennguyen 18880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Động cơ và cách thức thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận thông qua các thủ thuật kế toán", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdong_co_va_cach_thuc_thuc_hien_hanh_vi_quan_tri_loi_nhuan_th.pdf