Điểm nhìn trần thuật về vấn đề nữ quyền trong văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ

TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 35 (12-2018)  
ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT VỀ VẤN ĐỀ NỮ QUYỀN  
TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN THỊ THỤY VŨ  
y Nguyễn Thị Mỹ Duyên(*)  
Tóm tắt  
Điểm nhìn trần thuật là một yếu tố khơi mở cái nhìn mới về vấn đề nữ quyền trong văn xuôi Nguyễn  
Thị Thụy Vũ. Khai thác từ góc độ điểm nhìn vừa cho thấy nội dung táo bạo lại cho thấy tài năng độc  
đáo của nữ nhà văn Thụy Vũ khi nói đến những rào cản và sự bứt phá của nữ giới miền Nam giữa thế  
kỉ XX. Từ đó, khẳng định đóng góp quan trọng của Thụy Vũ trong Văn học nữ Việt Nam.  
Từ khóa: Nữ quyền, điểm nhìn trần thuật, Nguyễn Thị Thụy Vũ, điểm nhìn trần thuật trong văn  
học nữ quyền.  
1. Đặt vấn đề  
mà độc giả được giới thiệu với những cá tính, đối  
thoại, những hành động, sự sắp đặt và những sự  
kiện mà trần thuật cấu thành trong một tác phẩm  
hư cấu” [1].  
Nguyễn Thị Thụy Vũ là nhà văn nữ nổi tiếng  
của văn học đô thị miền Nam 1954-1975. Tuy  
nhiên, các sáng tác của nhà văn Thụy Vũ chỉ mới  
được xuất bản lại sau gần 50 năm vắng bóng trên  
Phương Lựu đã chia điểm nhìn trần thuật rất  
văn đàn. Văn xuôi Thụy Vũ đậm tính nhân bản, cụ thể trong sách Lý luận văn học của mình như  
đậm chất hiện thực. Thụy Vũ điểm vào văn học sau: “Nếu chia điểm nhìn trần thuật theo phương  
nữ quyền bằng một tiếng nói hết sức độc đáo và diện trường nhìn thì gồm có trường nhìn của tác  
lạ giọng về hiện thực đời sống nữ giới giữa thế kỉ giả và trường nhìn nhân vật”. Còn “Nếu chia điểm  
XX ở đô thị miền Nam. Sự tự nhiên, chân thật có nhìn trần thuật trên phương diện tâm lý thì có thể  
trong văn xuôi Thụy Vũ là sự chuyển động mãnh phân biệt thành điểm nhìn bên trong và điểm nhìn  
liệt dưới hiện thực của thời đại. Điểm nhìn trần bên ngoài” [5]. Cùng đưa ra quan điểm về điểm  
thuật được sử dụng trong văn xuôi Thụy Vũ cho nhìn trần thuật, Trần Đình Sử chia điểm nhìn trần  
thấy cái nhìn bình đẳng của một nhà văn nữ viết thuật thành 5 loại: điểm nhìn của người trần thuật,  
về nữ giới Việt Nam. Thụy Vũ dùng cái nhìn bình tác giả hay của nhân vật trần thuật và của nhân  
đẳng để phô diễn trước công chúng hiện thực phức vật, điểm nhìn không gian, thời gian, điểm nhìn  
tạp của đô thị miền Nam trước 1975.  
bên trong, bên ngoài, điểm nhìn đánh giá tư tưởng,  
cảm xúc, điểm nhìn ngôn từ.  
2. Nội dung nghiên cứu  
Một khái niệm quan trọng khác mà chúng ta  
phải nắm bắt đó là “điểm nhìn nghệ thuật”. Theo  
Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần  
Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên:  
“Điểm nhìn nghệ thuật là vị trí từ đó người trần  
thuật nhìn ra và miêu tả sự vật trong tác phẩm.  
Không thể có nghệ thuật nếu không có điểm nhìn,  
bởi nó thể hiện sự chú ý, quan tâm và đặc điểm của  
chủ thể trong việc tạo ra cái nhìn nghệ thuật. Giá  
trị của sáng tạo nghệ thuật một phần không nhỏ  
là do đem lại cho người thưởng thức một cái nhìn  
mới đối với cuộc sống. Sự đổi thay của nghệ thuật  
bắt đầu từ đổi thay điểm nhìn” [3, tr. 112]. Đây là  
một nhân tố rất quan trọng trong việc hoàn thiện  
tác phẩm văn học. Điểm nhìn nghệ thuật nắm giữ  
vị trí then chốt cho kết cấu của tác phẩm.  
2.1. Điểm nhìn trần thuật  
Khi nghiên cứu mặt nghệ thuật của một tác  
phẩm tự sự thì chúng ta không thể bỏ qua bước  
tìm hiểu một thuật ngữ phổ biến là “điểm nhìn trần  
thuật”. Văn học nữ quyền Việt Nam lại có thiên  
hướng “tự ăn mình”, do đó “kể” cũng là một việc  
quan trọng cần được nói đến khi nghiên cứu tác  
phẩm. Chúng ta thấy rằng, không thể hoàn thành  
tác phẩm nếu không có điểm nhìn. Theo Từ điển  
thuật ngữ văn học (AGlossary of literature terms)  
của Abrahams thì điểm nhìn là “những cách thức  
mà một câu chuyện được kể đến - một hay nhiều  
phương thức được thiết lập bởi tác giả bằng ý nghĩa  
(*)  
Học viên cao học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và  
Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh.  
57  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 35 (12-2018)  
Như vậy, có nhiều khái niệm về điểm nhìn trong càng được đẩy cao. Đêm tối bao la cũng có  
trần thuật, nhưng nhìn chung có thể hiểu điểm nhìn điểm nhìn tương tự. Mở đầu truyện ngắn, Thụy Vũ  
trần thuật là vị trí người kể chuyện mà từ đó các sự để nhân vật xưng tôi nhằm tự do bộc lộ xúc cảm  
kiện, tư tưởng của tác giả được bộc lộ thông qua bản năng: “Tôi muốn tìm ở đàn ông sự dịu dàng  
các yếu tố tạo dựng câu chuyện và nhân vật. Tùy ở khuôn măt, một lời nỉ non, một nụ hôn đơn sơ  
thuộc vào sự phân chia khác nhau mà các nhà phê không cần có kĩ thuật” [8, tr. 25]. Điểm nhìn bên  
bình có quan niệm khác nhau khi phân chia điểm trong hoàn thành xuất sắc thiên hướng tự do tính  
nhìn trần thuật. Tuy nhiên, chúng ta cần thấy rằng dục của nữ giới và lộ cách nói huỵch toẹt thường  
không thể tách rời một điểm nhìn để phân tích một thấy trong cách thể hiện cảm xúc của nữ giới ở  
tác phẩm vì rất hiếm tác phẩm chỉ sử dụng một Thụy Vũ. Điểm nhìn bên trong còn giúp nhân vật  
điểm nhìn. Do đó, khi nghiên cứu một tác phẩm, nữ trong truyện khẳng định tiếng nói riêng của nữ  
chúng ta nên kết hợp nghiên cứu các điểm nhìn giới. Từ đó làm tăng sự phức tạp trong ý nghĩ đầy  
để việc nghiên cứu được hoàn thiện.  
2.2. Điểm nhìn tâm lí - kết hợp điểm nhìn  
bên trong và bên ngoài  
tự cao của Linh khi bị Duy bỏ rơi, quyết làm lại  
cuộc đời và sẵn sàng rộng lòng tha thứ, bao dung  
người đàn ông đã ruồng bỏ Linh. Mặc dù điểm  
nhìn bên trong chi phối mạch cảm xúc của các  
nhân vật nữ nhưng không ít lần tác giả mượn lời  
nhân vật để chạm đến ao ước chung của nữ giới  
thông qua lời kể của nhân vật. Nguyễn Thị Thụy  
Vũ khi kể các câu chuyện về giới nữ thường cho  
người kể chuyện đứng từ góc độ của giới nữ để  
kể. Việc dựa vào nhân vật nữ là trung tâm để kể  
giúp tác giả dễ dàng bộc lộ tâm lí nhân vật và đưa  
ra những lời bộc bạch hết sức tự nhiên. Xen kẽ  
vào cách kể chuyện ở ngôi thứ ba, Thụy Vũ nhiều  
lần cho điểm nhìn di động sang lời tâm sự của  
chính nhân vật để thể hiện một cách sâu sắc nhất  
nỗi lòng của nhân vật. Từ đó, khoảng cách giữa  
người kể chuyện và nhân vật được rút ngắn. Điểm  
nhìn bên ngoài của người kể chuyện chiếm đến  
3/4 sáng tác của Thụy Vũ, tập trung ở hầu hết các  
truyện dài, tiểu thuyết và truyện ngắn. Điểm nhìn  
tâm lí của người kể chuyện giúp tác phẩm được kể  
một cách bao quát qua các truyện: Nhang tàn thắp  
khuya, Cho trận gió kinh thiên, Khung rêu, Mèo  
Đêm, Ngọn pháo bông, Như thiên đường lạnh, Thú  
hoang, Chiếc giường, Lao vào lửa... Đến cuối các  
tác phẩm, người đọc không tìm thấy chỗ đứng của  
người kể chuyện thông qua các nhân vật một cách  
rõ ràng nhưng có thể thấy người kể chuyện nhiều  
lần nhập hồn vào nhân vật.  
Số lượng tác phẩm Nguyễn Thị Thụy Vũ sử  
dụng điểm nhìn bên trong chỉ chiếm 1/4 số lượng  
sáng tác. Điều đặc biệt là tác giả chỉ dùng cách  
xưng tôi cho truyện ngắn chứ không thấy dùng  
cho truyện dài. Thụy Vũ xưng tôi qua các truyện  
ngắn: Nắng chiều vàng, Mãnh, Đợi chuyến đi xa,  
Một buổi chiều, Đêm nổi lửa, Lìa sông, Đêm tối  
bao la, Tiếng hát… Đáng chú ý là có đến 3 truyện  
ngắn nhân vật tôi tên Linh. Điều này gây tò mò  
khi tên nhân vật gần giống tên tác giả. Từ việc sử  
dụng ngôi thứ nhất xưng tôi, Thụy Vũ dễ dàng  
nói về cảm xúc của nhân vật nữ trong những câu  
chuyện ngắn. Điểm nhìn bên trong từ chính chủ  
thể của nữ nhà văn tạo nên cảm giác chân thật cho  
những câu chuyện viết về nữ quyền.  
Truyện ngắn Lìa sông khá đặc biệt vì hình  
thức giống như viết nhật ký. Ở đó, người kể chuyện  
xưng “em”. Nhân vật chính tự thuật lại câu chuyện  
của mình dựa vào điểm nhìn bên trong để thỏa sức  
bộc lộ tài nữ công gia chánh của một cô gái sống ở  
tỉnh lẻ vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Cái hay ở  
chỗ, Thụy Vũ hóm hĩnh để “em” tự tin về vẻ ngoài  
“ốm o, khô lép như cái quạt mo” và đắc ý xem vẻ  
ngoài xấu xí là một món hồi môn đáng giá khi cái  
vẻ ngoài không đẹp ấy khéo dùng để bảo vệ sự  
“trinh tiết” mà “em” luôn cố gắng giữ gìn. Cách  
dùng điểm nhìn bên trong làm cho truyện ngắn  
Lìa sông trở nên sinh động như một cuộc đối thoại  
giữa em và “vị hôn phu tương lai”. Như thế, tính  
chủ động của nữ giới xuất phát từ điểm nhìn bên  
Nhang tàn thắp khuya được Thụy Vũ bám víu  
vào nhân vật chính là Thục Nghi. Xoay quanh nhân  
vật này, tác giả kể về những nhân vật nữ trong gia  
đình chồng. Từ ngôi kể thứ ba của người kể đứng  
58  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 35 (12-2018)  
ngoài câu chuyện, nhiều lần người kể và nhân vật Vũ đều để người kể chuyện đứng ở ngôi thứ ba,  
Thục Nghi dường như chỉ là một. Từ điểm nhìn điểm nhìn này không xuất phát từ bên trong mà  
tâm lí như thế, tác giả thỏa sức nói đến số phận lại xuất phát từ bên ngoài nên có thể nói, tác giả  
của những người phụ nữ lấy chồng nhưng không phần lớn đặt cái nhìn khách quan vào trong sáng  
được hạnh phúc, nhất là về mặt tinh thần. Khung tác của mình. Thụy Vũ nhấn mạnh: “Tôi viết bảy  
rêu cũng được Thụy Vũ xây dựng điểm nhìn tương mươi phần trăm là sự thật, chỉ pha ba mươi phần  
tự nhưng tác phẩm này khó xác định điểm nhìn trăm hư cấu” [2]. Có hai mảng đề tài lớn mà Thụy  
được gieo vào nhân vật nào là chính. Chúng ta có Vũ viết về nữ trong sáng tác của mình, một là viết  
thể đặt điểm nhìn chính của Khung rêu vào nhân về lối mòn cũ kĩ trong đời sống gia đình ở tỉnh lẻ  
vật Bà Phủ để có thể khai thác tối đa vấn đề nữ Nam Bộ và viết về đời sống của những cô gái làm  
quyền trong tác phẩm này. Xoay quanh bà Phủ nghề ăn sương ở Sài Gòn.  
còn các nhân vật nữ như: Tịnh, Ngà, Ngự… mà  
nếu lấy trung tâm là bà Phủ thì những mâu thuẫn  
giữa quan niệm cũ và sự bứt phá của những cô gái  
trẻ trong tác phẩm càng được dâng cao. Việc đặt  
điểm nhìn vào tác phẩm để kể có thể xem là một  
điểm độc đáo trong cách kể chuyện của Thụy Vũ vì  
độc giả rất khó phân biệt đâu là người kể chuyện.  
Cách xen kẽ điểm nhìn cũng được bắt gặp trong  
tác phẩm Cho trận gió kinh thiên. Tác phẩm này kể  
theo ngôi thứ ba, người kể đứng ngoài câu chuyện  
nhưng có vẻ tác giả lại gửi điểm nhìn từ đôi mắt  
của Nguyệt rồi phóng ánh nhìn ấy qua lăng kính  
cuộc đời đầy khát vọng nhưng không kém phần  
chông chênh của cô. Qua điểm nhìn bên ngoài và  
sự xen kẽ với điểm nhìn bên trong của Nguyệt thì  
số phận những người phụ nữ xóm trọ hiện lên thật  
đa chiều. Thú Hoang viết về những cô gái trẻ: Liễu,  
Đức, Kim… mỗi cô gái mang những khát vọng và  
những nỗi đau về cuộc đời theo một cách rất riêng.  
Với mảng đề tài viết về sự bó hẹp, cũ kĩ của  
gia đình sống ở tỉnh lẻ Nam Bộ trước 1975, Thụy  
Vũ đặt điểm nhìn từ góc cạnh văn hóa để có cái  
nhìn bao quát về những bức tường vô hình làm  
hạn chế khát vọng sống của giới nữ. Mặc dù đứng  
bên ngoài để dẫn dắt câu chuyện nhưng không ít  
lần tác giả hóa thân vào Ngự, Tịnh trong Khung  
rêu nhằm vẽ nên bức tranh văn hóa của gia đình  
bà Phủ - nơi đã làm cho lớp người trẻ sống khổ  
sở với khát khao của mình. Tác giả nhiều lần đặt  
vào lời nhân vật những quan niệm văn hóa vốn  
đã ăn sâu vào lối tư duy của người Việt. Điều này  
thể hiện rõ qua lời bà Phủ nói với Chiêu: “Con  
phải biết từ xưa đến giờ, cái câu nam trọng nữ  
khinh truyền tụng biết mấy mươi đời không?” [9,  
tr. 124]. Điểm nhìn văn hóa còn lồng ghép vào  
lời của các nhân vật nhưng thực chất người nghe  
khó lòng phân biệt đó là lời tác giả hay lời nhân  
vật. Ngoài ra, nét văn hóa đẹp của người phụ nữ  
Như vậy, các câu chuyện viết về nữ của nhà Nam Bộ cũng hiện lên rất rõ trong tác phẩm này.  
văn Thụy Vũ đều có sự di chuyển điểm nhìn bên Khi ông Phủ mất, bà Phủ gói ghém chuyện gia  
trong và bên ngoài. Có thể nói, điểm nhìn bên đình tan nát, bỏ qua việc ông Phủ ngoại tình để lo  
ngoài và bên trong đã được Thụy Vũ vận dụng một ma chay cho ông chu đáo: “Dầu sao đi nữa, giấy  
cách linh hoạt để nói về những nội tâm sâu thẳm rách mình cũng phải giữ lấy lề. Trước hết cho  
của giới nữ. Từ điểm nhìn nữ trong sáng tác của linh hồn ổng yên vui, sau nữa, bà con chòm xóm  
mình, Thụy Vũ dễ dàng bày tỏ quan điểm, thái độ không biết được sự suy sụp của gia đình mình” [9,  
của mình đối với vấn đề Nữ quyền được đề cập tr. 347]. Nén lại nỗi hờn giận về lỗi lầm của ông  
đến trong xã hội Nam Bộ giữa thế kỉ XX. Sự di Phủ, bà mạnh mẽ gánh vác tang gia cho tròn vẹn.  
chuyển điểm nhìn trên chứng tỏ tài năng sáng tạo Bà Phủ trước sau vẫn không vì tội ngoại tình của  
của nữ nhà văn Thụy Vũ trong hình thức thể hiện ông Phủ mà buông xuôi. Bà vẫn dùng bản lĩnh của  
các tác phẩm ở khía cạnh nữ quyền.  
2.3. Điểm nhìn khách quan - điểm nhìn  
văn hóa  
một người phụ nữ quản cả đại gia đình mà vun  
vén mọi thứ chu đáo. Giữ gìn danh dự là một nét  
văn hóa trong tâm hồn phụ nữ gia đình vùng tỉnh  
lẻ. Nếu so sánh, có thể thấy nhân vật bà Phủ khác  
Hầu hết các sáng tác của Nguyễn Thị Thụy  
59  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 35 (12-2018)  
hẳn với nhân vật bà Tư Múp ở Cho trận gió kinh đến số phận của nữ giới, đôi khi đè bẹp, đôi khi  
thiên. Những người phụ nữ sống trong xóm trọ bóp chết cả số phận của họ.  
Sài Gòn ảnh hưởng bởi kinh tế đô thị cộng thêm  
sự “đanh đá” trong tính cách đã phô bày gia cảnh  
cho cả xóm trọ, cả thiên hạ cùng bàn tán. Có lẽ vì  
gánh trên vai việc quản lí cả đại gia đình và sống  
trong không khí tỉnh lẻ nên bà Phủ luôn ra sức bảo  
vệ thanh danh của gia đình địa chủ.  
Còn một điểm nhìn văn hóa mà Thụy Vũ  
xây dựng được đánh giá là rất độc đáo khi viết về  
những cô gái làm quán bar ở Sài Gòn. Hầu hết,  
truyện Ngọn pháo bông, Lao vào lửa, Đêm nổi  
lửa… viết về đề tài này đều được tác giả mượn  
điểm nhìn khách quan để kể. Qua đó, tác giả dễ  
Quan niệm lấy chồng chỉ là sự may rủi của dàng nói đến thân phận của những cô gái làm nghề  
người phụ nữ được Nguyễn Thị Thụy Vũ nhấn buôn phấn bán hương một cách bình đẳng. Đồng  
mạnh trong hai tác phẩm Khung rêu và Thú thời, tác giả dễ dàng diễn tả cái nhìn của mọi người  
hoang: “Con gái có chồng chỉ vui được ba tháng đối với cái nghề được xem là dưới đáy xã hội mà  
đầu, rồi buồn ba năm, rồi khổ một đời”. Hôn nhân mọi người dành cho những cô gái dấn thân ở đất  
đối với người phụ nữ theo điểm nhìn văn hóa mà Sài Thành những năm trước 1975. Cùng khơi gợi  
Thụy Vũ ghé mắt vào Nhang tàn thắp khuya cũng cho người đọc cái nhìn văn hóa từ nội dung độc  
chỉ là một cuộc xổ số: “Nhưng thật ra, ai biết được đáo của các câu chuyện. Từ điểm nhìn văn hóa  
cuộc hôn nhân sẽ ra sao? Cầm bằng cứ coi như trên, Thụy Vũ còn vẽ lại lộ trình lịch sử của Sài  
là cuộc xổ số, hoặc như là xăm xin ở đền chùa”. Gòn trong giai đoạn chiến tranh chống Mĩ. Nhà  
Điểm nhìn văn hóa được Thụy Vũ khéo léo đặt văn xáo trộn đời sống của nữ giới dưới sự hội nhập  
vào lời của nhân vật trong truyện để cho thấy quan của văn hóa phương Tây và mô hình buôn bán  
tình dục bằng đồng đô la của lính Mĩ. Từ đó, khắc  
sâu nỗi đau của các cô gái bị cuốn vào vòng xoáy  
tiền bạc và dục vọng. Cũng từ điểm nhìn văn hóa  
rất hiện thực trên, Thụy Vũ đòi lại sự bình đẳng  
cho thân phận của những cô gái ấy. Nữ nhà văn  
vạch ra mặt trái của chiến tranh đã đem tới sự tổn  
thương lớn về tinh thần dân tộc. Khai thác điểm  
nhìn văn hóa có thể mở ra nhiều hướng nghiên cứu  
khác như xã hội học chứ không riêng vấn đề nữ  
quyền. Điểm nhìn văn hóa đã mở rộng chiều kích  
nội dung cốt truyện của nhà văn Thụy Vũ. Điểm  
nhìn này thể hiện thái độ khách quan với những  
vấn đề gây nhiều tranh cãi trong xã hội về nữ giới.  
2.4. Điểm nhìn thời gian  
niệm trói buộc sự bứt phá làm ngăn cản sự phát  
triển của giới nữ xã hội Nam Bộ giữa thế kỉ XX.  
Trong Nhang tàn thắp khuya, Thụy Vũ khéo léo  
phê phán suy nghĩ cũ kĩ của những con người tỉnh  
lẻ tại gia đình chồng của Thục Nghi khi phản đối  
việc cô Ba Ngoạn viết nhật trình hoặc lấy chồng  
Tây: “Làm thân con gái mà đảm đương công việc  
của đàn ông, phải uống thuốc liều họa may mới  
làm được. Mợ nghĩ coi, việc viết nhựt trình đâu  
phải là việc của đàn bà?”[ 10, tr. 217]. Có thể nói,  
văn hóa không chấp nhận cái mới từ sự đóng góp  
của người phụ nữ xã hội Nam Bộ trước 1975 hiện  
lên rất rõ qua điểm nhìn văn hóa mà Thụy Vũ  
xây dựng. Thậm chí, quan niệm cũ từ những lời  
đồn đoán có thể bóp nghẹn đời sống của giới nữ  
Nguyễn Thị Thụy Vũ không chỉ xây dựng  
tỉnh lẻ. Chị em nhà Kim nết na nhưng bị lời đồn mạch chuyện của mình trên lộ trình tuyến tính  
của hàng xóm nên họ không thể lấy chồng trong của dòng thời gian mà còn tạo nên những dòng  
Thú hoang: “Họ nổi tiếng vừa khéo léo vừa nết thời gian đảo ngược để tạo nên độ hấp dẫn của  
na, nhưng những đức tính của họ cũng bị một vài câu chuyện. Cho trận gió kinh thiên được xây  
kẻ xấu miệng tìm cách làm giảm bớt đi. Họ phải dựng theo thời gian đảo tuyến xen kẽ: kể về hiện  
mang tiếng là vô duyên nên không có chàng trai tại của Nguyệt, sau đó nhắc lại quá khứ buồn của  
nào thèm đến coi mắt… Số họ là số sát phu. Tiếng cô ở tỉnh lẻ khi gặp rắc rối với mối tình đầu tiên.  
dữ đồn xa. Vì kiêng cử nên không ai dại dột đem Tiếp theo là kể theo trật tự tuyến tính các sự kiện  
con trai mình nhào vô chỗ chết”. Như vậy, đời diễn ra khi cô và Đồng đã dọn ra ở riêng với nhau  
sống văn hóa tỉnh lẻ có ảnh hưởng vô cùng lớn trong căn nhà trọ bình dân. Điểm nhìn thời gian  
60  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 35 (12-2018)  
trong câu chuyện này được đan bện khá phức tạp Sau bức thư là hành động xin nghỉ dạy của Liễu vì  
vì có nhiều nhân vật được đề cập đến.  
có cùng chung khát vọng muốn thay đổi đời sống  
bó hẹp nơi tỉnh lẻ như Hiệp Đức. Với lối viết quen  
thuộc, đến chương 2, Nguyễn Thị Thụy Vũ lại hồi  
tưởng dòng quá khứ trong cuộc đời các nhân vật  
của mình. Câu chuyện đến đây lại trở về dòng thời  
gian tuyến tính để lột tả cuộc đời của các cô gái  
trẻ từ thời còn là học sinh đến khi tốt nghiệp và có  
đời sống tự lập. Từ chương 2 trở đi, câu chuyện  
được lái xuôi theo dòng thời gian, lần lượt nói về  
tuổi trẻ của Liễu, Kim, Oanh, Hiệp Đức… các cô  
gái đầy khát vọng và nhiều nỗi suy tư.  
Truyện Ngọn pháo bông có kết cấu tương tự,  
nhưng vì là truyện dài nên bố cục thời gian lại có  
phần đơn giản hơn. Mở đầu chương 1, Nguyễn Thị  
Thụy Vũ tạo nên cái chết đầy thương cảm và bí  
ẩn của cô gái tên Thắm làm nghề buôn phấn bán  
hương qua tựa báo trên tay cô giáo Lan. Nhưng  
đến chương 2 và chương 3, Nguyễn Thị Thụy Vũ  
lại cất đi thời gian hiện tại để kéo người đọc quay  
về với thời gian của quá khứ. Tác giả kể về trình  
tự cuộc đời của Thắm khi đã có kinh nghiệm nhiều  
năm trong nghề và hành trình cuộc sống với đầy  
Lao vào lửa được Thụy Vũ kể theo chuỗi  
khát khao thay đổi của cô. Đoạn kết Ngọn pháo thời gian tuyến tính từ lúc Tú đang loay hoay tìm  
bông được xoay chuyển về thời điểm hiện đại, một công việc để giúp đỡ gia đình cho đến khi cô  
khi mọi người nhớ đến khoảnh khắc của Thắm bước chân vào nghề phục vụ quán bar và cột mốc  
lúc còn sống cùng dãy trọ và sự chuẩn bị cho việc thay đổi cuộc đời cô khi cô bắt đầu con đường bán  
đưa tiễn Thắm về với đất trời. Thời gian hiện tại thân của mình. Việc sử dụng chuỗi thời gian tuyến  
thấm đẫm suy tư về những con người lướt qua cuộc tính trong truyện ngắn Lao vào lửa như kéo dài  
đời Thắm. Nhà văn Thụy Vũ xây dựng Nhang tàn thời gian cuộc đời của Tú. Hơn nữa, việc sử dụng  
thắp khuya phần lớn theo trình tự tuyến tính. Tuy chiều dài thời gian càng làm cho tâm trạng cay  
nhiên, xen kẽ vào đó là hàng loạt các đoạn văn đắng của Tú ngày một nặng nề. Trong truyện ngắn  
mang tính hồi tưởng lại cuộc đời của những người Mèo đêm, thời gian cũng được đan xen vào nhau.  
phụ nữ như: Thục Nghi, mẹ cô Tư Kiên… rõ ràng, Từ việc bắt đầu kể về quá khứ đau buồn khi mất  
nhà văn Thụy Vũ đã rất ý thức khi xen kẻ dòng đi đứa con của Loan đến quay về bối cảnh hiện tại  
hồi ức để làm sóng động lại cuộc đời êm trôi của với gã nhân tình Phret, rồi lại tiếp tục gợi nhớ quá  
những người phụ nữ trong Nhang tàn thắp khuya. khứ khi Loan và Phret gặp nhau, cuối cùng lại trở  
Khung rêu cũng được thể hiện về mặt thời gian về với hiện tại. Dòng thời gian đan xen giúp Loan  
tựa như Nhang tàn thắp khuya khi mở đầu bằng thấm thía cuộc đời bạc bẽo của một người đã đi  
cuộc sống hiện tại của nhân vật Ngự và quay về quá xa cho cái nghề phục vụ quán bar. Như vậy,  
quá khứ để nhớ lại tuổi thơ cơ cực cùng khát vọng dù là truyện ngắn, truyện dài hay tiểu thuyết thì  
của cô. Tiếp theo là trình tự kể về các nhân vật thân Thụy Vũ cũng rất chú ý việc xây dựng dòng thời  
quen của Ngự trong gia đình bà Phủ. Xoắn bện gian đảo tuyến xen kẽ để tạo nên độ hấp dẫn cho  
theo lớp thời gian tuyến tính những sự kiện diễn câu chuyện và gây tò mò cho người đọc. Việc xây  
ra trong gia đình bà Phủ là những lần hồi tưởng dựng điểm nhìn thời gian lúc tuyến tính, lúc đảo  
về quá khứ của các nhân vật: Bà Phủ, Ngà, Chiêu, nghịch một cách linh hoạt tạo nên sự độc đáo cho  
Ông Phủ… Với cách xen kẽ thời gian như vậy, cốt việc thể hiện vấn đề nữ trong văn xuôi Thụy Vũ.  
truyện Khung rêu không đơn điệu khi xây dựng  
nhiều nhân vật trong tác phẩm.  
2.5. Điểm nhìn không gian  
Điểm nhìn không gian trong sáng tác văn xuôi  
của Nguyễn Thị Thụy Vũ chủ yếu xoay quanh  
vùng đất Nam Bộ. Từ điểm nhìn không gian này,  
Thụy Vũ lột tả nét đặc trưng mà nền văn hóa Nam  
Bộ ảnh hưởng đến vấn đề nữ quyền. Đồng thời,  
điểm nhìn không gian còn khơi gợi khát khao bứt  
phá của giới nữ vùng đất Nam Bộ khi họ rời bỏ  
Thú Hoang là một tiểu thuyết dài kể về cuộc  
đời của các cô gái ở tỉnh lẻ Vĩnh Long. Xuất hiện  
đầu tác phẩm là bức thư của Hiệp Đức gửi cho Liễu  
nói về những suy tư trăn trở của một cô gái trẻ từng  
lầm lỡ nhưng lại có bản lĩnh bỏ không gian tỉnh lẻ  
ngột ngạt để tìm đến vùng đất Sài Gòn rộng mở.  
61  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 35 (12-2018)  
vùng Đồng bằng sông Cửu Long để đến với đô thị người tứ xứ đến đây lập nghiệp. Nhà cửa san sát  
Sài Gòn - nơi hứa hẹn sự tự do và đổi mới. Không nhau, chật chội và mỏng dánh như cái hộp quẹt”.  
gian mở nền cho các tác phẩm được nhảy múa hòa Không gian ấy bó hẹp đời sống của những con  
nhịp cùng điệu thời gian tạo nên cảm giác vừa người lao động. Mọi nhất cử nhất động đều bị  
ngợp thở của đời sống nữ giới tỉnh lẻ Nam Bộ và soi mói khiến cho những người phụ nữ càng trở  
sự gấp rút, hối hả, tiếc thương của những cô gái nên dè chừng nhưng cũng lắm chuyện. Đời sống  
sống ở vùng đất này.  
ở đây như bức tử sự vùng dậy trong cuộc đời của  
Nguyệt. Nếu đối với Đồng, căn nhà chật hẹp mà  
anh và Nguyệt thuê ở xóm trọ tù túng này là một  
mảnh đất hạnh phúc thì Nguyệt lại thấy không  
gian đó giết chết đi sự tươi sáng và bứt phá trong  
cuộc đời cô. Những thân phận như Ngỡi, Lan, bà  
Tư, bà Xành cũng luôn cảm thấy bức bối khi lối  
sống ngột ngạt của khu phố cứ đè nén lên thân  
phận của họ.  
Mở đầu trong Khung rêu là cảnh tượng  
sông nước bên cạnh nhà bà Phủ, gắn với sự thích  
thú của Ngự: “Nàng thích ngắm mấy chiếc ghe  
thương hồ và cảnh tượng muộn màn trên sông”.  
Đời sống của những con người trẻ tuổi như Tịnh,  
Ngự, Ngà, Hoàng, Tường bó gọn trong căn nhà  
bà Phủ. Không gian ấy như bóp nghẹn những trái  
tim mang khát vọng thay đổi mãnh liệt. Bờ sông,  
căn nhà và không gian tỉnh lẻ trong tác phẩm càng  
Thụy Vũ xây dựng điểm nhìn không gian tại  
đẩy vấn đề nữ quyền lên cao trào khi hàng loạt các các quán bar ở Sài Gòn khá nhiều trong các tác  
sự kiện lớn nhỏ đều lần lượt diễn ra. Những rung phẩm của nhà văn. Từ truyện ngắn Lao vào lửa,  
động ngây ngất của những cuộc tình vụng trộm từ đến Ngọn pháo bông, Mèo đêm đều xoay quanh  
Tường và Ngự, Tịnh và Hoàng cùng nỗi day dứt không gian căn phòng nhỏ và quán bar. Cuộc đời  
của Chiêu đều diễn ra một cách âm thầm đầy bức của những cô gái buôn phấn bán hương loay hoay  
bối trong ngôi nhà đầy quyền uy và sự cấm cản trong không gian ấy, họ có tìm đường nhưng không  
ngầm của ông bà Phủ. Không gian gia đình nơi thoát khỏi số phận của mình. Không khí nặng trĩu  
tỉnh lẻ còn xuất hiện xuyên suốt tác phẩm Nhang từ những căn phòng đè nặng lên suy nghĩ của Thắm  
tàn thắp khuya. Căn nhà khang trang mà vợ chồng trong Ngọn pháo bông, của Loan trong Mèo đêm.  
Thục Nghi cư trú trong nhà ông Đốc phủ sứ không Họ suy tư về một ngày sổ củi vỡ lồng để bay đi  
cứu vãn được tình yêu mặn nồng của Thục Nghi nhưng bốn bức tường bên cạnh những nhân tình  
dành cho chồng. Thục Nghi luôn nhớ về khoảng Việt Nam trẻ đẹp, những gã tìm đến vì dục vọng  
không gian ở thành phố, cô tìm được nhịp đập càng làm cho họ tủi thân với kiếp sống của mình.  
nồng cháy với Đức để kết duyên trăm năm với Quán bar là một không gian không thường xuất  
anh ta. Ấy vậy mà căn nhà của gia đình chồng hiện trong văn học Việt Nam trước 1975, đến với  
với sự chung đụng cùng những cô em chồng làm văn xuôi Thụy Vũ, tần số xuất hiện của nó khá  
Thục Nghi cảm thấy quá ngạt thở. Căn nhà ấy bao nhiều và gây sự chú ý đáng kể. Không gian ấy tạo  
chứa những tiểu thư lá ngọc cành vàng cố hữu và nên những cuộc đời đáng thương hay đáng trách?  
anh chồng chóng quên vọng ước của tuổi trẻ. Khi Có lẽ là cả hai. Điểm nhìn không gian bao quanh  
không gian dịch chuyển sang các tỉnh khác bằng tỉnh tẻ của vùng đất Nam Bộ giúp Thụy Vũ tạo nên  
những chuyến vui chơi thì tâm trạng Thục Nghi thế mạnh trong cách nhìn quen thuộc của mình.  
phấn chấn hơn. Đặc biệt, không gian bờ biển giúp Trên cơ sở đó, nhà văn dễ dàng xoáy sâu vào đặc  
cô tìm lại cảm xúc với chồng mình. Tuy các cô trưng ngột ngạt của không gian để nói lên số phận  
em chồng đã rời khỏi nhà để kết hôn nhưng cái bị kiềm hãm và sự kháo khát bứt phá của những  
không khí trong căn nhà ấy cũng không thể chữa nhân vật phụ nữ.  
lành trái tim tàn lụi trước tình yêu của Thục Nghi.  
Không gian ngột ngạt tiếp tục là một điểm  
nhìn được Thụy Vũ đặt vào xóm lao động nghèo  
ở Sài Gòn: “Đây là xóm lao động gồm đủ hạng  
3. Kết luận  
Điểm nhìn trần thuật là một yếu tố không thể  
thiếu khi tìm hiểu một tác phẩm văn học. Từ việc  
tìm hiểu về điểm nhìn trần thuật trong văn xuôi  
62  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 35 (12-2018)  
Nguyễn Thị Thụy Vũ, chúng ta có thể thấy rằng tạo nên nét đặc sắc trong văn xuôi viết về nữ của  
nhà văn sử dụng điểm nhìn trong một tác phẩm nhà văn. Bằng điểm nhìn trần thuật ở nhiều góc độ  
là rất uyển chuyển. Nguyễn Thị Thụy Vũ tinh tế khác nhau mà Thụy Vũ vẽ nên nhiều chiều kích  
xây dựng điểm nhìn tâm lí, điểm nhìn văn hóa, phá vỡ lối suy nghĩ cũ kĩ và đưa người đọc hướng  
điểm nhìn không gian và điểm nhìn thời gian để đến những điểm nhìn khách quan hơn./.  
Tài liệu tham khảo  
[1]. M. H.Abrahams, Geoffrey Harpham (2011), A Glossary of literature terms, Cengage Learning.  
[2]. Nguyễn Thị Mỹ Duyên (2018), Vấn đề nữ quyền trong văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ, Luận  
văn Thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân năn Thành phố Hồ Chí Minh.  
[3]. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi (2011), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB  
Giáo dục Việt Nam.  
[4]. Cao Kim Lan (2008), “Lý thuyết về điểm nhìn nghệ thuật của R. Scholes và R. Kellogg”, http://  
[5]. Phương Lựu (2006), Lí luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội.  
[6]. Trần Huyền Sâm (2016), Nữ quyền luận ở Pháp và tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại, NXB  
Phụ nữ, Hà Nội.  
[7]. Trần Đình Sử (2008), Tự sự học hiện đại, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.  
[8]. Nguyễn Thị Thụy Vũ (2016), Chiều mênh mông, NXB Hội Nhà văn, Thành phố Hồ Chí Minh.  
[9]. Nguyễn Thị Thụy Vũ (2016), Khung Rêu, NXB Hội Nhà văn, Thành phố Hồ Chí Minh.  
[10]. Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nhang tàn thắp khuya, NXB Hội Nhà văn, Thành phố Hồ Chí Minh.  
NARRATIVE PERSPECTIVE ON FEMINISM IN THE PROSE  
BY NGUYEN THI THUY VU  
Summary  
Narrative perspective is an element opening a new view on Feminism in the prose by Nguyen Thi  
Thuy Vu. From this perspective, it shows not only the risk-taking contents, but also her unique talents  
when addressing barriers and breakthoughs made by Southern women during the mid-twentieth century.  
Thereby, it affirms Thuy Vu’s contribution to Vietnam male literature.  
Keywords: Feminism, narrative perspective, Nguyen Thi Thuy Vu, narrative perspective in  
feminist literature.  
Ngày nhận bài: 23/11/2018; Ngày nhận lại: 30/11/2018; Ngày duyệt đăng: 03/12/2018.  
63  
pdf 7 trang yennguyen 17041 Free
Bạn đang xem tài liệu "Điểm nhìn trần thuật về vấn đề nữ quyền trong văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdiem_nhin_tran_thuat_ve_van_de_nu_quyen_trong_van_xuoi_nguye.pdf