Tính từ trái nghĩa trong tiếng Việt và tiếng Anh theo hướng tiếp cận mạng từ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
TẠP CHÍ KHOA HỌC  
ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
Số 74 (02/2021)  
SAIGON UNIVERSITY  
SCIENTIFIC JOURNAL  
OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 74 (02/2021)  
TÍNH TỪ TRÁI NGHĨA TRONG TIẾNG VIỆT VÀ  
TIẾNG ANH THEO HƯỚNG TIẾP CẬN MẠNG TỪ  
Antonymous adjectives in Vietnamese and English - a Wordnet-based perspective  
TS. Trần Thị Phương Lý(1), Bùi Bình Khang(2)  
(1)Trường Đại học Sài Gòn  
(2) Học viên cao học Trường Đại học Sài Gòn  
TÓM TẮT  
Từ trái nghĩa và đặc biệt là tính từ đã được nghiên cứu rất nhiều qua các công trình về từ vựng học, ngữ  
nghĩa học, v.v. Tuy nhiên một hướng đi mới dựa trên những nguyên tắc về tâm lý, đặc biệt là sự hình  
thành của hệ thống từ vựng trong trí nhớ từ vựng của con người vẫn còn chưa được khai thác hết. Bài  
viết này khái quát về đặc điểm của tính từ trái nghĩa tiếng Anh xét trong sự tổ chức Mạng từ, từ đó tiến  
hành xem xét đặc điểm của tính từ trái nghĩa tiếng Việt theo hướng tiếp cận Mạng từ và đề xuất những  
giả thuyết có thể khi xây dựng một mạng lưới tính từ trái nghĩa tương tự trong tiếng Việt.  
Từ khóa: Mạng từ, quan hệ ngữ nghĩa, tiếng Anh, tiếng Việt, tính từ trái nghĩa  
ABSTRACT  
Antonyms and antonymous adjectives have been long researched in many studies on lexicography,  
semantics, etc. Researches based on the psychological principles especially on human lexical memory  
are a new horizon in linguistics. This article will summarize the organization of the antonymous  
adjectives in WordNet and propose possible theories when building the similar model in Vietnamese.  
Keywords: WordNet, semantic relation, English, Vietnamese, antonymous adjectives  
dưới dạng mạng ngữ nghĩa và là nền tảng  
cơ sở cho việc nghiên cứu, xây dựng các  
lưới từ vựng ngày nay. Mạng từ không  
giống như các từ điển thông thường khác,  
thay vì liệt kê các từ kèm định nghĩa theo  
thứ tự An-pha-bê (Alphabetical) thì  
WordNet tổ chức theo hướng các từ được  
liên kết thành những tập hợp đồng nghĩa  
(synsets) dựa trên những khái niệm ngữ  
nghĩa (conceptual-semantics) và các mối  
quan hệ giữa từ vựng (lexical relations); từ  
đó dựa trên những tập hợp đồng nghĩa này  
để xác định nghĩa của từ. Giả sử như tính  
1. Đặt vấn đề  
Trong các từ điển trái nghĩa, tính từ  
trái nghĩa trong tiếng Anh lẫn tiếng Việt đã  
được nghiên cứu và tổ chức dưới dạng các  
cặp từ hoặc cụm từ đối lập về ngữ nghĩa.  
Tuy nhiên với sự phát triển của khoa học kĩ  
thuật và sự kết hợp liên ngành của ngôn  
ngữ học, đặc biệt là tâm lí học ngôn ngữ đã  
đề xuất và mở ra những hướng đi mới cho  
các cách tiếp cận nhóm từ trái nghĩa, nhất  
là ở nhóm tính từ. Mạng từ (WordNet) là  
sản phẩm đầu tiên mở đường cho hướng  
nghiên cứu và xây dựng hệ thống từ vựng  
15  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 74 (02/2021)  
từ full có nhiều nghĩa như là đầy, đủ, toàn  
bộ... thì khi tra cứu, WordNet sẽ cho ra kết  
quả với hàng loạt nghĩa được sắp xếp từ  
trên xuống theo tần suất nghĩa được sử  
dụng kèm định nghĩa và chúng sẽ phân biệt  
các nghĩa với nhau bằng những từ đồng  
nghĩa hoặc trái nghĩa với full theo mỗi ý  
nghĩa ở trên, ví dụ filled (đầy) hay entire  
(toàn bộ).  
tiếng Anh và trên cơ sở đó tiến hành làm rõ  
đặc tính của lớp tính từ trái nghĩa tiếng  
Việt theo hướng tiếp cận Mạng từ cũng  
như đề xuất một số hướng tổ chức cho  
mạng lưới tính từ trái nghĩa tiếng Việt.  
2. Nội dung  
2.1. Tính từ trái nghĩa tiếng Anh  
trong Mạng từ  
Trong Mạng từ, tính từ trái nghĩa tiếng  
Anh được chia thành hai nhóm là tính từ miêu  
tả (descriptive adjective) và tính từ quan hệ  
(relational adjective). Trong đó, lớp tính từ  
miêu tả có sự phân hóa rõ rệt và được tổ chức  
theo các tiêu chí sau:  
Việc xây dựng WordNet dựa trên nền  
tảng ngữ nghĩa của các quan hệ như đồng  
nghĩa (synonymy), trái nghĩa (antonymy),  
thuộc cấp - bao hàm (hyponymy -  
hypernymy), bộ phận (meronymy/  
holonymy), kéo theo (entailment), cách  
thức (troponymy) và các quan hệ liên quan  
tới hình thái học (morphological relation).  
Mạng từ chỉ hình thành chủ yếu xoay  
quanh nhóm thực từ (content word) chứ  
không phân tích, nghiên cứu nhóm từ chức  
năng/ hư từ (function word). Bên cạnh bốn  
nhóm từ là danh từ, động từ, tính từ và  
trạng từ, WordNet cũng có chứa các danh  
từ ghép (compound noun) như fish tank (hồ  
cá), các dạng kết ngôn (collocations) như  
fast food (thức ăn nhanh), các vị từ kết  
chuỗi (phrasal verbs) take off (cất cánh)  
hay các cụm thành ngữ (idiomatic phrases)  
như call it a day (ngưng lại). Bên cạnh đó,  
WordNet còn có thông số khác liên quan  
đến khoa học máy tính để cho những ứng  
dụng khác có thể khai thác được tối đa dữ  
liệu của mạng từ. Tính tới phiên bản cuối  
cùng là 3.1 ra mắt năm 2009 thì WordNet  
hiện có 155.327 từ được phân bổ vào  
175.979 tập đồng nghĩa góp phần tạo nên  
207.016 cặp nghĩa từ (nguồn Wikipedia).  
Trong bài viết này, dựa trên hệ thống  
Mạng từ tiếng Anh (WordNet) được xây  
dựng năm 1985 bởi cố giáo sư George  
Armitage Miller, chúng tôi tìm hiểu sâu  
hơn sự tổ chức mạng lưới tính từ trái nghĩa  
a. Tính từ miêu tả  
Sự trái nghĩa  
Vốn dĩ sự trái nghĩa chỉ được biểu thị dưới  
dạng các khái niệm đối lập trên cùng một  
trường nên ở Mạng từ có sự phân biệt giữa từ  
trái nghĩa trực tiếp và từ trái nghĩa gián tiếp.  
Theo những nghiên cứu của Justeson và Katz  
(1991, 1992) hay trước đó là của Miller và  
Charles (1989), các cặp tính từ trái nghĩa  
thường đi chung với nhau trong các câu hay  
các ngữ đoạn sẽ được coi là những cặp đối lập  
trực tiếp, những tính từ đối lập nhau thông qua  
các mối quan hệ ngữ nghĩa thì sẽ được coi là  
các tính từ trái nghĩa gián tiếp. Những tính từ  
trái nghĩa gián tiếp có mối quan hệ đồng nghĩa  
với tính từ đóng vai trò là từ trái nghĩa trực tiếp  
ở các cặp trái nghĩa. Các tính từ thường biểu  
diễn các giá trị của một thuộc tính (attribute) để  
bổ nghĩa cho danh từ và có tính lưỡng cực nên  
các tính từ biểu diễn các giá trị thuộc tính  
thường sẽ tồn tại một cặp trái nghĩa. Ví dụ như  
fast >< slow (nhanh >< chậm) là những giá trị  
của thuộc tính về SPEED (tốc độ).  
Mối quan hệ trực tiếp giữa các tính từ  
trái nghĩa được thể hiện trên mối quan hệ  
giữa các hình thức từ (word forms) (Gross,  
Fischer và Miller, 1989). Ở những từ đa  
nghĩa (polysemy), cùng một lớp vỏ hình  
16  
TRẦN THỊ PHƯƠNG LÝ - BÙI BÌNH KHANG  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
thức nhưng mang nhiều nghĩa khác nhau  
thì các hình thức từ trong WordNet sẽ được  
đánh số để phân biệt từng nghĩa của từ như  
light 1 >< heavy (nhẹ >< nặng), light 2  
>< dark (sáng >< tối). Bên cạnh đó là sự  
tồn tại của các cặp trái nghĩa trực tiếp mà  
cực đối lập của nó được hình thành bằng  
cách thêm các tiền tố phủ định (negative  
prefixes) kết hợp vào từ gốc như un-  
exposed >< unexposed in- hoặc các biến  
thể il-, im-, ir- trong dependent ><  
independent, legal >< illegal, possible><  
impossible, regular >< irregular, v.v. Và  
các từ dù có cùng khái niệm trái nghĩa  
nhưng khi hình thành cặp trái nghĩa trực  
tiếp thì chúng lại đi theo những cặp trái  
nghĩa quen thuộc như heavy >< light  
(nặng >< nhẹ), weighty >< weightless (có  
trọng lượng >< không trọng lượng) chứ  
không thể gom lại thành một nhóm rồi gán  
quan hệ trái nghĩa cho chúng như {heavy,  
weighty, ponderous} >< {light, weightless,  
airy} (không tồn tại trong WordNet, quy  
ước sự không tồn tại này được thể hiện  
bằng dấu gạch ngang qua ngữ liệu).  
Như đã đề cập, WordNet cơ bản là sắp  
xếp và thể hiện các từ dưới dạng các cụm  
đồng nghĩa (synsets) dựa trên sự tương  
đồng về ngữ nghĩa. Vậy nên những trường  
hợp như frigid (lạnh giá), refrigerated  
(đông lạnh)... sẽ được xếp vào chung một  
cụm đồng nghĩa với cold (lạnh). Từ đó có  
thể suy ra quan hệ trái nghĩa gián tiếp cho  
frigid, refrigerated và các từ cùng khái  
niệm sẽ là trái nghĩa gián tiếp với hot  
(nóng) thông qua mối quan hệ cold >< hot.  
Sơ đồ sau sẽ mô tả chi tiết mạng lưới các  
từ đồng nghĩa, trái nghĩa trực tiếp, trái  
nghĩa gián tiếp được liên kết với nhau  
trong WordNet.  
Quan hệ đồng nghĩa  
; Quan hệ trái nghĩa  
Hình 2.1.1.a. Sơ đồ cách sắp xếp các cặp trái nghĩa trực tiếp  
và các từ trái nghĩa gián tiếp trong WordNet  
17  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 74 (02/2021)  
Vị tính từ (participle)  
từ. Sở dĩ chúng khác biệt so với lớp tính  
từ miêu tả là vì chức năng của chúng  
không còn là diễn đạt một giá trị của một  
thuộc tính cho danh từ đứng sau nó. Ví dụ  
như big car khái quát về thuộc tính kích  
thước của một chiếc xe. Vai trò của các  
tính từ quan hệ gần giống với một danh từ  
phụ nghĩa (modifying noun) và nó đóng  
vai trò phân loại danh từ. Để phân biệt  
instrument (công cụ) thuộc loại nào, để  
phục vụ cho mục đích gì thì sẽ cần dùng  
tính từ quan hệ musical (thuộc nhạc)  
nhằm bổ sung chức năng cũng như phân  
loại cho danh từ này.  
Đây là lớp từ đặc biệt được hình thành  
từ sự phái sinh hình vị. Động từ kết hợp  
với các hậu tố -ing hoặc -ed để tạo thành  
các vị tính từ như exciting (kích động),  
excited (bị kích động, phấn khích)…  
thường được dùng chủ yếu để diễn đạt các  
trạng thái gây ra hoặc chịu tác động của  
động từ gốc và thường đứng ở vị trí trước  
danh từ (prenominal position). Dù được  
xem là một tiểu loại của tính từ miêu tả  
nhưng thực chất không phải toàn bộ vị tính  
từ đều là tính từ miêu tả. Nếu như các tính  
từ miêu tả được xây dựng theo dạng các  
cụm trái nghĩa thì một số vị tính từ như  
elapsed (đã qua) lại không có từ trái nghĩa  
dù trực tiếp hay gián tiếp. Những từ như  
vậy sẽ được sắp xếp riêng lẻ và mối liên hệ  
gần sẽ chỉ về động từ gốc elapse. Số còn  
lại đa phần đều có sự trái nghĩa dù trực tiếp  
hay gián tiếp, những vị tính từ đó sẽ được  
xây dựng như các tính từ miêu tả khác,  
theo các cụm trái nghĩa như wanted ><  
unwanted (bị truy lùng >< không bị truy  
lùng), retired><active (đã ngưng >< còn  
hoạt động), curved >< strainght (cong ><  
thẳng), v.v. Ngoài ra, một số trường hợp  
tính từ có có hậu tố -ed như skilled (có tay  
nghề), foliaged (có lá xanh)… dù không  
được cấu thành từ động từ hay unexcited  
(không bị phấn khích) được cấu thành dựa  
trên tính từ excited chứ không hề dựa trên  
một động từ không tồn tại như unexcite  
thì vẫn được xem là vị tính từ và được  
lồng vào trong lớp tính từ miêu tả trong  
WordNet.  
Các đặc điểm phân biệt giữa tính từ  
quan hệ và tính từ miêu tả đó là:  
Giống như danh từ bổ nghĩa, nó chỉ  
đứng ở vị trí trước danh từ (attribute  
position). Ví dụ: The presidential election/  
The election is presidential vô nghĩa.  
Không phản ánh bất kì thuộc tính  
(property) nào của danh từ nó bổ nghĩa.  
Không có sự phân độ (non-  
gradable) nên việc sử dụng các trạng từ để  
làm thay đổi giá trị của tính từ là vô nghĩa.  
Ví dụ: The very musical instrument.  
Thường không có từ trái nghĩa trực  
tiếp. Nếu có thì cặp trái nghĩa đó sẽ được  
xếp vào chung nhóm với tính từ miêu tả  
như cặp physical >< mental (thể chất ><  
tinh thần).  
Thường có dạng kết hợp từ hai yếu  
tố đơn lẻ mang nghĩa riêng biệt hay có thể  
gọi tính từ ghép (compound adjective) như  
well-behaved (thái độ tốt), good-looking  
(đẹp mã), v.v.  
Nhìn chung, do các đặc tính khó xây  
dựng các mối liên hệ thông qua trí nhớ từ  
vựng, nên nhóm từ này chủ yếu được xây  
dựng dưới dạng các tập đồng nghĩa và mối  
quan hệ chủ yếu của nó gắn với các danh  
từ mà nó hay đi cùng.  
b. Tính từ quan hệ  
Lớp tính từ lớn thứ hai sau tính từ  
miêu tả đó chính là tính từ quan hệ  
(relational adjective) (Levi, 1978). Chúng  
là các tính từ có mối quan hệ ngữ nghĩa  
và hình vị liên quan mật thiết tới lớp danh  
18  
TRẦN THỊ PHƯƠNG LÝ - BÙI BÌNH KHANG  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
niệm đối lập nhau. Các cặp trái nghĩa  
đối lập cơ bản tượng trưng cho phạm trù  
được thể hiện dưới đây đã được chọn  
lọc và chỉ lấy những cặp trái nghĩa là  
tính từ.  
2.2. Tính từ trái nghĩa trong tiếng  
Việt theo hướng tiếp cận Mạng từ  
Xét theo quan hệ ngữ nghĩa, sự trái  
nghĩa trong tiếng Việt sẽ được quy vào  
những nhóm chính dựa trên các khái  
Bảng 2.2. Các cặp đối lập thể hiện nhân tố đánh giá  
Chiều cao  
Chiều dài  
Chiều rộng  
Chiều sâu  
Đạo đức  
Độ ẩm  
cao >< thấp  
dài >< ngắn  
rộng >< hẹp  
nông >< sâu  
tốt >< xấu  
Sự béo tốt  
béo >< gầy  
khôn >< dại,  
giỏi >< dốt  
Sự khôn ngoan  
Sự kín hở  
kín >< hở  
Sự riêng tư  
Sự siêng năng  
riêng >< chung  
chăm >< lười  
ẩm >< khô  
giống >< khác,  
hơn >< kém  
Độ cứng  
Độ dày  
cứng >< mềm  
dày >< mỏng  
dễ >< khó  
Sự so sánh  
Sự sung sướng  
Sự thật  
sướng >< khổ  
đúng >< sai  
Độ khó  
Độ lớn  
to >< nhỏ  
Sự thật  
thật >< giả  
Độ mạnh  
Độ mới  
mạnh >< yếu  
mới >< cũ  
Sự tồn tại  
Sức khỏe  
Tình cảm  
Tốc độ  
có >< không  
khỏe >< yếu  
Độ nóng  
Độ thẳng  
Độ tròn  
nóng >< lạnh  
thẳng >< cong  
tròn >< méo  
đực >< cái  
đáng yêu >< đáng ghét  
nhanh >< chậm  
nặng >< nhẹ  
già >< trẻ  
Trọng lượng  
Tuổi tác  
Giới tính  
Màu sắc  
Số lượng  
trắng >< đen  
nhiều >< ít  
Vẻ ngoài  
đẹp >< xấu  
(Nguồn: Phạm Văn Lam, 2020)  
Từ các phạm trù đối lập cơ bản trên, ta  
có thể phát triển chúng thành những cặp  
tính từ trái nghĩa khác dựa vào sự tương  
đồng ngữ nghĩa của chúng. Chẳng hạn như  
ở các cặp đông >< vắng trong Phố đông  
người >< Phố vắng người, dày >< thưa  
trong Tóc anh ta dày >< Tóc anh ta thưa…  
xét ở một góc độ nào đó, chúng có mối liên  
hệ với từ cặp trái nghĩa cơ bản nhiều >< ít  
và đều phản ánh thuộc tính số lượng. Hoặc  
theo một hướng khác đó là xây dựng các  
chuỗi đồng nghĩa của mỗi bên trái nghĩa  
thông qua phương thức tạo từ phức. Từ các  
tính từ đơn phát triển thành các tính từ  
ghép đẳng lập dài lâu, ghép chính phụ dài  
hơi, dài tay hoặc từ láy dài dòng. Trong  
19  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 74 (02/2021)  
tiếng Việt, các từ đơn vốn là nền tảng để  
cấu tạo nên các từ ghép nên các từ trái  
nghĩa cũng vậy. Các từ trái nghĩa đơn phần  
lớn đều có thể dùng làm nền tảng để xây  
dựng các từ trái nghĩa phức khác hay dãy  
trái nghĩa. Điển hình là cặp trái nghĩa của  
thuộc tính chiều dài dài >< ngắn và các  
tính từ phức cấu thành từ chúng, tất cả đều  
có thể kết hợp chéo với nhau để tạo thành  
cụm trái nghĩa với cặp đối lập trực tiếp và  
các vệ tinh đối lập gián tiếp như trong  
WordNet.  
Sơ đồ 2.2. Mô hình của các tính từ trái nghĩa tiếng Việt theo hướng Mạng từ  
Trong tiếng Việt cũng có những cặp  
tính từ trái nghĩa được tạo thành bởi việc  
kết hợp một yếu tố phủ định vào từ gốc  
như hợp pháp >< bất hợp pháp, hữu hạn  
>< vô hạn, v.v. Các cặp tính từ này, tương  
tự như trong tiếng Anh có thể được xem là  
các cặp trái nghĩa trực tiếp và đóng vai trò  
trung tâm trong các cụm trái nghĩa.  
Do ở nhóm từ phức, đặc biệt là từ ghép  
chính phụ có các quy tắc kết hợp tạo thành  
từ mới từ những yếu tố đơn lẻ mà một  
trong hai yếu tố đó không thay đổi, chỉ có  
một thành tố thay đổi nhưng cũng tạo  
thành các cặp trái nghĩa như tốt bụng ><  
xấu bụng, được lòng >< mất lòng, v.v. Các  
cặp trái nghĩa này không cần bàn cãi về  
việc chúng là trái nghĩa trực tiếp hay gián  
tiếp, vì vốn dĩ việc sở hữu chung một thành  
tố đã phản ánh việc chúng là các cặp trái  
nghĩa luôn đi cùng nhau và chỉ có chúng  
mới đứng chung trong một ngữ cảnh để thể  
hiện sự đối lập.  
trên, các cặp tính từ trái nghĩa được hình  
thành dựa trên mối quan hệ ngữ nghĩa với  
cặp trái nghĩa trực tiếp như mạnh khỏe -  
yếu đuối hoặc trên mối quan hệ tạo thành  
từ phức, đặc biệt là ở nhóm từ ghép láy  
mạnh - mạnh mẽ thì thường sẽ rơi vào  
nhóm tính từ trái nghĩa gián tiếp với yếu-  
yếu đuối - yếu ớt - yếu xìu với cặp trái  
nghĩa trung tâm là mạnh >< yếu.  
Về vấn đề đa nghĩa trong tiếng Việt  
hay còn có thể coi là trường hợp các từ  
đồng âm nhưng khác nghĩa, chúng ta có thể  
xử lí theo cách của WordNet, đó chính là  
đánh số cho các nghĩa khác nhau của từ rồi  
xây dựng chúng thành những cụm trái  
nghĩa riêng biệt thông qua các từ trái nghĩa  
trực tiếp của chúng.  
Do khác biệt về đặc điểm loại hình  
ngôn ngữ khác nhau (tiếng Việt là ngôn  
ngữ đơn lập và tiếng Anh thuộc loại hình  
ngôn ngữ hoà kết) nên tồn tại sự khác nhau  
rất lớn về mặt từ và nghĩa của từ giữa hai  
ngôn ngữ. Ở tiếng Việt, mỗi hình vị tương  
Ngoài những trường hợp được nêu  
20  
TRẦN THỊ PHƯƠNG LÝ - BÙI BÌNH KHANG  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
ứng với một âm tiết, có nghĩa riêng và có  
thể kết hợp với nhau để tạo thành từ phức  
và mang nghĩa mới. Trong khi đó ở tiếng  
Anh, mỗi từ sẽ có một hoặc nhiều hình vị  
và chúng chỉ có thể thay đổi hình vị để  
thay đổi chức năng cú pháp của từ. Cũng  
có một nhóm tính từ trong tiếng Anh được  
hình thành bởi phương thức ghép hai từ  
đơn tạo thành (compound adjective), tuy số  
lượng không đáng kể nếu đem so với số  
lượng từ phức của tiếng Việt.  
Trong tiếng Anh, các cặp trái nghĩa trực  
tiếp được xác định dựa trên sự đồng hiện  
của chúng, tức khả năng cùng xuất hiện  
trong cùng một ngữ cảnh, qua đó người ta  
quy định những cặp nào là trái nghĩa trực  
tiếp, những cặp nào không là trái nghĩa trực  
tiếp. Ở tiếng Việt, có nhiều yếu tố để quyết  
định một cặp trái nghĩa có phải là trực tiếp  
hay không, từ đặc điểm cấu tạo từ cho tới  
những đặc trưng về văn hóa con người Việt  
Nam trên trời >< dưới đất, trên rừng ><  
dưới biển… là những yếu tố chính để xác  
định một cặp trái nghĩa trực tiếp.  
2.3. Hai hướng tiếp cận tạo mô hình  
Mạng từ ở lớp tính từ trái nghĩa trong  
tiếng Việt  
Dựa vào những đặc điểm trên, chúng  
ta có thể đặt ra hai giả thuyết về hướng tiếp  
cận để tạo thành mô hình Mạng từ ở lớp  
tính từ trái nghĩa trong tiếng Việt.  
Thứ nhất là mô hình dựa trên ngữ  
nghĩa của từ vựng với các mối liên hệ giữa  
các sự vật, sự việc có cùng những đặc tính  
ngữ nghĩa sẽ là các nhân tố chính để hình  
thành nên mô hình. Giả sử khi một người  
được hỏi những từ mà họ có thể nghĩ ra  
được khi nghe từ khỏe thì trong đầu sẽ hình  
dung về các sự vật, sự việc có liên quan tới  
khỏe như sức mạnh, cơ bắp, lực sĩ, voi,  
trâu... hay khi nói về giàu sẽ có các liên  
tưởng như như sang, tiền, vàng, của cải,  
phú ông, đại gia… nói chung là những hình  
dung về cái có cùng đặc tính ngữ nghĩa.  
Sơ đồ 3. Mô hình từ vựng tinh thần tiếng Việt dựa trên các yếu tố ngữ nghĩa  
21  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 74 (02/2021)  
Thứ hai là mô hình dựa trên các mối  
quan hệ giữa hình thức từ. Ở loại mô hình  
này, các mối liên hệ chặt chẽ hơn bởi chúng  
sẽ bị giới hạn trong những phạm vi từ loại,  
ngữ nghĩa có quan hệ đồng nghĩa, trái nghĩa  
giữa các từ với nhau. Giả dụ như khi hỏi về  
các từ liên quan tới khỏe thì giờ đây các  
đơn vị từ vựng xuất hiện sẽ là những từ  
đơn, ghép có mối liên hệ tương đồng, trái  
nghĩa hoặc được tạo thành từ khỏe như sức  
khỏe, khỏe mạnh, mạnh mẽ, sức mạnh, khỏe  
khoắn, trẻ khỏe, yếu, yếu đuối, đuối sức,  
v.v. Từ loại tiếng Việt bao gồm từ đơn và từ  
ghép, trong đó nhóm từ ghép gồm những từ  
được hình thành từ ít nhất một yếu tố đơn  
nghĩa (chính phụ, đẳng lập); ngoài ra là các  
từ ghép có cấu tạo âm ở từ thứ hai dựa trên  
sự tương đồng về âm vị với với từ đơn có  
nghĩa trước đó. Bên cạnh đó, các mối quan  
hệ về từ vựng như bao thuộc, kéo theo,  
đồng nghĩa, trái nghĩa cũng được vận dụng  
để xây dựng mô hình. Nếu khắt khe hơn với  
việc chỉ xét các từ cùng loại thì sẽ giảm bớt  
được độ rộng của mô hình từ, do những  
mối quan hệ giữa các từ chỉ xuất hiện ở một  
số từ loại nhất định (như quan hệ bao thuộc  
chỉ có ở danh từ, quan hệ kéo theo chỉ có ở  
động từ).  
3. Kết luận  
Sự phân hóa rõ rệt giữa các tiểu loại  
của nhóm tính từ trái nghĩa trong tiếng Anh  
đã được thể hiện rõ qua các phân tích về sự  
tổ chức của tính từ trái nghĩa trong tiếng  
Anh ở Mạng từ. Các mối liên hệ chủ yếu  
trong sự tổ chức đó hầu hết là những mối  
liên hệ giữa các từ trái nghĩa với nhau dựa  
trên ngữ nghĩa, hình thức từ. Tiếng Việt do  
thuộc một loại hình ngôn ngữ khác nên có  
những sự khác biệt nhất định về mặt từ loại  
cũng như từ pháp. Cách tiếp cận theo  
hướng Mạng từ đối với tiếng Việt sẽ gặp  
một số trở ngại nhất định do sự khác biệt  
giữa hai ngôn ngữ tạo thành. Tuy nhiên trong  
hệ thống tính từ tiếng Việt vẫn có những đặc  
tính nổi trội và có nét tương đồng với những  
đặc tính nhất định của hệ thống tính từ trái  
nghĩa của tiếng Anh. Qua những phân tích và  
các hướng đề xuất trong bài viết về việc xây  
dựng tính từ trái nghĩa theo Mạng từ, có thể  
nhận thấy rằng việc xây dựng một mạng lưới  
ngữ nghĩa tương tự như của tính từ tiếng Anh  
trong WordNet là hoàn toàn khả thi.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Bierwisch, M. (1989). The Semantics of Gradation.  
Charles, W. G., & Miller, G. A. (1989). Contexts of antonymous adjectives. Applied  
Psycholinguistics, 10, 357–375.  
Dương Kỳ Đức, Nguyễn Văn Dựng, & Vũ Quang Hào. (1988). Từ điển trái nghĩa tiếng  
Việt. Hà Nội: NXB Giáo dục chuyên nghiệp.  
Gross, D., Fischer, U. & Miller, G. A. (1989). The organization of adjectival meanings.  
Journal of Language and Memory 28, 92-106.  
Justeson, John S. and Katz, Slava M. (1991). Co-occurrences of antonymous adjectives  
and their contexts. Computational Linguistics.  
Justeson, John S. and Katz, Slava M. (1992). Redefining Antonymy: The Textual Structure  
of a Semantic Relation. Literary and Linguistic Computing, 7(3), 176-184.  
22  
TRẦN THỊ PHƯƠNG LÝ - BÙI BÌNH KHANG  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
Levi, J. N. (1978). The Syntax and Semantics of Complex Nominals. Academic Press.  
Miller, G. A. (1993). Five Papers on WordNet. Cognitive Science Laboratory: Princeton  
University.  
Phạm Văn Lam. (2020). Từ trái nghĩa tiếng Việt. Hà Nội: NXB Giáo dục Việt Nam.  
Randolph Quirk, Sidney Greenbaum, Geoffrey Leech, Jan Svartvik. (1985).  
A Comprehensive Grammar of the English Language. Longman.  
Ngày nhận bài: 05/11/2020  
Biên tập xong: 15/02/2021  
Duyệt đăng: 20/02/2021  
23  
pdf 9 trang yennguyen 19600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tính từ trái nghĩa trong tiếng Việt và tiếng Anh theo hướng tiếp cận mạng từ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftinh_tu_trai_nghia_trong_tieng_viet_va_tieng_anh_theo_huong.pdf