Đánh giá thực hiện vai trò của DMO từ quan điểm của các bên liên quan: Nghiên cứu khám phá tại điểm đến Đà Nẵng

TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(04) - 2020  
ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN VAI TRÒ CꢀA DMO TỪ QUAN ĐIỂM CꢀA  
CÁC BÊN LIÊN QUAN: NGHIÊN CỨU KHÁM PHÁ  
TẠI ĐIỂM ĐẾN ĐÀ NẴNG  
ASSESMENT OF DMO’S ROLE UNDER THE VIEW OF STAKEHOLDERS:  
EXPLORATORY STUDY OF DANANG DESTINATION  
Ngày nhận bài: 09/09/2020  
Ngày chấp nhận đăng: 20/11/2020  
Nguyễn Thị Bích Thủy, Nguyễn Phúc Nguyên  
TÓM TẮT  
Tꢀ chꢁc quꢂn lꢃ điểm đến (DMO) là kết quꢂ của một cộng đồng du lịch có tꢀ chꢁc. Các DMO ban  
đầu chủ yếu được định hướng vào hoạt động tiếp thị và ban hành chính sách. Để đạt được năng  
lực cạnh tranh lâu dài và bền vững của điểm đến đòi hỏi một định hướng rộng hơn là bán hàng và  
tiếp thị. Khó khăn ngày càng tăng để đạt được khꢂ năng cạnh tranh của điểm đến đòi hỏi các  
DMO phꢂi chủ động tập trung vào việc quꢂn lꢃ các tài nguyên, văn hóa xã hội và môi trường của  
điểm đến, phꢂi chịu trách nhiệm về đꢀi mới và phát triển điểm đến du lịch. Nghiên cꢁu này khám  
phá về các vai trò của DMO theo quan điểm của các bên liên quan ở điểm đến Đà Nẵng. Kết quꢂ  
nghiên cꢁu chỉ ra rằng trong khi các hoạt động thuộc chꢁc năng tiếp thị điểm đến ra bên ngoài  
được chú trọng thực hiện thì chꢁc năng quꢂn lý nội bộ điểm đến còn nhận chưa đầy đủ và nhiều  
hoạt động cần thiết chưa quan tâm thực hiện. Điều này có thể ꢂnh hưởng đến sự phát triển bền  
vững của điểm đến.  
Từ khóa: tꢀ chꢁc quꢂn lꢃ điểm đến, Đà Nẵng, Du lịch, giới hữu quan  
ABSTRACT  
A destination management organization (DMO) is the result of an organized tourism community.  
The original DMOs were primarily oriented towards marketing and policy making. Achieving your  
destination's long-term and sustainable competitiveness requires a broader direction than sales  
and marketing. The increasing difficulties of achieving destination competitiveness requires DMOs  
to actively focus on the management of destination's resources, socio-cultural and environmental  
issues and take responsibility for innovation as well as tourism development. This study explores  
what the roles of the DMO from the perspectives of stakeholders in the Danang destination. The  
research shows that while the external destination marketing function is focused on, the internal  
management function of the destination has not been fully received and many necessary activities  
have not been paid attention. This may affect the sustainable development of the destination.  
Keywords: DMO, Danang, Tourism, stakeholders  
phát triển liên tục của một điểm đến du lịch  
1. Giới thiệu  
nằm ở chất lượng và tính hiệu quả của các  
Điểm đến được coi là một sản phẩm du  
mối quan hệ trong các nhà cung cấp dịch vụ  
lịch với hỗn hợp của các sản phẩm, dịch vụ  
và giữa họ với môi trường của điểm đến. Các  
khác nhau, cung cấp một trải nghiệm tích  
quan hệ hiệu quả giúp cho các điểm đến du  
hợp cho người tiêu dùng (Buhalis, 2000).  
lịch có được nền tảng về sự nhanh nhạy trong  
Các yếu tố thu hút, cả các yếu tố vật chất như  
điều kiện thị trường năng động và có những  
tài nguyên thiên nhiên cơ sở hạ tầng, công  
lúc hỗn loạn như dịch bệnh Covid 19.Khách  
trình kiến trúc.. và các yếu tố xã hội như  
du lịch luôn mong muốn có được sự trải  
ngôn ngữ, sự thân thiện, cư dân địa  
nghiệm tích hợp tuyệt vời, đảm bảo sự linh  
phương…chưa đủ để biến một nơi chốn nào  
đó trở thành điểm đến du lịch (Buckley,  
Nguyễn Thị Bích Thủy, Nguyễn Phúc Nguyên,  
1994). Yếu tố them chốt cho sự nổi lên và  
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng  
55  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
hoạt, và mang tính cá nhân. Điểm đến chỉ có  
đa dạng của khách du lịch mà còn cả các  
doanh nghiệp du lịch cũng như cộng đồng  
dân cư, các doanh nghiệp khác nhau ở địa  
phương (Howie, 2003). Ngày nay các điểm  
đến cạnh tranh rất khốc liệt và có tính toàn  
cầu để thu hút cả khách du lịch và các nhà  
đầu tư với mục tiêu phát triển bền vững.  
Theo truyền thống, DMO thường là bên liên  
quan chính chịu trách nhiệm tiếp thị và quản  
lý điểm đến. Vì thế nghiên cứu này có mục  
tiêu khám phá về nhận thức của các bên liên  
quan về vai trò mà DMO đã và đang thực  
hiện. Nghiên cứu sẽ được thực hiện ở điểm  
đến Đà Nẵng, là một điểm đến mới nổi, nơi  
mà du lịch ngày càng đóng góp quan trọng  
cho GDP nơi đây.  
thể cung cấp điều đó nhờ vào sự tương tác  
giữa các nhà cung cấp dịch vụ ở những lĩnh  
vực khác nhau, là sự thắng lợi chiến lược cho  
điểm đến du lịch để đạt được sự phát triển  
bền vững và nổi lên trong cuộc cạnh tranh  
toàn cầu. Như vậy sự sống và hoạt động của  
các con người và tổ chức liên quan đối với  
hoạt động du lịch là quan trọng trong một  
điểm đến. Mặc dù họ không đồng nhất về  
môi trường họ hoạt động, văn hóa, vốn xã  
hội và các mục đích nhưng tất cả lại có mục  
tiêu chung là phát triển điểm đến và tăng khả  
năng cạnh tranh với các điểm đến khác  
(Ammirato &cs, 2014). Theo Ammirato &cs,  
các thực thể trong điểm đến liên quan cung  
cấp sự trải nghiệm tích hợp cho du khách có  
thể nhóm gộp bao gồm: (1) doanh nghiệp  
cung cấp dịch vụ lưu trú (khách sạn...) & và  
dịch vụ ăn uống (nhà hàng…); (2) doanh  
nghiệp các công ty cung cấp dịch vụ vận  
chuyển công cộng và tư nhân (xe buýt, taxi,  
máy bay, tàu hỏa, v.v.); (3) doanh nghiệp  
cung cấp dịch vụ quản lý sự kiện công cộng  
và tư nhân liên quan đến việc tổ chức các sự  
kiện (hội nghị, hội thảo, ca nhạc, sự kiện thể  
thao, festival); (4) doanh nghiệp cung cấp các  
dịch vụ và hàng hóa bổ sung cho khách du  
lịch, như trung tâm mua sắm, cửa hàng đồ  
lưu niệm thủ công mỹ nghệ, đặc sản địa  
phương, bảo tàng, dịch vụ tham quan, thể  
thao & giải trí. Mặc dầu tất cả các nhà cung  
cấp dịch vụ có thể tương tác với nhau ở các  
cấp độ hợp tác khác nhau, chính thức hoặc  
phi chính thức thì các sản phẩm dịch họ cần  
phải tích hợp tốt nhất tạo thành một chuỗi  
cung ứng để đưa lại trải nghiệm giá trị cao  
cho du khách. Tuy nhiên, chuỗi cung ứng du  
lịch thành công hay không phụ thuộc vào  
cách thức quản lý. Với sự phức tạp của sự  
phụ thuộc vào rất nhiều bên liên quan, rõ  
ràng các điểm đến phải đối diện với nhiều  
thách thức trong quản lý và phát triển ở chỗ  
họ không chỉ phải đáp ứng một loạt nhu cầu  
2. Cơ sꢁ lꢂ thuyꢃt  
2.1. Sự cần thiết của quản lý điểm đến  
Quản lý điểm đến đã trở thành một chủ đề  
quan trọng để cung cấp chất lượng dịch vụ và  
trải nghiệm tổng thể cao nhất cho du khách  
(Roxas & Chadee, 2013). Sản phẩm du lịch  
đang cung cấp không thiết lập một tập hợp cố  
định các hoạt động được tiến hành dọc theo  
chuỗi giá trị nữa. Thay vào đó, các điểm đến  
thành công tái tạo lại giá trị và cung cấp cho  
du khách theo những cách thức mới (Roxas  
& Chadee, 2013; UNWTO, 2007). Khi các  
sản phẩm dịch vụ du lịch mới trở nên phức  
tạp và đa dạng hơn, các mối quan hệ cần thiết  
để sản xuất các dịch vụ này cũng phức tạp  
hơn (Normann & Ramirez, 1993). Tính phức  
tạp này đòi hỏi tăng cường sự tương tác  
thường xuyên giữa tất cả các bên liên quan  
của điểm đến bởi vì một bên liên quan duy  
nhất hiếm khi có thể cung cấp mọi thứ cần  
thiết cho du khách được nữa. Tuy nhiên, các  
bên liên quan muốn những lợi ích, có vai trò  
và nhu cầu cụ thể riêng và người quản lý  
điểm đến phải hiểu biết rõ ràng về chúng để  
đảm bảo sự thành công của điểm đến (Garrod  
và cs., 2012). Chìa khóa thành công là cấu  
hình lại vai trò và mối quan hệ giữa các bên  
56  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(04) - 2020  
liên quan khác nhau trong điểm đến để đảm  
ngày càng nổi bật hơn về khía cạnh đóng vai  
trò là chất xúc tác và tạo điều kiện cho việc  
thực hiện phát triển du lịch của điểm đến.  
Mặc dầu tiếp thị vẫn là mục tiêu chính của  
DMO còn bao gồm nhiều hơn vai trò tiếp thị,  
nó còn thực hiện các hoạt động quan trọng  
khác để thực hiện cạnh tranh thành công cho  
một điểm đến và phát triển du lịch bền vững.  
bảo việc tạo ra giá trị theo hình thức mới, tất  
cả các bên liên quan kết hợp và hợp tác làm  
việc cùng nhau. DMO: Tổ chức quản lý điểm  
đến (DMO)  
Các tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng  
của quản lý điểm đến đối với gia tăng năng  
lực cạnh tranh của tổng thể điểm đến  
(Bornhorst và cs., 2009; Scott và cs., 2008).  
Tổ chức quản lý điểm đến (DMO) được  
WTO (2004) xác định là tổ chức chịu trách  
nhiệm quản lý và/hoặc tiếp thị điểm đến ở  
cấp quốc gia, khu vực và địa phương. Cơ sở  
cho sự hình thành các DMO, ở tất cả các cấp,  
là do các điểm đến cần một phương tiện để  
nâng cao khả năng cạnh tranh của nó. Với  
tính đa chiều tạo nên năng lực cạnh tranh của  
điểm đến, không ai phủ nhận rằng trong thị  
trường du lịch cạnh tranh ngày nay, một  
điểm đến không thể duy trì, đạt được khả  
năng cạnh tranh khi nó không được tổ chức  
và quản lý hiệu quả. (Pike, 2008). DMO chịu  
trách nhiệm thực hiện tiếp thị điểm đến, quản  
lý điểm đến hoặc thực hiện cả hai (Ritchie và  
Crouch, 2003; Scott và cs., 2008; Bornhorst  
và cs., 2009). Bằng cách tập trung vào lập kế  
hoạch, truyền thông và quảng bá, sự phối  
hợp, DMO đảm bảo thực hiện quản lý hiệu  
quả điểm đến và do đó đưa đến thành công  
chung của cả điểm đến (Mazanec và cs.,  
2007; Morrison, 2013).  
Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều tên  
gọi liên quan đến DMO ở các quốc gia khác  
nhau. Tổ chức Du lịch Thế giới (2004) đã  
xác định DMO là tổ chức chịu trách nhiệm  
quản lý và tiếp thị điểm đến và thường là một  
trong các loại sau:  
• DMO quốc gia: Các cơ quan hoặc tổ  
chức du lịch quốc gia, chịu trách nhiệm quản  
lý và/hoặc tiếp thị du lịch ở cấp quốc gia;  
• DMO khu vực, tỉnh, bang: chịu trách  
nhiệm quản lý và/hoặc tiếp thị du lịch ở một  
khu vực địa lý nhưng đôi khi không gắn liền  
với khu vực hành chính là chính quyền địa  
phương tiểu bang hoặc tỉnh mà liên quan đến  
khu vực địa lý gắn liền với trải nghiệm của  
du khách  
• DMO địa phương: chịu trách nhiệm  
quản lý và/hoặc tiếp thị du lịch dựa trên một  
khu vực địa lý nhỏ hơn là thành phố/thị  
trấn/làng.  
Tùy thuộc vào điểm đến, vai trò của  
DMO có thể được thực hiện bởi một cơ quan  
công quyền, hoặc bởi sự hợp tác giữa các tổ  
chức công và tư nhân, hoặc thậm chí bởi các  
tổ chức phi lợi nhuận.  
Ở thời kỳ đầu, DMO được xem là tổ chức  
tiếp thị điểm đến. Du lịch là một ngành công  
nghiệp phát triển nhanh chóng, các điểm đến  
ngày càng cạnh tranh có tính toàn cầu nên du  
lịch trở thành là một ngành có trạng thái  
chuyển đổi rất mạnh. Quá trình chuyển đổi  
này làm cho DMO trở thành một tổ chức  
quản lý điểm đến thay vì chỉ là một tổ chức  
tiếp thị điểm đến (Morrison, 2013). Việc đạt  
được năng lực cạnh tranh của điểm đến đòi  
hỏi một định hướng rộng hơn là bán hàng và  
tiếp thị tức là tiếp cận theo quan điểm quản  
lý điểm đến (Pike, 2008). Các DMO đang  
2.2. Vai trò và các hoạt động của DMO  
Trong các tài liệu có những quan điểm  
khác nhau về vai trò hay chức năng của  
DMO. Theo Ritchie và Crouch (2003), trong  
thực tiễn có nhiều quan điểm cho rằng DMO  
có thể được gọi là tổ chức xúc tiến điểm đến  
là thích hợp hơn vì nhiều người trong số họ  
tin rằng những nỗ lực của DMO là chỉ dành  
riêng cho quảng cáo điểm đến. Heath và Wall  
57  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
(1992) cho rằng các DMO đã thừa nhận tầm  
sẽ đảm bảo tính toàn diện và kỹ lưỡng nhất có  
thể, có tính định hướng bên ngoài với mục  
tiêu là ảnh hưởng đến hành động của những  
tác nhân liên quan bên ngoài điểm đến đến.  
Các DMO có thể sử dụng các công cụ xúc tiến  
khác nhau như bán hàng cá nhân, tiếp thị trực  
tiếp, quảng cáo, xúc tiến bán hàng, công bố  
thông tin và quan hệ công chúng.  
quan trọng của vai trò phi tiếp thị của họ  
trong việc phát triển, nâng cao và duy trì khả  
năng cạnh tranh điểm đến. Getz, Anderson và  
Sheehan (1998) đã khảo sát DMO và tìm  
thấy một số vai trò đối với phát triển sản  
phẩm trong một điểm đến. Ritchie và Crouch  
(2003) đã ủng hộ quan điểm cho rằng chữ  
“M” trong DMO nên chuyển đổi sang là  
“quản lý” hơn chỉ là “tiếp thị” vì vai trò của  
các DMO đã được củng cố thêm khi các  
điểm đến đã cố gắng chủ động hơn vai trò  
trong việc quản lý các lợi ích của phát triển  
du lịch.  
Mặc dù việc bán sản phẩm và dịch vụ du  
lịch của một điểm đến có thể được thực hiện  
chủ yếu bởi các công ty cá nhân kinh doanh  
chúng, nhưng DMO được xem là "quản lý"  
việc bán điểm đến theo nghĩa rộng hơn. Các  
hoạt động tiếp thị điểm đến bên ngoài (EDM)  
thường bao gồm các hoạt động sau đây.  
Minguzzi và Presenza (2004) nhấn mạnh  
tầm quan trọng của DMO trong việc nâng  
cao nhận thức về chất lượng hình ảnh và chất  
lượng dịch vụ điểm đến. Theo UNWTO  
(2007), DMO thường tham gia vào các hoạt  
động: các hoạt động phát triển sản phẩm du  
lịch, cung cấp các dịch vụ liên quan đến phát  
triển nguồn lực vật chất; phát triển nguồn  
nhân lực và đào tạo nghề; hỗ trợ và tư vấn  
cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịch;  
đưa ra quy định hoạt động của ngành du lịch.  
Theo Angelo & cs (2005) cho rằng các hoạt  
động của DMO được tổ chức vào hai chức  
năng quan trọng: tiếp thị điểm đến ra bên  
ngoài; phát triển nội bộ điểm đến. Vai trò của  
DMO được Presenza & cs (2005) tổng hợp từ  
các nghiên cứu trong 3 nhóm là tiếp thị điểm  
đến ra bên ngoài; phát triển nội bộ điểm đến;  
và quản lý tổng thể điểm đến.  
Tiếp thị trên các trang web: là cách hữu  
hiệu và hiệu quả để truyền thông tiếp thị và  
các thông điệp khác tới các bên liên quan của  
điểm đến. Sự phát triển của thương mại điện  
tử đã dẫn đến những thay đổi lớn trong hành  
vi của khách du lịch và có sự hình thành các  
thị trường mới, ảo ngoài các thị trường du  
lịch vật lý truyền thống.  
Quảng cáo: Ấn phẩm và tài liệu quảng  
cáo được tạo ra để đáp ứng các yêu cầu thông  
tin từ du khách tiềm năng và lôi kéo họ đến  
với điểm đến; cung cấp cho họ thông tin về  
các hoạt động một khi họ đến điểm đến.  
Các tour du lịch giới thiệu quảng bá/farm  
trip: những người có tầm ảnh hưởng tiềm  
năng của du lịch (đặc biệt là những người  
thiết lập kế hoạch các cuộc họp và hội nghị,  
các nhà văn, nhà làm phim và các nhà điều  
hành tour) được cung cấp các gói du lịch, kỳ  
nghỉ miễn phí hoặc giảm giá để hiểu biết về  
điểm đến và sản phẩm của du lịch ở đây.  
2.2.1. Tiếp thị điểm đến ra bên ngoài (EDM)  
Các hoạt động tiếp thị là hoạt động chính  
của DMO đã được thể hiện từ các nghiên cứu  
trong nhiều tài liệu du lịch. Sau khi các hoạt  
động chiến lược tiếp thị như xác định thị  
trường mục tiêu thu hút, quyết định về hình  
ảnh, thương hiệu và định vị điểm đến đã được  
hoàn thành. Hoạt động chức năng EDM là tất  
cả các hoạt động nhằm thu hút du khách đến  
điểm đến. Các hoạt động cụ thể được lựa chọn  
Bán hàng tại các cuộc triển lãm thương  
mại ngành du lịch: có thể rất hiệu quả trong  
việc xây dựng mối quan hệ giữa DMO với  
các nhà cung cấp sản phẩm, dịch vụ du lịch  
khác nhau tại điểm đến. Triển lãm thương  
mại là những sự kiện mà hoạt động chính của  
người tham dự là ghé thăm các cuộc triển  
58  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(04) - 2020  
lãm. Những sự kiện này tập trung chủ yếu  
vào hình thành các mối quan hệ kinh doanh.  
hình của IDD. Có thể thực hiện đáp ứng từ  
xa các yêu cầu thông tin của du khách bằng  
cách cung cấp các trung tâm thông tin du  
khách để hỗ trợ khách du lịch đến điểm đến,  
phát triển hệ thống tiếp cận các địa điểm duc  
lịch quan trọng để du khách trải nghiệm sao  
cho tránh được tình trạng quá tải và suy thoái  
môi trường.  
Bán hàng trực tiếp: liên quan đến việc  
thực hiện tiếp cận trực tiếp các cá nhân hoặc  
nhóm. Các chương trình xúc tiến này có thể  
nhắm trực tiếp vào người tiêu dùng, các  
doanh nghiệp ngành du lịch hoặc các trung  
gian là những người có thể ảnh hưởng đến  
doanh thu du lịch. Điều quan trọng cần lưu ý  
là các hoạt động bán hàng trực tiếp, bán hàng  
tại các cuộc triển lãm thương mại ngành du  
lịch và các triển lãm thương mại có liên quan  
cao với nhau và thường được gộp lại với  
nhau cho các mục đích tiếp thị điểm đến.  
Đánh giá chất lượng trải nghiệm ở điểm  
đến thông qua các khảo sát về sự hài lòng  
của du khách. Trải nghiệm toàn diện của du  
khách sẽ được tích hợp ở tất cả các trải  
nghiệm riêng biệt trong chuỗi trải nghiệm du  
lịch của họ. Các dịch vụ cho du khách có thể  
không đủ để đảm bảo sự hài lòng của khách  
du lịch. Cần phải hiểu rõ mức độ hài lòng của  
du khách ở các trải nghiệm khác nhau.  
Thư trực tiếp: là một hình thức quảng cáo  
trong đó các ấn phẩm được gửi trực tiếp đến  
thị trường mục tiêu thông qua gửi thông tin  
cho khách hàng về sản phẩm/công ty. Các  
chương trình hợp tác, theo đó các DMO tổ  
chức các cơ hội cho các tổ chức du lịch tại  
điểm đến để tập trung nguồn quỹ tiếp thị của  
họ vào các sáng kiến cụ thể, tạo thành một sự  
thể hiện tiếp thị thống nhất trong dài hạn.  
Thông tin/nghiên cứu: cho phép DMO  
hiểu biết nhu cầu thị trường, khả năng cung  
ứng hiện tại của ngành du lịch và những hạn  
chế cần được giải quyết. Ritchie & Crouch  
(2003) chỉ ra rằng DMO phải được quan tâm  
với hai luồng thông tin/nghiên cứu khác  
nhau: dòng thông tin cung cấp đầu vào hữu  
ích để DMO thực chức năng quản lý; và  
dòng thông tin mà DMO cung cấp cho các  
bên liên quan của điểm đến.  
Các sự kiện, hội nghị và lễ hội: bao gồm  
một loạt các chuyến du lịch gắn với sự kiện  
du lịch văn hóa, thể thao, chính trị và kinh  
doanh. Khi tầm quan trọng của sự kiện đã  
tăng lên, nhiều cộng đồng, điểm đến và tập  
đoàn du lịch sẽ tạo ra các vị trí nhân viên  
thường trực để phát triển hoặc phối hợp lĩnh  
vực sự kiện đối với các lý do chiến lược.  
Phát triển nguồn nhân lực: Mặc dầu  
DMO ít có quyền kiểm soát trực tiếp việc  
cung cấp các dịch vụ giáo dục và đào tạo,  
nhưng nó có thể bằng chính sách để ảnh  
hưởng đến mạng lưới các bên liên quan đối  
với việc phát triển nguồn nhân lực để đảm  
bảo việc cung cấp đủ cả số lượng và chất  
lượng. Điều này rất quan trọng để đạt được  
trải nghiệm chất lượng cao và nhất quán cho  
du khách nhờ vào các nhân viên được đào tạo  
tốt ở tất cả các cơ sở cung cấp dịch vụ cho du  
khách.  
2.2.2. Phát triển bên trong của điểm đến  
(Internal destination development -IDD)  
Vai trò/chức năng IDD bao gồm tất cả các  
hình thức hoạt động khác ngoài tiếp thị điểm  
đến, do DMO thực hiện quản lý để phát triển  
và duy trì du lịch tại điểm đến. Chúng bao  
gồm:  
Dịch vụ du khách bao gồm việc quản lý  
du khách, truyền thông việc cung cấp các sản  
phẩm và dịch vụ du lịch tại điểm đến. Đây là  
một trong số các hoạt động chính và điển  
Quản lý tài nguyên/nguồn lực du lịch:  
Mục đích chính của quản lý nguồn lực là để  
quản lý điểm đến một cách bền vững. Điều  
này liên quan đến việc đạt được một sự hiểu  
59  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
biết về những giới hạn về nguồn lực vật chất  
nhất ở Việt Nam nên những năm gần đây du  
lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng  
góp quan trọng vào thu nhập của thành phố,  
tạo công ăn việc làm cho người dân. Các cơ  
quan quản lý nhà nước về du lịch thành phố  
Đà Nẵng đã dần khẳng định được vai trò  
trong phát triển ngành Du lịch (Giang, 2019).  
Tuy nhiên vai trò của các DMO ở Đà Nẵng  
được các bên liên quan đánh giá thực hiện  
như thế nào, các hoạt động đã đảm bảo cho  
họ thực hiện vai trò quản lý và tiếp thị điểm  
đến đạt được sự phát triển điểm đến bền  
vững hay chưa thì chưa được quan tâm  
nghiên cứu. Với hiểu hiết còn hạn chế về vai  
trò của DMO được nhận thức bởi các bên  
liên quan như thế nào tại điểm đến Đà Nẵng.  
Ở giai đoạn nghiên cứu đầu tiên, chúng tôi đã  
sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính  
và cụ thể là phương pháp phỏng vấn sâu bán  
cấu trúc được lựa chọn. Nhà nghiên cứu sẽ  
khai thác một cách cụ thể, đi sâu vào các khía  
cạnh của vấn đề giúp đảm bảo hiểu biết khái  
quát nhưng sâu về vai trò của DMO trong  
quản trị điểm đến. Với phương pháp này  
chúng tôi sẽ khám phá để làm rõ vấn đề  
thông qua tập trung vào trả lời câu hỏi gợi  
mở “cái gì” và tiếp theo là “như thế nào” và  
“tại sao” (thay vì đo lường) (Ereaut và cộng  
sự, 2002).  
liên quan đến khả năng thực hiện của điểm  
đến đến, các tác động tiềm tàng bởi phát triển  
du lịch và thực hiện quản lý để ngăn chặn.  
Nỗ lực về tài chính và vốn kinh doanh: hỗ  
trợ các bên liên quan về tài chính và tiếp cận  
vốn kinh doanh; làm cho cộng đồng tài chính  
nhận thức được bản chất của ngành du lịch  
cũng như các cơ hội phát triển kinh doanh.  
2.2.3. Quản lý tổng thể điểm đến (Overall  
Destination Management-ODM)  
Khi thực hiện vai trò Quản lý điểm đến  
tổng thể (ODM), DMO có hai hoạt động  
chính là phối hợp các bên liên quan và quản  
lý khủng hoảng. Trong việc thực hiện vai trò  
EDM và IDD, trên thực tế hầu hết các hoạt  
động DMO không thể thực hiện được nếu  
không có sự tham gia của các bên liên quan  
khác nhau. Đối với nhiều hoạt động, DMO  
chỉ đóng vai trò là người hỗ trợ hoặc xúc tác  
còn các bên liên quan mới là những người  
thực hiện và có nguồn lực để thực hiện.  
DMO cần giúp phối hợp việc triển khai các  
nguồn lực từ các bên liên quan. Quản lý  
khủng hoảng là khả năng dự đoán và giải  
quyết nhanh chóng các cuộc khủng hoảng.  
Các cuộc khủng hoảng có thể bao gồm các  
vấn đề nảy sinh ở địa phương liên quan đến  
hành vi phạm tội đối với khách du lịch hoặc  
của du khách; vấn đề khủng hoảng về hình  
ảnh điểm đến; các vấn đề rộng lớn hơn như  
khủng bố, xung đột chính trị, hoặc thiên tai  
(như sóng thần), bệnh dịch (như Sars, covid  
19). Hai hoạt động chính của quản lý tổng  
thể điểm đến này theo các quan điểm khác  
(như Angelo & cs, 2005) lại được gộp trong  
vai trò IDD của các DMO.  
Dữ liệu được thu thập từ các nhà quản trị  
cấp cao ở các tổ chức đại diện từ các bên liên  
quan trong ngành du lịch ở Đà Nẵng. Đối với  
phương pháp nghiên cứu định tính nói chung  
và phương pháp phỏng vấn sâu nói riêng, số  
lượng mẫu không phải là vấn đề phải quá  
quan tâm. Nguồn thông tin đủ tin cậy và đủ  
chuyên sâu để giải thích làm rõ đươc bản  
chất của vấn đề nghiên cứu là điều quan  
trọng. Với sự lựa chọn đối tượng phù hợp để  
đạt được mục tiêu nghiên cứu và sự chấp  
nhận từ người đề nghị tham gia phỏng vấn,  
10 nhà quản trị cấp cao bao gồm các tổ chức  
quản lý điểm đến du lịch, hiệp hội du lịch và  
các bên liên quan khác nhau là lĩnh vực  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Đà Nẵng là một trong những điểm đến  
được yêu thích nhất ở châu Á với nhiều bãi  
biển hấp dẫn và những địa điểm đáng kinh  
ngạc được xếp hạng là khu vực cạnh tranh  
60  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(04) - 2020  
khách sạn, lữ hành, nhà hàng và kinh doanh  
6
7
8
Qui hoạch phát triển du lịch  
Thu hút đầu tư du lịch  
đặc sản địa phương. Để đảm bảo chất lượng  
phỏng vấn, các cuộc phỏng vấn đều được hẹn  
trước với người tham gia với thời gian dự  
kiến là 60 phút. Câu hỏi trọng tâm được đặt  
ra khi thực hiện phỏng vấn sâu là: Các cơ  
quan quản lý tại Đà Nẵng đã thực hiện những  
vai trò cụ thể như thế nào trong hoạt động  
quản lý của họ?  
Phát triển sản phẩm du lịch của  
điểm đến  
9
Quản lý và cung cấp thông tin cho  
du khách  
10 Quản lý môi trưởng  
Phương pháp phân tích nội dung được sử  
dụng để phân tích dữ liệu. Phân tích nội dung  
là một công cụ được sử dụng để xác định sự  
hiện diện của các từ, chủ đề hoặc khái niệm  
trong một tập hợp dữ liệu định tính xác định.  
Trong nghiên cứu này, tất cả dữ liệu thu thập  
được từ các bên liên quan được trình bày  
dưới dạng văn bản để thực hiện phân tích.  
Phân tích dữ liệu tập trung vào mục tiêu là  
xác định được vai trò của DMO thông qua  
các hoạt động được nhiều người nhất đánh  
giá đã được DMO thực hiện liên quan đến  
vai trò đó của DMO ở điểm đến Đà Nẵng.  
Hơn nữa, các hoạt động đó của DMO cũng  
được được diễn giải khái quát thực hiện như  
thế nào.  
Nguồn: Dữ liệu thu thập từ nghiên cứu tại điểm  
đến Đà Nẵng  
Kết quả nghiên cứu cho thấy nhận thức  
của các bên liên quan về vai trò của DMO đã  
và đang thực hiện trong thời gian qua tại  
điểm đến Đà Nẵng trước tiên tập trung chính  
vào các hoạt động: Xúc tiến, quảng bá điểm  
đến; Tổ chức lễ hội, sự kiện; Tham gia triển  
lãm thương mại; Chương trình kích cầu du  
lịch; Huy động nguồn lực xúc tiến du lịch.  
Đây là những hoạt động liên quan đến vai trò  
tiếp thị cho điểm đến. Như vậy các bên liên  
quan nhận thức lớn hơn về vai trò của các cơ  
quan quản lý điểm đến mạnh nhất là liên  
quan đến việc thực hiện chức năng marketing  
cho điểm đến. Đối với các hoạt động động  
thực hiện vai trò tiếp thị điểm đến Đà Nẵng,  
các bên liên quan đã cho rằng các DMO ở Đà  
Nẵng đã có rất nhiều nỗ lực.  
4. Kꢃt quả nghiên cứu:  
Kết quả nghiên cứu cho thấy mười hoạt  
động đứng đầu được nhiều nhất các bên liên  
quan cho rằng các DMO ở Đà Nẵng đã thể  
hiện vai trò của họ, biểu thị ở bảng 1 như sau:  
Về công tác xúc tiến, quảng bá và tham  
gia hội chợ: hằng năm Sở du lịch đã xây  
dựng kế hoạch về công tác xúc tiến thị  
trường quốc tế; thị trường nội địa và các hoạt  
động xúc tiến tại chỗ. Các hoạt động xúc  
tiến, quảng bá ở thị trường nội địa và tại chỗ  
thường là tham gia hội chợ như hội chợ  
VITM Hà Nội, ITE thành phố Hồ Chí Minh;  
tổ chức hội nghị; triển khai chương trình  
quảng bá tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí  
Minh; hội nghị đầu tư du lịch, đón đoàn  
famtrip, presstrip trong nước. Các hoạt động  
xúc tiến, quảng bá thị trường quốc tế bao  
gồm tham gia hội chợ quốc tế tại Thái Lan,  
Malaysia, Trung Quốc, Úc; tổ chức chương  
Bảng 1: Mười hoạt động hàng đầu về vai trò  
được DMO thực hiện nhiều nhất theo quan điểm  
các bên liên quan  
STT Hoạt động  
1
2
3
4
5
Xúc tiến, quảng bá điểm đến  
Tham gia hội chợ thương mại  
Tổ chức lễ hội, sự kiện  
Chương trình kích cầu du lịch  
Huy động nguồn lực xúc tiến du  
lịch  
61  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
trình giới thiệu du lịch Đà Nẵng tại  
nghiệp thì thường là thông qua Hiệp hội.  
Những hoạt động nhỏ, hoặc là những hoạt  
động gắn với lợi thế của từng doanh nghiệp  
thì doanh nghiệp phối hợp trực tiếp với Sở du  
lịch. Doanh nghiệp đề xuất cụ thể một  
chương trình xúc tiến và họ phối hợp chỉ với  
Sở mà không qua Hiệp hội. Tuy nhiên việc  
quảng bá cho du lịch Đà Nẵng cũng đang  
được thực hiện theo chính sách riêng của một  
số tập đoàn. Những công ty này ngân sách  
lớn và họ chủ động theo chiến lược riêng của  
họ. DMO chưa thể hiện được vai trò hợp tác  
với khu vực tư nhân trong xúc tiến theo mục  
tiêu chung về hình ảnh cho tổng thể điểm đến  
Đà Nẵng.  
Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hongkong,  
Philipin, Malaysia; tổ chức đón đoàn famtrip,  
presstrip quốc tế đến Đà Nẵng; xúc tiến  
đường bay quốc tế; bổ nhiệm đại diện du lịch  
Đà Nẵng ở nước ngoài. Các kế hoạch sẽ dự  
kiến cụ thể nội dung thực hiện, đơn vị chủ trì  
và đơn vị phối hợp để triển khai.  
Về tổ chức lễ hội, sự kiện du lịch: Hàng  
năm kế hoạch về các lễ hội, sự kiện được sở  
xây dựng về nội dung thực hiện, thời gian và  
địa điểm triển khai, xác định dơn vị chủ trì,  
các đơn vị phối hợp. Các lễ hội và sự kiện  
như là lễ hội pháo hoa, lễ hội ẩm thực quốc  
tế, lễ hội Noel, lễ hội bia B’estival, Quán Thế  
Âm, lễ hội cầu ngư, lễ hội làng Túy Loan,  
hội thi món ngon Đà Thành, khai trương mùa  
du lịch biển, thi nhảy flashmob, Carnival  
đường phố, Đà Nẵng - điểm hẹn mùa hè v.v.  
Sau các hoạt động liên quan đến vai trò  
marketing của DMO Đà Nẵng cho điểm đến  
nói trên thì các hoạt động được nhắc đến  
nhiều hơn tiếp theo bao gồm hoạch phát triển  
du lịch; thu hút đầu tư phát triển du lịch; phát  
triển sản phẩm du lịch của điểm đến; quản lý  
và cung cấp thông tin cho du khách; quản lý  
môi trưởng. Đây là những hoạt động liên  
quan đến thực hiện vai trò quản lý nội bộ  
điểm đến.  
Truyền thông du lịch: Gần đây trong hoạt  
động tiếp thị, trung tâm xúc tiến du lịch Đà  
Nẵng cũng đã tăng cường truyền thông du  
lịch qua các kênh báo chí, truyền hình, đặc  
biệt là quảng bá trực tuyến qua cổng thông  
tin di lịch Đà Nẵng; chạy quảng cáo ứng  
dụng du lịch DanangFantsticity trên thiết bị  
di động dành cho du khách; qua các trang  
mạng xã hội Facebook, Instagram, Youtube,  
TripAdvisor, sử dụng Email-marketing, phát  
triển ứng dụng chatbot vào du lịch. Tuy  
nhiên, việc xúc tiến quảng bá ra nước ngoài  
vẫn hạn chế, vẫn chưa đảm bảo sự nhất quán  
về hình ảnh của điểm đến trong quảng bá.  
Về qui hoạch phát triển du lịch: các DMO  
của thành phố chịu trách nhiệm hoàn thiện  
qui hoạch tổng thể, triển khai lập kế hoạch  
trung và dài hạn, đang thuê đơn vị tư vấn  
quốc tế có năng lực tham gia thực hiện quy  
hoạch phát triển du lịch. DMO thực hiện xây  
dựng đề án cơ cấu lại ngành du lịch; bãi đỗ  
xe dành cho xe du lịch, điểm đến trên các  
tuyến du lịch đường thủy nội địa; các bãi  
biển du lịch; khu vui chơi giải trí, trung tâm  
mua sắm, chợ đêm qui mô lớn, công viên văn  
hóa. Tuy nhiên, hiện nay tầm nhìn và chiến  
lược cho phát triển du lịch, định vị của điểm  
đến vẫn chưa các DMO xác định, các dự án  
chậm triển khai, không có chính sách ưu đãi  
cụ thể theo định hướng phát triển chung.  
Điều này đã dẫn đến thông điệp truyền thông  
lộn xộn, sản phẩm du lịch được phát triển  
thiếu định hướng, kiểm soát. Việc qui hoạch  
Huy động nguồn lực cho tiếp thị quảng bá  
điểm đến: Để có nguồn lực cho tiếp thị quảng  
bá điểm đến, các bên liên quan đã mô tả rằng  
Đà Nẵng đã sử dụng chính sách xã hội hóa  
bởi vì nguồn từ ngân sách rất eo hẹp. Huy  
động nguồn lực cho các hoạt động xúc tiến là  
vai trò được DMO tại Đà Nẵng thực hiện. Để  
tổ chức những hoạt động, sự kiện lớn, tầm cỡ  
qui mô cả điểm đến và do đó cần huy động  
nhiều nguồn lực trong cộng đồng doanh  
62  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(04) - 2020  
không phù hợp với sự phát triển nhanh của  
ngành kinh doanh du lịch nên quá tải về cơ  
sở hạ tầng và nhân lực  
thân thiện an toàn tại Đà Nẵng. Các cơ quan  
chức năng thực hiện cung cấp các dịch vụ về  
quản lý xuất nhập cảnh tại cửa khẩu, đảm  
bảo an ninh trật tự, an toàn về phương tiện  
vận chuyển, an toàn vệ sinh thực phẩm cho  
du khách.  
Thu hút đầu tư phát triển du lịch: là hoạt  
động mà chính quyền thành phố quan tâm  
bằng cách sửa đổi, bổ sung các chính sách  
phù hợp đê thu hút được các dự án của các  
nhà đầu tư trong nước, các dự án FDI về du  
lịch, có được các nhà đầu tư chiến lược về  
các sản phẩm du lịch chất lượng cao, tạo  
thương hiệu mạnh cho điểm đến Đà Nẵng.  
Tuy nhiên, phát triển kinh doanh của các nhà  
đầu tư lớn chưa gắn kết với mục tiêu phát  
triển thành phố do sự phối hợp để thực hiện  
sự định vị và quảng bá hình ảnh điểm đến  
chưa đạt được.  
Về công tác quản lý môi trường: DMO  
ngày càng thể hiện sự quan tâm nhiều hơn  
đến việc triển khai nguồn lực để thực hiện  
công tác quản lý môi trường du lịch, đảm bảo  
an ninh, an toàn cho du khách. Triển khai các  
biện pháp để đảm bảo an toàn vệ sinh thực  
phẩm, vệ sinh môi trường tại những điểm  
quan trọng trong trải nghiệm của du khách.  
Tuy nhiên vì sự qui hoạch không phù hợp với  
sự tăng trưởng nhanh chóng hệ thống khách  
sạn, nhà hàng, lượng du khách đến nên tình  
trạng ô nhiễm môi trường biển do không  
kiểm soát nước xả thải đã xảy ra, nguy cơ ô  
nhiễm môi trường ngày càng cao, xử lý rác  
thải từ du lịch ngày càng quá tải.  
Phát triển sản phẩm du lịch của điểm  
đến: Các DMO tại Đà Nẵng thực hiện tổ  
chức các cuộc thi phát triển thêm sản phẩm  
mới về du lịch để bổ sung thêm các sản phẩm  
du lịch hiện có phục vụ du khách, đặc biệt là  
du khách nước ngoài. Họ đưa ra định hướng  
sản phẩm được ưu tiên phát triển, cụ thể là du  
lịch nghỉ dưỡng biển cao cấp, du lịch công  
vụ, thể thao giải trí biển, mua sắm, ẩm thực,  
giải trí. DMO cũng đưa ra định hướng phát  
triển sản phẩm du lịch văn hóa, sự kiện, lễ  
hội, sản phẩm du lịch sinh thái, đường sông,  
làng nghề, du lịch cộng đồng cùng với các  
sản phẩm du lịch bổ trợ. Tuy nhiên các định  
hướng này chưa có những kế hoạch cụ thể và  
chưa tích hợp để đáp ứng theo nhu cầu trải  
nghiệm của du khách bởi chưa có những  
nghiên cứu chuyên sâu về những nhóm  
khách hàng mục tiêu của điểm đến. Do đó  
sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, đơn điệu,  
đặc biệt để phục vụ du khách quốc tế.  
Ngoài mười hoạt động hàng đầu được  
nhắc đến nhiều thể hiện nổi trội đã bàn đến ở  
trên thì các bên liên quan cũng có nhắc đến  
một số các hoạt động khác về vai trò của  
DMO nhưng có tính chất thiểu số. Nâng cao  
chất lượng nguồn nhân lực du lịch cũng đã  
được nhắc đến với nội dung là xây dựng kế  
hoạch triển khai đề án tăng cường năng lực  
cho cơ sở đào và phát triển nguồn nhân lực  
cho các cơ sở đào tạo nghề du lịch, chuẩn  
hóa các chương trình đào tạo nghề phù hợp  
theo các Bộ tiêu chuẩn nghề Việt Nam,  
Asean). Cung cấp thông tin về ngành du lịch  
cũng nhưng chủ yếu là với các số liệu thống  
kê về các lĩnh vực kinh doanh trong ngành  
này, trong khi đó các thông tin chuyên sâu về  
thị trường khách du lịch mặc dầu rất quan  
trọng nhưng lại rất thiếu.  
Quản lý và cung cấp thông tin cho du  
khách: DMO đã thành lập trung tâm Hỗ trợ  
Du khách trong thành phố, các quầy thông tin  
hỗ trợ du khách tại Sân bay Quốc tế Đà Nẵng  
nhằm hỗ trợ hết mình cho du khách khi đến  
với thành phố, tạo nên môi trường du lịch  
5. Kꢃt luận và thảo luận  
Nghiên cứu này bàn đến vai trò của DMO  
được nhận thức bởi các bên liên quan tại  
điểm đến du lịch Đà Nẵng. Kết quả nghiên  
63  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
cứu đã cho thấy các hoạt động của DMO tại  
Đối với quản lý nội bộ điểm đến, các bên  
liên quan đã đánh giá các hoạt động chủ yếu  
liên quan đến vai trò của DMO là hoạch phát  
triển du lịch; thu hút đầu tư phát triển du lịch;  
phát triển sản phẩm du lịch của điểm đến;  
quản lý và cung cấp thông tin cho du khách;  
quản lý môi trường. Tuy nhiên, việc hoạch  
định phát triển du lịch không phải bắt đầu từ  
xác định rõ tầm nhìn và chiến lược của điểm  
đến, định vị để có lợi thế cạnh tranh vượt  
trội, sản phẩm du lịch vẫn chưa được phát  
triển hợp lý, đặc biệt đối với khách quốc tế.  
Mặc dầu vai trò phát triển và nâng cao chất  
lượng nguồn nhân lực du lịch; quản lý môi  
trưởng đã được các DMO chú trọng triển  
khai nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu của  
sự phát triển với tốc độ nhanh của du lịch Đà  
Nẵng.  
Đà Nẵng không chỉ thực hiện vai trò  
marketing điểm đến mà còn cả bao gồm quản  
lý, phát triển nội bộ điểm đến. Điều này là  
tương tự như kết quả của nhiều nghiên cứu  
về vai trò của DMO, cho rằng các tổ chức đã  
dịch chuyển từ marketing điểm đến sang  
quản lý điểm đến (Bindi & Neha, 2014;  
Presenza & cs, 2005, Adina & Monica,  
2016). Tuy nhiên, vai trò của DMO tại Đà  
Nẵng hiện nay đang thực hiện tập trung và  
đạt kết quả rõ nét hơn vào các hoạt động  
marketing so với quản lý nội bộ điểm đến.  
Đối với vai trò marketing điểm đến, việc  
thực hiện của DMO thường bắt đầu với việc  
lập kế hoạch hàng năm đối với xúc tiến,  
quảng bá thị trường quốc tế, thị trường nội  
địa và tại chỗ với các loại hình xúc tiến  
quảng bá khác nhau. Tuy nhiên, do chưa có  
những quyết định có tính chiến lược về định  
vị hình ảnh điểm đến, nhận diện thương hiệu  
điểm đến trên cơ sở nghiên cứu, dự báo thị  
trường, hiểu biết đầy đủ về khách hàng mục  
tiêu nên các kế hoạch quảng bá và xúc tiến  
vẫn còn mang tính ngắn hạn, manh mún,  
chưa xác định rõ mục tiêu và thể hiện sự gắn  
kết để hướng đến giúp điểm đến để tạo lập  
hình ảnh thương hiệu điểm đến và lợi thế  
cạnh tranh bền vững trên thị trường mục tiêu.  
Ngoài ra do ngân sách nhà nước cho thực  
hiện nhiệm vụ này luôn hạn chế nên cơ chế  
xã hội hóa huy động nguồn lực từ tư nhân đã  
dẫn đến các đơn vị tư nhân lớn thực hiện  
chiến lược phát triển riêng của họ, không tạo  
nên được sự tích hợp theo một định hướng  
chung của tổng thể điểm đến.  
Tóm lại DMO tại điểm đến Đà Nẵng đã  
thực hiện được những vai trò nhất định trong  
marketing và quản lý điểm đến để phát triển  
ngành du lịch nhưng chưa đầy đủ, các vai trò  
đã thực hiện thì vẫn còn nhiều hạn chế. Vì  
vậy DMO cần xem xét thưc hiện đầy đủ tất  
cả các chức năng để đảm bảo cho sự phát  
triển du lịch nhằm đạt được tính bền vững.  
Điều quan trọng khác là để thực hiện tốt các  
vai trò của mình, các DMO cần hợp tác với  
tất cả các bên liên quan một cách hiệu quả.  
Ngoài ra để có giải pháp cho việc thực hiện  
các vai trò của DMO, nghiên cứu trong tương  
lai cần đo lường hiệu suất của việc thực hiện  
vai trò hiện tại của các DMO.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Adina Letiția NEGRUȘA, Monica Maria COROȘ, 2016, „ Destination Management  
Organizations’ (DMOs’) Roles and Performance – Literature Review”, in Proceeding.  
The 2nd International Scientific Conference SAMRO 2016  
Ammirato et al., Tourism Destination Management: A Collaborative Approach, Conference  
Paper in IFIP Advances in Information and Communication Technology, 2014  
64  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(04) - 2020  
Bieger, T. (2005). Management von Destinationen (6th Ed.) [Destination Management].  
München: OldenbourgHowie, F. (2003). Managing the tourist destination: A practical  
interactive guide. Oxford: Cengage Learning EMEA Tourism.  
Bindi Varghese and Neha I. J.P, International Journal of Multidisciplinary Research, Vol.4  
(12), 2014  
Buckley, A Framework for Ecotourism, Annals of Tourism Research, Vol. 21, No. 3, pp.  
661-669, 1994  
Buhalis Marketing the competitive destination of the future, 2000, Tourism Management,  
Volume 21, Issue 1, 2000, Pages 97-116  
Garrod et al., Destination collaboration: A critical review of theoretical approaches to a  
multi-dimensional phenomenon, Journal of Destination Marketing & Management,  
Vol. 1, Issues 1–2, November 2012, Pages 10-26  
Howie, Managing the Tourist Destination, Cengage Learning EMEA, 2003  
Nguyễn Thị Linh Giang, Phát triển du lịch bền vững tại thành phố Đà Nẵng, 2019,  
nang/  
Normann and Ramirez, From value chain to value constellation: Designing interactive  
strategy, Harvard business review, 1993.  
Morrison, A.M. 2012. Marketing and Managing Tourism Destinations. London: Routledge.  
Presenza, A., Sheehan, L., & Ritchie, J. R. B. (2005).Towards a model of the roles and activities  
of destination management organizations. Unpublished manuscript, Retrieved from  
_destin ation_management_organizations  
Roxas and Chadee, Effects of formal institutions on the performance of the tourism sector in  
the Philippines: The mediating role of entrepreneurial orientation, Tourism  
Management, 2013  
UNWTO, A Practical Guide to Tourism Destination Management, eISBN: 978-92-844-  
1243-3, 2007  
65  
pdf 11 trang yennguyen 18140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá thực hiện vai trò của DMO từ quan điểm của các bên liên quan: Nghiên cứu khám phá tại điểm đến Đà Nẵng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_thuc_hien_vai_tro_cua_dmo_tu_quan_diem_cua_cac_ben.pdf