Bồi dưỡng cho giáo viên Tiểu học trong dạy Tiếng Việt Lớp 1 theo mô hình phát triển năng lực đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông mới

Kỷ yếu hội thảo khoa học  
24  
BỒI DƯỠNG CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC TRONG DẠY TIẾNG VIỆT  
LỚP 1 THEO MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐÁP ỨNG CHƯƠNG  
TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI  
ThS. Nguyễn Thị Hoài An  
Khoa Tiểu học, Trường CĐSP Nghệ An  
Tóm tắt: Từ việc so sánh Chương trình sách giáo khoa cũ ( SGK 2006) với Chương  
trình sách giáo khoa mới ( là SGK năm 2018), chúng tôi đã tìm ra điểm tương đồng  
và khác biệt của hai chương trình sách giáo khoa cũ và mới. Sự khác biệt của chương  
trình sách giáo khoa mới kéo theo sự thay đổi trong phương pháp và hình thức tổ chức  
dạy hꢀc của giáo viên. Đặc biệt, là giáo viên dạy lớp 1 tiểu hꢀc cần thiết phải được bồi  
dưỡng sớm, tránh bỡ ngỡ khi sách giáo khoa được đưa vào giảng dạy năm 2020-2021.  
Vì thế, bài viết đưa ra những nội dung cần bồi dưỡng cho giáo viên trong dạy Tiếng  
Việt lớp 1 theo mô hình phát triển năng lực, đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông  
mới nhằm giúp giáo viên tự tin và vững vàng hơn trong giảng dạy.  
1. Đặt vấn đề  
Hiện nay, cả nước nói chung và ngành Sư phạm nói riêng đang đứng trước một  
thách thức lớn lao, nhưng đầy hy vꢀng cho tương lai là thay sách giáo khoa (SGK)  
mới. Cuộc cải cách này mang một tư tưởng đổi mới giáo dục lớn lao: Chuyển mạnh  
quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và  
phẩm chất người hꢀc. Và quan trꢀng nhất, năm 2020-2021 sách giáo khoa cho lớp 1  
sẽ được đưa vào thực hiện ở bậc tiểu hꢀc. Đây cũng là vấn đề mà nhiều giáo viên (GV)  
băn khoăn, lo lắng, khi muốn có một hành trang chu đáo, đầy đủ để giảng dạy cho hꢀc  
sinh (HS) lớp 1. Vì vậy, với bài viết này, tôi muốn đề xuất một hướng bồi dưỡng cho  
giáo viên Tiểu hꢀc, góp phần nhân lên khát vꢀng được cống hiến của giáo viên cho  
hꢀc sinh trong giai đoạn đổi mới giáo dục nước nhà.  
2. Giải quyết vấn đề  
2.1. Sách giáo khoa theo mô hình phát triển năng lực  
a. SGK theo mô hình truyền thống  
Mục tiêu dạy hꢀc của chương trình SGK cũ đang chú trꢀng cung cấp kiến thức cho  
người hꢀc. Điều này thể hiện từ yêu cầu, mục tiêu cần đạt ở đầu mỗi bài hꢀc đến nội  
dung các mục trong mỗi bài hꢀc.  
Phương pháp dạy hꢀc của SGK 2006 thiên về truyền thụ kiến thức. Phương pháp  
dạy hꢀc không thể hiện rõ quy trình tổ chức dạy hꢀc thông qua hoạt động, trong đó  
hoạt động hꢀc của HS đóng vai trò trung tâm.  
Kiểm tra, đánh giá của chương trình SGK 2006 chỉ tập trung vào khả năng ghi  
nhớ và trình bày lại kiến thức đã hꢀc.  
Cách tiếp cận truyền thụ kiến thức không phải không giúp người hꢀc phát triển  
năng lực. Nhưng dꢁn đến chỗ không biết kiến thức nào cần phải đưa vào nhà trường  
khi mà khối lượng kiến thức của nhân loại đang tăng nhanh. Hậu quả là HS bị nhồi  
nhét kiến thức, nhưng thiếu khả năng giải quyết vấn đề của đời sống. Cách khai thác  
Kỷ yếu hội thảo khoa học  
25  
kiến thức trong SGK truyền thống thường ít vượt ra ngoài mục tiêu giúp HS nắm được  
kiến thức.  
b. SGK theo mô hình giáo dục phát triển năng lực (SGK mới 2018)  
Trên thực tế, chúng ta không hề phủ nhận tầm quan trꢀng của kiến thức. Nhưng  
khai thác kiến thức phải nhắm đến mục tiêu ngoài kiến thức, phải đồng nhất từ các  
khâu trong thiết kế quy trình dạy hꢀc, phải bắt đầu từ mục tiêu bài hꢀc đến nội dung  
dạy hꢀc, phương pháp dạy hꢀc và kiểm tra, đánh giá.  
Như vậy, mꢀi yếu tố trong SGK mới đều bắt đầu từ mục tiêu dạy hꢀc của sách.  
Mục tiêu dạy hꢀc của SGK chịu sự chi phối của mục tiêu dạy hꢀc trong chương trình.  
Rồi mục tiêu dạy hꢀc được quy định trong chương trình lại chịu sự chi phối của kì  
vꢀng nhà trường về phẩm chất và năng lực mà người hꢀc cần có.  
Do mục tiêu là giúp HS phát triển năng lực, nên SGK mới nhiều điểm khác biệt so  
với SGK theo mô hình truyền thống, trong đó có hai đặc điểm nổi bật:  
- Thiết kế các nội dung dạy hꢀc theo hướng tích hợp.  
- Tổ chức các nội dung dạy hꢀc theo mô hình hoạt động vì chỉ thông qua hoạt động  
thì các năng lực mới có điều kiện hình thành và phát triển  
SGK thiết kế theo cách tạo cho HS có cơ hội tham gia các hoạt động. Bài dạy tạo  
điều kiện để GV chuyển đổi vai trò và đổi mới phương pháp dạy hꢀc ở trong lớp: giáo  
viên được chuyển từ vai trò của người truyền thụ kiến thức sang vai trò của người tổ  
chức các hoạt động dạy hꢀc ở trong lớp.  
Người hꢀc cũng chuyển đổi vai trò và phương pháp hꢀc tập: Hꢀc sinh chuyển từ  
vai trò của người tiếp thu, ghi nhớ và trình bày lại kiến thức một cách thụ động sang  
vai trò của người chủ động, tích cực tham gia vào quá trình hꢀc tập, qua đó hình thành  
và phát triển các phẩm chất và năng lực cần có.  
2.2. Định hướng biên soạn SGK Tiếng Việt 1 theo mô hình phát triển năng lực  
2.2.1 Định hướng chung  
- Biên soạn theo quan điểm tích hợp; tích hợp triệt để tất cả kiến thức của môn hꢀc  
vào trung tâm của bài hꢀc là văn bản thuộc nhiều kiểu loại văn bản đa dạng.  
- Thiết kế nội dung bài hꢀc thành các hoạt động đꢀc, viết, nói và nghe về văn bản,  
tạo điều kiện cho HS được phát triển năng lực giao tiếp thông qua chính hoạt động  
giao tiếp của các em.  
2.2.2. Định hướng thiết kế cấu trúc sách và bài hꢀc  
- Cơ sở thiết kế hệ thống bài hꢀc sẽ phân chia và sắp xếp dựa trên các kiểu loại  
văn bản và đề tài.  
- Tỉ lệ bài các kiểu loại văn bản không chỉ tập trung vào văn bản văn hꢀc như SGK  
hiện hành. Bên cạnh văn bản văn hꢀc chiếm tỉ lệ lớn, SGK mới sẽ có một tỉ lệ hợp lí  
văn bản nghị luận và văn bản thông tin.  
- Tỉ lệ số tiết dành cho các kĩ năng trong một bài hꢀc phải có đầy đủ các hoạt động  
dạy hꢀc đꢀc, viết, nói và nghe. Các hoạt động phải tích hợp với nhau theo cách: những  
gì đã đꢀc sẽ làm cơ sở cho viết, những gì đã đꢀc và viết sẽ làm cơ sở cho nói và nghe.  
- Dự kiến phân bố yêu cầu cần đạt và nội dung dạy hꢀc ở các bài hꢀc nhắm đến  
Kỷ yếu hội thảo khoa học  
26  
nhiều mục tiêu (yêu cầu cần đạt). Ngược lại, có những yêu cầu cần đạt có thể được cài  
đặt trong nhiều bài hꢀc. Hệ thống các yêu cầu cần đạt đối với đꢀc, viết, nói và nghe  
trong chương trình theo quy định chung. Tuy nhiên, cách thức tổ chức, kết nối các yêu  
cầu cần đạt đó vào mỗi bài hꢀc thì tùy thuộc vào từng nhóm tác giả SGK.  
2.2.3. Định hướng Đổi mới phương pháp dạy hꢀc và kiểm tra đánh giá  
SGK Tiếng Việt 1 sẽ được thiết kế theo cách tạo cho HS có cơ hội tham gia các  
hoạt động đꢀc, viết, nói và nghe. SGK Tiếng Việt 1 cần giúp GV thực hiện tốt được  
vai trò của người hướng dꢁn, hỗ trợ HS tự đꢀc, viết, nói và nghe theo kịch bản của  
GV và được định hướng từ SGK.  
Như vậy, các bài hꢀc trong SGK mới sẽ không có “phân môn” Văn hꢀc, Tiếng  
Việt, Tập làm văn, mà chỉ có các hoạt động đꢀc, viết, nói và nghe nối tiếp nhau.  
SGK Tiếng Việt 1 mới sẽ chú trꢀng đổi mới định hướng kiểm tra, đánh giá, giúp  
cho GV và HS đổi mới “chốt chặn” cuối cùng của quá trình dạy hꢀc này. Định hướng  
kiểm tra, đánh giá trong SGK phải phù hợp với định hướng chung trong CT Ngữ văn  
2018: mục tiêu, căn cứ, nội dung, phương pháp, hình thức. Nhưng đồng thời phải  
mang dấu ấn cách tiếp cận riêng của từng nhóm làm sách. Mở ra cơ hội cho nhiểu  
cách tiếp cận đa dạng. Tuy vậy, đầu ra cần phải bám sát vào yêu cầu của chương trình.  
2.3. Những vấn đề cần bồi dưỡng cho giáo viên tiểu học khi dạy Tiếng Việt 1  
theo mô hình phát triển năng lực cho học sinh.  
Chương trình phát triển năng lực là một bước phát triển để làm cho những kiến  
thức, kỹ năng, hứng thú, niềm tin, ý chí của hꢀc sinh hợp thành một sức mạnh tổng  
hòa, để có thể thực hiện một loại hoạt động nào đó đạt kết quả mong muốn. Hoạt  
động đặc thù của môn Tiếng Việt là hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, là hoạt động  
tiếp nhận và tạo lập văn bản; là đꢀc, nghe hiểu và nói, viết sáng tạo. So với chương  
trình 2006, Tiếng Việt lớp 1 chương trình 2018 chú trꢀng hơn nhiều đến mục tiêu đꢀc  
hiểu, viết sáng tạo và nói - nghe tương tác  
2.3.1. Bồi dưỡng năng lực đꢀc  
Thực ra, các yêu cầu cần đạt về đꢀc, các mục tiêu trung gian như kĩ năng đꢀc (đꢀc  
thành tiếng) của môn Tiếng Việt lớp 1 chương trình mới không có gì thay đổi so với  
chương trình sách giáo khoa hiện hành. Chỉ duy nhất trong kỹ thuật đꢀc, sách giáo  
khoa Tiếng Việt 1 mới có thêm năng lực đꢀc thầm cho hꢀc sinh. Vì vậy giáo viên tiểu  
hꢀc cần bồi dưỡng thêm kỹ thuật đꢀc thầm, chuẩn bị tốt để hướng dꢁn, tổ chức cho  
hꢀc sinh lớp 1 trong giảng dạy .  
Cụ thể: Bảng đối chiếu nội dung, yêu cầu cẩn đạt về kỹ năng đọc trong Tiếng Việt  
lớp 1 chương trình 2006 và chương trình 2018  
Mức độ cần đạt/ yêu cầu cần đạt  
Chủ đề/nội  
Chương trình 2006  
( 10 tiết/tuần)  
Chương trình 2018  
( 12 tiết/tuần)  
dung  
Kỷ yếu hội thảo khoa học  
27  
Kỹ năng đọc Đọc thành tiếng  
Kỹ thuật đọc  
1.Các thao tác thực hiện việc 1.Ngồi hoặc đứng thẳng lưng, sách hoặc vở mở  
đọc rộng trên bàn  
2.Đọc trơn, rõ tiếng, từ, câu 2. Đọc đúng âm, vần, tiếng, từ, câu  
3. Đọc đúng đoạn, bài  
3. Đọc đúng, rõ ràng đoạn văn, văn bản ngắn  
4. Bước đầu biết đọc thầm  
5. Nhận biết bìa, tên sác  
Bảng 1  
Nhìn bảng so sánh 1, ta nhận thấy, trong kĩ thuật đꢀc, chương trình sách 2018  
Tiếng Việt 1 có thêm mục 4 và 5, yêu cầu bước đầu biết đꢀc thầm, nhận biết bìa sách,  
tên sách. Đây là yêu cầu mà giáo viên dạy lớp 1 phải nhận thấy để điều chỉnh khi dạy  
theo chương trình sách giáo khoa mới. Với quan niệm trước dây, cho rằng lớp 1 chỉ  
cần đꢀc to, rõ, trơn là đạt chuẩn. Với sách giáo khoa mới, giáo viên phải cho hꢀc sinh  
phát triển thêm năng lực đꢀc thầm, năng lực nhìn và nhận biết bìa sách, loại sách, tên  
sách đang hꢀc.  
2.3.2. Bồi dưỡng năng lực viết  
Bảng đối chiếu nội dung, yêu cầu cẩn đạt về Kĩ thuật viết trong Tiếng Việt lớp 1  
chương trình 2006 và chương trình 2018  
Nhìn bảng 2 ta nhận thấy:  
Mức độ cần đạt/ yêu cầu cần đạt  
Chủ đề/  
Chương trình 2006  
( 10 tiết/tuần)  
Chương trình 2018  
( 12 tiết/tuần)  
nội dung  
Kĩ thuật viết Tư thế viết  
Viết chữ  
Tư thế viết  
Viết chữ  
1. Ngồi viết đúng tư thế  
1. Có tư thế viết đúng  
2. Viết đúng chữ viết thường và chữ số từ 0 đến 9  
3. Biết viết hoa  
Viết chính tả  
4. Viết đúng chính tả bài viết có độ dài 30 – 35  
chữ/15 phút theo hình thức nhìn – viết và nghe-  
viết  
1. Quy trình viết  
Trả lời câu hỏi: viết về ai? Viết về cái gì? Việc gì?  
2. Thực hành viết  
2.a. Biết điền từ vào chổ trống, viết câu trả lời,  
viết câu phù hợp dưới tranh  
2. Viết đúng chữ viết thường  
và chữ số từ 0 đến 9, tô đúng  
chữ cái viết hoa  
Viết chính tả  
4. Viết đúng chính tả bài viết  
có độ dài 30 chữ/15 phút không  
mắc quá 5 lỗi theo hình thức  
Viết câu, đoạn  
văn ngắn  
nhìn – viết  
2.b. Điền thông tin còn trống, viết câu về hình  
dáng. Hoạt động của nhân vật dưới tranh qua  
chuyện đã học, dựa vào gợi ý.  
2.c. Viết câu trả lời. viết lại câu đã nói giới thiệu  
bản thân theo gợi ý.  
Biết điền từ vào chổ trống  
Bảng 2  
Kỷ yếu hội thảo khoa học  
28  
Ở yêu cầu cần đạt về kĩ thuật viết ( tập viết, chính tả) của môn Tiếng Việt lớp 1  
chương trình mới không có gì thay đổi so với chương trình sách giáo khoa hiện hành.  
Chỉ có thêm một số nội dung sau, giáo viên tiểu hꢀc cần nắm bắt để bồi dưỡng về  
phương pháp truyền thụ và chꢀn hình thức tổ chức hoạt động hợp lý.  
- Thứ nhất, về tập viết, không chỉ yêu cầu hꢀc sinh tô đúng chữ cái viết hoa cỡ chứ  
lớn và cỡ chữ vừa như chương trình hiện hành mà còn yêu cầu hꢀc sinh biết viết chữ  
hoa. GV cần được bồi dưỡng để dạy viết hoa cho hꢀc sinh lớp 1 chứ không dừng lại ở  
đồ theo chữ hoa như trước đây. Chương trình 2018 không chỉ yêu cầu viết đúng mꢁu  
tự viết hoa mà còn yêu cầu hꢀc sinh viết hoa đúng quy tắc: viết hoa chữ cái đầu câu,  
viết hoa tên riêng.  
- Thứ hai, về viết chính tả, chương trình sách giáo khoa mới yêu cầu hꢀc sinh biết  
viết chính tả hình thức nghe - viết trong khi chương trình 2006 chỉ dừng lại ở nhìn -  
viết. Năng lực nghe của hꢀc sinh lớp 1 đã được phát triển, rèn luyện, nên việc trẻ trả  
lời được theo tranh, giới thiệu về mình và viết lại lời nói đó thể hiện năng lực của hꢀc  
sinh được đề cao hơn so với chương trình giảng dạy trước đây.  
Chính vì những thay đổi tại bảng 2, giáo viên tiểu hꢀc cần được bồi dưỡng lại để  
giảng dạy đáp ứng được phát triển năng lực cho hꢀc sinh. Ví dụ: GV lớp 1 khi dạy  
nghe - viết cần bồi dưỡng năng lực đꢀc cho HS viết. mỗi lần đꢀc phải chú ý số lượng  
chữ được đꢀc trong mỗi lần đꢀc cho HS lớp 1 chỉ từ 1đến 2 tiếng. trong bài chính tả  
nghe - viết giai đoạn đầu, đơn vị chính tả chỉ gồm 1 tiếng, là những từ đơn. Khi đoc  
GV phải đꢀc to, rõ, không di chuyển chổ. Lần đꢀc đầu tiên phải lên giꢀng ở mỗi đơn  
vị chính tả. GV lên giꢀng để HS chú ý. Khi đꢀc nhắc lại phải hạ giꢀng để HS không bị  
giꢀng cô làm phân tán đánh vần của HS, nhất là ảnh hưởng đến những HS viết nhanh.  
2.3.3. Bồi dưỡng năng lực đꢀc hiểu  
Bảng đối chiếu nội dung, yêu cầu cẩn đạt về Đọc hiểu Tiếng Việt lớp 1  
chương trình 2006 và chương trình 2018  
Kỷ yếu hội thảo khoa học  
29  
Mức độ cần đạt/ yêu cầu cần đạt  
Chương trình 2018  
( 12 tiết/tuần)  
Chủ đề/  
nội dung  
Chương trình 2006  
( 10 tiết/tuần)  
Đọc hiểu 1.Đọc hiểu nội dung Văn bản văn học  
1. Đọc hiểu nội dung  
1.a. Hiểu nghĩa của từ  
1.a. Hỏi và trả lời đơn giản về chi tiết thể hiện tường minh.  
1.b. Trả lời được câu hỏi về nội dung cơ bản dựa vào gợi ý,  
hỗ trợ.  
1.b. hiểu nội dung  
thông báo của câu,  
đoạn, bài.  
2. Đọc hiểu hình thức  
2.a. nhận biết hình dáng, hành động nhân vật qua 1 số từ  
ngữ theo gợi ý của GV  
2.b. Nhận biết lời nhân vật qua gợi ý của GV  
3. Liên hệ, so sánh, kết nối  
Trả lời câu hỏi về nội  
dung thông báo của  
câu, đoạn, bài.  
3.a. Liên hệ được tranh minh họa với chi tiết trong VB  
3.b. Nêu được nhân vật yêu thích và giải thích vì sao.  
4. Đọc mở rộng  
4.a. Trong năm, đọc tối thiểu 10 văn bản  
4.b. Thuộc 4-5 đoạn thơ  
Viết câu,  
đoạn văn  
ngắn  
Văn bản thông tin  
1. 1.Đọc hiểu nội dung  
1.a. Hỏi, trả lời những câu hỏi đơn giản về chi tiết nổi bật  
1.b.Trả lời/: VB này viết về điều gì?  
2. Đọc hiểu về hình thức ( Trình tự sự việc. Hiểu nghĩa 1 số  
tín hiệu đơn giản )  
3. Đọc mở rộng ( đọc 5 VB/1 năm)  
Bảng 3  
Theo bảng 3, ta nhận thấy:  
a. Chương trình Tiếng Việt 1 năm 2018 đã đưa ra các yêu cầu đꢀc hiểu nội dung  
và đꢀc hiểu hình thức văn bản  
Nếu chương trình 2006 chỉ chú ý đꢀc hiểu nội dung văn bản, thì dựa vào các bình  
diện văn bản ( nội dung, hình thức ), chương trình 2018 đã đưa ra các yêu cầu đꢀc  
hiểu nội dung và đꢀc hiểu hình thức văn bản. Chú ý đến các yếu tố ngoài văn bản,  
chương trình 2018 đã đưa ra yêu cầu đꢀc liên hệ, so sánh, kết nối. Những yêu cầu này  
xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 12 với những chỉ dꢁn cụ thể cho thấy sự thống nhất và  
phát triển của mạch đꢀc hiểu trong toàn bộ bậc hꢀc phổ thông. GV cần bồi dưỡng để  
khi dạy đꢀc cho HS lớp 1 đạt được chuẩn năng lực đꢀc. Cụ thể:  
- GV phải phân biệt được đꢀc hiểu nội dung và đꢀc hiểu hình thức. Đây là hai  
hoạt động khó phân biệt nhưng việc phân biệt chúng lại cần thiết trong quy trình đꢀc  
hiểu. GV không những cần phân biệt thế nào là đꢀc hiểu nội dung thế nào là đꢀc hiểu  
hình thức mà còn phải biết sử dụng đꢀc hiểu hình thức như là một cách làm để hiểu  
nội dung. Ví dụ câu Bé Kì hể hả, GV ra câu hỏi Bé kì cảm thấy thế nào? Thì đó là  
đꢀc hiểu nội dung. GV quen hỏi loại câu này mà ít dùng câu hỏi hình thức. Đó chính  
là loại câu hỏi gợi dꢁn để HS suy ra được ý, hoặc biết lập luận để bảo vệ ý kiến của  
Kỷ yếu hội thảo khoa học  
30  
mình. Vậy để hiểu câu trên bằng câu hỏi hiểu hình thức có thể có các mức độ sau: (1)  
Từ nào cho em thấy bé Kì vui? ( đây là câu hỏi thuộc mức nhận biết, đồng thời giúp  
HS giải nghĩa từ hể hả; (2) Từ nào cho em thấy cảm xúc của bé Kì rất vui? ( nếu hỏi  
nội dung là: Cảm xúc bé Kì như thế nào?); (3) Dựa vào đâu em cho rằng bé Kì vui? (  
nếu như trước đó HS trả lời: Bé Kì cảm thấy rất vui).  
- GV phải bồi dưỡng về dạy đꢀc liên hệ, kết nối, so sánh. Trước hết đó là những  
liên hệ về hành động có trong bài đꢀc với bản thân HS. SGK Tiếng Việt 1 đều chú ý  
liên hệ, so sánh, kết nối khi dạy đꢀc. GV khi dạy phải chú ý các câu hỏi mở khi dạy  
để HS có nhiều lựa chꢀn trả lời phong phú nhất như: Trong bài Chia quà, GV hỏi: Khi  
bố chia quà, bạn sẽ nói gì?, HS có thể trả lời: Em sẽ nói Cảm ơn bố / Con cảm ơn bố  
ạ / Con cảm ơn bố, con rất thích món quà này. GV không áp đặt, cần tôn trꢀng những  
sự khác nhau này.  
b. Tiếng Việt 1 năm 2018 rất chú trꢀng đꢀc văn bản thông tin  
Về kiểu loại văn bản, bên cạnh đꢀc văn bản văn hꢀc, chương trình môn Tiếng Việt  
2018 rất chú trꢀng đꢀc văn bản thông tin. Chương trình đã tách riêng yêu cầu đꢀc hiểu  
văn bản văn hꢀc và văn bản thông tin.  
Ví dụ: khi GV dạy văn bản thông tin, GV cần tổ chức hoạt động đꢀc hiểu nội dung  
theo nhóm, GV ra câu hỏi hiểu nội dung: Mỗi giác quan dùng để làm gì? ( Năm người  
bạn) và ra câu hỏi về liên hệ, so sánh: Các bạn nhỏ thường đáng răng lúc mấy tuổi? (  
Răng xinh đi đâu)  
c. Tiếng Việt 1 năm 2018 chú ý đến văn bản đa phương thức  
Về hình thức văn bản, chương trình chú ý đến văn bản đa phương thức. Đay là loại  
văn bản có sự kết hợp giữa kênh hình và kênh chữ. Những yêu cầu về đꢀc hiểu văn  
bản đa phương thức cũng được nêu rõ trong chương trình. Cụ thể: GV hướng dꢁn HS  
đꢀc tiêu đề, đꢀc chữ kết hợp với đꢀc tranh theo thứ tự để tìm ra thông tin cần thiết. Ví  
dụ: Biển báo nào cho biết có nhà vệ sinh? ( Sử dụng nhà vệ sinh).  
Như vậy, GV khi dạy Tiếng Việt 1 cần được bồi dưỡng trước về những kĩ năng,  
hình thức tổ chức dạy hꢀc khi dạy cho hꢀc sinh lớp 1 về đꢀc hiểu nội dung, đꢀc hiểu  
hình thức văn bản, đꢀc hiểu liên hệ, so sánh, kết nối; đꢀc hiểu văn bản thông tin,văn  
bản đa phương thức. Đây là những vấn đề cần bồi dưỡng để GV khi đi vào dạy đꢀc  
hiểu ở lớp 1mà chương trình Tiếng Việt 1 năm 2006 chưa được thực hiện. Ngoài ra,  
chương trình có thêm yêu cầu đꢀc mở rộng. Nó không chỉ quy định số lượng văn bản  
được đꢀc thêm, được hꢀc thuộc lòng mà còn là một lưu ý về việc khai thác các nguồn  
đꢀc.  
2.3.4. Bồi dưỡng về viết câu, đoạn văn ngắn  
Viết câu, đoạn văn ngắn là một yêu cầu hoàn toàn mới cho GV khi dạy Tiếng Việt  
1. Chương trình 2006 không đặt ra yêu cầu này, Chương trình môn Ngữ văn 2018 quy  
định rất rõ sau kiểu văn bản hꢀc sinh cần viết suốt bậc hꢀc phổ thông là tự sự (thuật, kể  
chuyện ) miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận, nhật dụng ( loại văn bản sử dụng  
nhiều trong công việc hành chính, công vụ, giao dịch hằng ngày). Văn bản chương  
trình 2018 đã yêu ra yêu cầu đồng thời cũng là những chỉ dꢁn về quy trình viết và thực  
Kỷ yếu hội thảo khoa học  
31  
hành viết các kiểu văn bản cụ thể. Về kiểu văn bản và nội dung viết, chương trình lớp  
1 mới bước đầu yêu cầu hꢀc sinh viết một vài câu thuộc kiểu văn bản kể chuyện có  
nội dung phù hợp với câu chuyện đã đꢀc, đã nghe; viết câu tả hình dáng, hoạt động  
của nhân vặt có trong câu chuyện đã đꢀc, viết câu kiểu thuyết minh nhằm giới thiệu  
về bản thân. Về cách thức thực hiện, hꢀc sinh được gợi ý, hỗ trợ khá nhiều: điền thông  
tin còn trống, viết câu trả lời, viết câu dưới tranh, viết lại câu đã nói dựa vào gợi ý.  
Giáo viên được bồi dưỡng trước khi sách giáo khoa ra đời sẽ tự tin hơn khi giúp hꢀc  
sinh lớp 1 phát triển những năng lực trước đây chưa chú ý đến.  
Về dấu câu, chương trình quy định hꢀc sinh phải sử dụng được dấu chấm, dấu  
chấm hỏi đánh dấu kết thúc câu.  
2.3.5. Bồi dưỡng năng lực nói và nghe  
Chương trình 2006 chỉ chú ý nội dung, kết quả nghe còn chương trình 2018 rất chú  
ý đến tương tác và tính chủ động trong khi nghe - nói. Chương trình đã chỉ dꢁn và  
cũng đồng thời đặt ra yêu cầu về thái độ và một vài quy tắc nghe, nói: Có thói quen  
nghe người khác nói ( nhìn vào người nói, có tư thế nghe phù hợp ); biết đưa tay xin  
phát biểu, chờ đến lượt được phát biểu, biết trao đổi trong nhóm, biết đặt một vài câu  
hỏi để lại những điều chưa rõ; biết nói và đáp lại được lời chào hỏi, xin phép, cảm ơn,  
xin lỗi, phù hợp với đối tượng người nghe. Bởi vậy, GV phải được trang bị kĩ năng nói  
và nghe, chủ động để bản thân không bở ngỡ khi dạy lớp 1 theo sách giáo khoa phát  
triển năng lực cho hꢀc sinh.  
Ví dụ: GV cho HS đóng vai Mặt trăng và Cú chào nhau:  
Cú: Chào bạn, tớ là Cú.  
Mặt Trăng; Chào Cú, tớ là Mặt Trăng  
GV cho nhiều cặp HS làm để phát triển năng lực ngôn ngữ cho HS.  
3. Kết luận  
Chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt 1 theo mô hình phát triển năng lực cho  
hꢀc sinh là thành quả rất có ý nghĩa của Việt Nam trong lĩnh vực xây dựng Chương  
trình giáo dục phổ thông mới. Biên soạn SGK theo mô hình mới là một công đoạn  
có ý nghĩa quyết định đến thành công của việc triển khai thực hiện chương trình. Mô  
hình SGK Tiếng Việt lớp 1 mới đang được định hình dần. Tuy vậy, để mô hình này trở  
nên quen thuộc và GV có thể vận dụng thuần thục vào thực tiễn dạy hꢀc, cần có nhiều  
trao đổi, đặc biệt là tập huấn, bồi dưỡng dạy hꢀc SGK mới. Việc đón đầu bồi dưỡng  
cho giáo viên sẽ giúp cho hꢀ vững vàng hơn trong giảng dạy, nhất là giảng dạy cho  
hꢀc sinh Lớp 1 vào năm hꢀc 2020-2021.  
Kỷ yếu hội thảo khoa học  
32  
Tài liệu tham khảo  
[1]. PGS.TS. Bùi Mạnh Hùng (2019), Từ chương trình 2018 đến sách giáo khoa  
theo mô hình phát triển năng lực - Hội thảo Đổi mới dạy hꢀc Ngữ văn, Đại hꢀc Vinh.  
[2]. Lê Phương Nga (2019), Dạy học môn Tiếng Việt lớp 1, NXB Đại hꢀc sư phạm.  
[3]. Trần Thị Hiền Lương (chủ biên), Lý Quốc Biên, Bạch Ngꢀc Diệp, Xuân Thị  
Nguyệt Hà, Nguyễn Thị Việt Hà, Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Đức Mạnh, Nguyễn  
Tuyết Nga, Trần Thúy Ngà, Hà Văn Quỳnh, Phạm Thanh Tâm, Lưu Thu Thủy, Vũ  
Thị Thư, Lưu Anh Tuấn (2018 ), Dạy học lớp 1 theo hướng phát triển năng lực học  
sinh, NXB Đại hꢀc Quốc gia Hà Nội.  
[4]. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chương trình giáo dục phổ thông 2018.  
pdf 9 trang yennguyen 28180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bồi dưỡng cho giáo viên Tiểu học trong dạy Tiếng Việt Lớp 1 theo mô hình phát triển năng lực đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông mới", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfboi_duong_cho_giao_vien_tieu_hoc_trong_day_tieng_viet_lop_1.pdf