Nghiên cứu diễn biến hạn hán trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình bằng bộ dữ liệu khí tượng, thủy văn khôi phục từ mô hình kết hợp WEHY-WRF

KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
NGHIÊN CỨU DIỄN BIẾN HẠN HÁN TRÊN LƯU VỰC SÔNG HỒNG -  
THÁI BÌNH BẰNG BỘ DỮ LIỆU KHÍ TƯỢNG, THỦY VĂN KHÔI PHỤC  
TỪ MÔ HÌNH KẾT HỢP WEHY-WRF  
Hồ Việt Cường, Nguyễn Thị Ngọc Nhẫn, Trần Văn Bách  
Phòng Thí nghiệm trọng điểm quốc gia về Động lực học sông biển  
Trịnh Quang Toàn  
Đại học tổng hợp California, Davis - Hoa Kỳ  
Tóm tắt: Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu ứng dụng bộ mô hình khí tượng thủy văn kết hợp  
WEHY-WRF (Watershed Environmental Hydrology - Weather Research and Forecasting) để tính  
toán khôi phục các quá trình mưa và dòng chảy trên toàn bộ lưu vực sông Hồng - Thái Bình bao  
gồm cả phần lưu vực thuộc lãnh thổ Trung Quốc và Lào. Từ bộ dữ liệu khôi phục, tiến hành các  
nghiên cứu đánh giá về diễn biến hạn hán trên lưu vực thông qua việc tính toán, phân tích diễn  
biến của các chỉ số về hạn khí tượng (SPI) và hạn thủy văn (SDI) theo không gian và thời gian, từ  
năm 1960-2015.  
Từ khóa: mô hình WEHY-WRF, khôi phục dữ liệu, dữ liệu toàn cầu, chỉ số SPI, SDI, lưu vực sông  
Hồng - Thái Bình.  
Summary: This article presents the results of applied research of the Hydrological -  
meteorological combined model named WEHY-WRF to calculate recovery processes precipitation  
and flow across the Hong - Thaibinh River Basin, including part in territory of China and Laos.  
From the recovered data, conduct evaluation studies on the drought development across the  
basin through the calculations, analyses the evolution of the indicators of Standardized  
Precipitation Index (SPI) and Streamflow Drought Index (SDI ) over space and time, from 1960  
to 2015.  
Key words: WEHY-WRF model, restore data, global data, indices SPI, SDI, Hong - Thaibinh  
River Basin.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ*  
có những tác động rất lớn, gây ra nhiều thiệt hại  
và ảnh hưởng đến đời sống dân sinh, kinh tế xã  
Hạn hán là loại hình thiên tai có điểm đặc trưng  
hội và hủy hoại môi trường. Trong các nghiên  
là tác động của nó thường tích lũy trong một  
cứu về hạn, thường sử dụng các công thức kinh  
khoảng thời gian dài và có thể kéo dài trong  
nghiệm để tính toán các chỉ số hạn tương ứng,  
nhiều năm sau khi đợt hạn kết thúc, bởi vậy việc  
từ đó phân cấp mức độ hạn theo giá trị của các  
xác định thời gian bắt đầu và kết thúc đợt hạn  
chỉ số tính toán. Các chỉ số hạn được tính dựa  
rất khó khăn. Cũng do sự diễn biến tích lũy  
trên các thông số về điều kiện khí hậu, khí  
chậm nên tác động của hạn hán thường khó  
tượng, thủy văn, nguồn nước… trong khu vực.  
nhận biết hơn và khi nhận biết được thì sự thiệt  
Trong đó phổ biến nhất là sử dụng các số liệu  
hại đã xảy ra đáng kể. Hạn hán thường xảy ra  
về mưa và dòng chảy, do đó các dữ liệu này  
trên một phạm vi rộng và ít khi là nguyên nhân  
luôn có vai trò rất quan trọng trong các nghiên  
trực tiếp gây tổn thất về nhân mạng nhưng lại  
Ngày nhận bài: 19/9/2018  
Ngày duyệt đăng: 28/11/2018  
Ngày thông qua phản biện: 26/10/2018  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
1
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
cứu đánh giá về hạn hán.  
sẽ tiến hành các nghiên cứu, đánh giá về diễn  
biến hạn hán trên toàn lưu vực sông Hồng - Thái  
Bình thông qua việc tính toán, phân tích các chỉ  
số về hạn khí tượng (SPI) và hạn thủy văn (SDI)  
theo không gian và thời gian.  
Lưu vực sông Hồng - Thái Bình là một lưu vực  
sông lớn liên quốc gia, chảy qua ba nước Trung  
Quốc, Lào và Việt Nam với tổng diện tích tự  
nhiên vào khoảng 169.000 km2, trong đó phần  
lưu vực phía thượng nguồn thuộc lãnh thổ  
Trung Quốc là 81.200 km2 chiếm 48%, diện  
tích lưu vực trên lãnh thổ Lào là 1.100 km2  
chiếm 0,7% diện tích của toàn lưu vực. Phần hạ  
du lưu vực nằm trong lãnh thổ Việt Nam là  
87.840 km2, bao gồm địa giới hành chính của  
26 tỉnh/ thành phố thuộc vùng Bắc Bộ và cũng  
là khu vực trọng điểm về chính trị, văn hóa,  
kinh tế của nước ta, trong đó có Thủ đô Hà Nội.  
Trên lưu vực, hệ thống các trạm quan trắc khí  
tượng, thủy văn đã được xây dựng và thiết lập  
cả ở phần lưu vực thuộc lãnh thổ Việt Nam và  
2.PHẠMVIVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊN CỨU  
2.1. Phạm vi nghiên cứu  
Phạm vi khu vực nghiên cứu là toàn bộ lưu vực  
sông Hồng - Thái Bình bao gồm cả phần lưu  
vực thuộc Trung Quốc và Lào, được giới hạn từ  
20023’ đến 25030’ vĩ độ Bắc và từ 1000 đến  
107010’ kinh độ Đông. Phía Bắc giáp lưu vực  
sông Trường Giang và sông Châu Giang của  
Trung Quốc, phía Tây giáp lưu vực sông  
Mêkông, phía Nam giáp lưu vực sông Mã, phía  
Đông giáp vịnh Bắc Bộ.  
Trung Quốc. Ở Việt Nam, việc đo đạc số liệu Phần lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình trên  
được bắt đầu rất sớm, từ năm 1890 tại trạm Hà lãnh thổ Việt Nam có vị trí địa lý từ 20023’ đến  
Nội và thành lập Nha khí tượng vào năm 1902. 23022’ vĩ độ Bắc và từ 102010’ đến 107010’  
Tuy nhiên theo thời gian, dưới tác động của kinh độ Tây.  
nhiều yếu tố, mạng lưới các trạm quan trắc khí  
tượng, thủy văn trên lưu vực đến nay vẫn còn  
thưa thớt, chưa đầy đủ, việc quan trắc số liệu  
không được liên tục, có thời gian ngắt quãng,  
thậm chí một số trạm đã dừng đo. Ngoài ra các  
số liệu đo đạc khí tượng, thủy văn ở phần  
thượng nguồn lưu vực thuộc lãnh thổ Trung  
Quốc và Lào hiện nay vẫn rất ít được chia sẻ và  
gần như không có thông tin, tài liệu ở các khu  
vực này. Do sự không đồng bộ và đầy đủ của  
các dữ liệu thực đo, dẫn đến rất nhiều khó khăn  
trong tính toán, phân tích về các đặc trưng khí  
tượng thủy văn nói chung và chỉ số hạn hán nói  
riêng, nhất là các nghiên cứu trong thời kỳ dài.  
Vì vậy để khắc phục vấn đề thiếu số liệu thực  
đo và số liệu không đồng bộ, đề tài nghiên cứu  
cấp Quốc gia KC.08.05/16-20 đã ứng dụng và  
Hình 1. Bản đồ toàn lưu vực sông Hồng - Thái Bình  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
thiết lập bộ mô hình toán khí tượng thủy văn kết  
hợp WEHY-WRF để tính toán mô phỏng và  
khôi phục lại các dữ liệu mưa và dòng chảy từ  
1960-2015 cho toàn bộ lưu vực sông Hồng -  
Thái Bình bao gồm cả phần lưu vực thuộc  
Trung Quốc và Lào. Từ bộ dữ liệu khôi phục,  
- Ứng dụng bộ công cụ mô hình toán khí tượng  
thủy văn kết hợp WEHY-WRF để tính toán mô  
phỏng và khôi phục lại toàn bộ các chuỗi số liệu  
mưa, dòng chảy trên lưu vực sông Hồng - Thái  
Bình từ năm 1960-2015. Mô hình WEHY-WRF  
là một bộ phần mềm mô hình cặp đôi (Couple  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
2
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Model) do Trung tâm thủy văn California tiến hành các phân tích về diễn biến hạn hán  
(CHRL) - Đại học UC Davis, Hoa Kỳ phát triển trên toàn lưu vực sông Hồng - Thái Bình thông  
[4], mô hình có khả năng tính toán mô phỏng qua việc tính toán và đánh giá diễn biến của các  
đồng thời các điều kiện khí tượng và thủy văn chỉ số về hạn khí tượng (SPI) và hạn thủy văn  
trên lưu vực dựa trên các dữ liệu khí tượng toàn (SDI) theo không gian và thời gian. Phương  
cầu (reanalysis data) đã được chi tiết hóa pháp tính toán cụ thể như sau:  
(downscaling) kết hợp với các dữ liệu về thông  
+ Tính toán đánh giá diễn biến hạn khí tượng  
số bề mặt trên lưu vực. Thuật toán của mô hình  
dựa trên chỉ số chuẩn hóa lượng mưa SPI  
được xây dựng dựa trên các phương trình tính  
(Standardized Precipitation Index) dựa trên các  
toán bình quân theo diện tích của từng ô lưới,  
chuỗi số liệu lượng mưa trung bình tháng từ  
để có thể tính tới sự không đồng nhất về điều  
1960-2015: Chỉ số SPI được tính toán đơn giản  
kiện khí tượng thủy văn và đặc điểm địa hình  
bằng sự chênh lệch của lượng giáng thủy thực  
trong miền tính toán. Do đó có thể ứng dụng để  
tế R (tổng lượng tháng) so với trung bình nhiều  
tính toán mô phỏng các quá trình khí tượng thủy  
năm và chia cho độ lệch chuẩn của lượng mưa  
văn trên lưu vực trong cả điều kiện bị hạn chế  
trong thời kỳ tương ứng:  
về các dữ liệu thực đo, và đây chính là điểm ưu  
việt về công nghệ đã được chúng tôi lựa chọn  
để ứng dụng trong nghiên cứu này.  
ꢂ
SPI = ꢀꢁꢀ  
(1)  
ꢃ
Chỉ số SPI là một chỉ số không thứ nguyên: khi  
các giá trị của SPI <0 tình trạng khô, hạn hán,  
SPI>0 tình trạng thừa ẩm.  
- Dựa trên bộ dữ liệu mưa và dòng chảy đã được  
tính toán khôi phục từ mô hình WEHY-WRF,  
Hình 2. Đánh giá tình trạng hạn khí tượng bằng chỉ số SPI.  
ꢇꢇꢇꢇ  
ꢁꢄ  
SDIi,k = ꢄ  
, Vi,k = ꢊꢋꢌ ꢉꢅ,ꢊ  
ꢅ,ꢆ  
ꢆ
ꢆ
- Tính toán đánh giá hạn thủy văn trên lưu vực  
dựa vào chỉ số chuẩn hóa lượng dòng chảy SDI  
(Streamflow Drought Index): Chỉ số SDIi,k  
được xác định dựa trên các giá trị lưu lượng  
dòng chảy trung bình tháng Qi,j, trong đó i là  
biểu thị năm thủy văn, j là biểu thị tháng thủy  
văn trong năm thủy văn đó. Vi,k là tổng lượng  
dòng chảy tích lũy cho năm thủy văn i và thời  
đoạn tham khảo k.  
∑
ꢈ
ꢆ
ꢅ = ꢌ, ꢎ …  
ꢊ = ꢌ, ꢎ, … , ꢌꢎ  
ꢆ = ꢌ, ꢎ, ꢏ, ꢐ  
với  
ꢍ
ꢑ
(2)  
Trong đó: Vk và Sk lần lượt là trung bình và độ  
lệch chuẩn của dòng chảy tích lũy cho thời đoạn  
tham chiếu thứ k.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
3
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Hình 3. Đánh giá tình trạng hạn thủy văn bằng chỉ số SDI.  
theo chu trình khép kín trên mô hình WEHY-  
WRF trong từng thời đoạn tính toán thông qua  
các module ghép nối song song giữa mô hình  
khí tượng WRF và mô hình thủy văn WEHY.  
Quy trình công nghệ tính toán khôi phục dữ liệu  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Toán khôi phục dữ liệu mưa và dòng chảy  
trên lưu vực bằng mô hình WEHY-WRF  
a) Tài liệu, số liệu sử dụng:  
- Dữ liệu địa hình: Sử dụng bộ dữ liệu ảnh được mô tả trên Hình 4.  
ASTER với độ phân giải cao (30m) cho dữ liệu  
địa hình toàn lưu vực. Đây là bộ dữ liệu DEM  
đã được công nhận về chất lượng và được ứng  
dụng nhiều nơi trên thế giới cho các mục đích  
khác nhau.  
- Dữ liệu khí tượng toàn cầu ERA-20C được  
cung cấp bởi Trung tâm dự báo khí tượng Châu  
Âu (ECMWF) bao gồm (mưa, gió, nhiệt độ, bức  
xạ, bốc hơi…) độ phân giải 125km với các bước  
thời gian khác nhau (6h, ngày, tháng) làm dữ  
liệu đầu vào cho mô hình.  
- Dữ liệu mưa toàn cầu Aphrodite (APH) của  
Nhật Bản (với độ phân giải 25km).  
Hình 4. Quy trình tính toán khôi phục dữ liệu  
mưa và dòng chảy trên lưu vực bằng mô hình  
WEHY-WRF  
- Dữ liệu thực đo tại 91 trạm khí tượng, thủy  
văn trên toàn lưu vực sông Hồng - Thái Bình  
thuộc phần lưu vực phía Việt Nam và một số  
trạm thuộc lãnh thổ Trung Quốc.  
Mô hình được thiết lập cho toàn bộ lưu vực  
sông Hồng - Thái Bình với phương pháp lưới  
lồng, các ô lưới được chi tiết hóa dần dần từ ô  
lưới có kích thước lớn thu hẹp xuống các ô lưới  
có kích thước nhỏ hơn và thông thường bằng  
- Dữ liệu thảm phủ (sử dụng ảnh landsat có độ  
phân giải >60m), dữ liệu về độ che phủ lá cây  
(Dữ liệu LAI được thu thập từ ảnh vệ tinh của  
MODIS ứng với độ phân giải 500-1000 m), dữ  
liệu đất (dữ liệu soil grid 250m cho toàn cầu và  
phân loại đất toàn cầu của FAO).  
1/3 các  
ô
lưới trước đó (ví dụ  
81km27km9km) [5]. Trong nghiên cứu  
này, độ phân giải của ô lưới được sử dụng để  
tính toán khôi phục dữ liệu là 9km cho toàn bộ  
lưu vực. Miền tính toán của mô hình thiết lập  
tương ứng với độ phân giải này được thể hiện  
như trên Hình 5.  
b) Quy trình tính toán khôi phục dữ liệu:  
Việc tính toán và mô phỏng các điều kiện khí  
tượng - thủy văn của lưu vực được thực hiện  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
4
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Hình 6. Giao diện thiết lập của mô hình  
WEHY-WRF.  
Hình 5. Miền tính toán với độ phân giải  
ô lưới (9km) của mô hình WRF.  
c) Kết quả kiểm định mô hình WEHY-WRF:  
phỏng mưa cho toàn lưu vực sông Hồng - Thái  
Bình (bao gồm cả phần lưu vực thuộc Trung  
Quốc và Lào) cho thấy sự phù hợp giữa quá  
trình tính toán và thực đo, chỉ số lượng mưa  
trung bình tháng cho toàn giai đoạn từ 1990-  
1994 giữa tính toán và thực đo là khá sát nhau  
(~145 mm), hệ số tương quan R2=0,797 và hệ  
số NASH đạt 0,83. Kết quả đánh giá được thể  
hiện tại Hình 7.  
* Kiểm định mô hình khí tượng WRF:  
Sau khi mô hình đã được hiệu chỉnh và thiết  
lập bộ thông số tối ưu, lựa chọn chuỗi thời  
gian từ năm 1990 đến năm 1994 để kiểm định  
và đánh giá sự phù hợp của mô hình trước khi  
áp dụng tính toán khôi phục dữ liệu mưa trên  
lưu vực.  
- Kết quả kiểm định mô hình tính toán mô  
Hình 7. Kết quả kiểm định lượng mưa trung bình lưu vực từ 1990-1994.  
So sánh giữa kết quả tính của mô hình WRF với phỏng tốt cho chuỗi số liệu dạng trung bình lưu  
số liệu thực đo mưa tại một số trạm nằm phân vực, mà còn mô phỏng tốt phân bố mưa tại các  
bố ở các vị trí khác nhau trên lưu vực gồm điểm trên lưu vực. Kết quả kiểm định mưa cũng  
Mường Tè, Lai Châu, Quỳnh Nhai, Hiệp Hòa, khá tương đồng ở hầu hết các trạm kiểm tra.  
Hòa Bình cũng cho thấy mô hình không chỉ mô  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
5
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Hình 8. Kết quả kiểm định tính toán mưa trung bình tháng tại một số trạm.  
Do không có dữ liệu khí tượng của phần thượng Các số liệu phân bố mưa của APH và WRF có  
nguồn lưu vực thuộc phía lãnh thổ Trung Quốc sự khác biệt về độ phân giải, nên kết quả tính  
và Lào nên các số liệu mưa toàn cầu Aphrodite toán mưa của mô hình sẽ được nội suy từ độ  
(APH) [11] của Nhật Bản (với độ phân giải phân giải 9km sang độ phân giải 25km để so  
25km) được sử dụng và coi như là các dữ liệu sánh đồng bộ trên toàn lưu vực. Bản đồ so sánh  
thực đo để kiểm định mô hình (bản chất của dữ phân bố lượng mưa của một số tháng điển hình,  
liệu APH là được tính toán lại ở độ phân giải đại diện cho đặc trưng mưa trong năm như:  
25km với nguồn số liệu từ các trạm đo mặt đất Tháng I (mùa khô), Tháng III (mùa trung gian)  
thu thập được trên toàn cầu). Kết quả mô phỏng và Tháng VIII (mùa mưa) cho thấy kết quả mô  
mưa ở phần thượng nguồn so sánh với dữ liệu phỏng của mô hình WRF khá tương đồng với  
APH cho toàn bộ lưu vực được thể hiện như số liệu mưa của APH. Có đến gần 87% diện tích  
trên Hình 9.  
trùng nhau theo các ô màu so sánh kiểm định.  
* Kiểm định mô hình thủy văn WEHY:  
Mô hình được kiểm định với liệt số liệu dòng  
chảy tự nhiên từ 1971-1985 là giai đoạn trước  
khi có các hồ chứa lớn ở thượng nguồn và giai  
đoạn từ 2008-2014 sau khi xây dựng các hồ  
Thác Bà, Hòa Bình, Tuyên Quang, Sơn La, Lai  
Châu... Kết quả kiểm định dòng chảy tại một số  
trạm chính trên lưu vực cho thấy các chỉ số  
thống kê đều đạt trên 0,8 (hệ số tương quan  
R2=0.884 và chỉ số Nash=0.81), với đường màu  
xanh là biểu diễn các giá trị tính toán mô phỏng  
và đường màu đỏ biểu diễn các giá trị thực đo.  
Kết quả mô phỏng theo quan sát là khá sát với  
thực đo cả về phần mùa lũ và mùa kiệt, đồng  
Hình 9. Kết quả kiểm định phân bố mưa trung  
bình tháng nhiều năm từ 1990-2000 cho toàn  
bộ lưu vực sông Hồng - Thái Bình.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
6
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
nghĩa với khả năng mô phỏng dòng chảy trên lưu vực khá tốt của mô hình WEHY.  
Hình 10. Kết quả kiểm định dòng chảy tại một số trạm thủy văn trên lưu vực thuộc lãnh thổ Việt Nam.  
Việc kiểm định kết quả mô phỏng dòng chảy (Nguyên Giang) phía thượng nguồn Trung  
phía thượng nguồn Trung Quốc là rất khó khăn Quốc [9] từ năm 1970-2000. So sánh giữa số  
do hạn chế về thông tin và dữ liệu đo đạc. Dựa liệu thực đo (Yuanjiang - Trung Quốc) và số  
trên số liệu thu thập được từ một số bài báo liệu tính toán chiết xuất từ mô hình WEHY cho  
Quốc tế nghiên cứu ở khu vực này, chúng tôi đã thấy kết quả mô phỏng khá tốt, kết quả kiểm  
tiến hành khôi phục các chuỗi dữ liệu thực đo định được thể hiện tại Bảng 1 và Hình 11.  
về tổng lượng dòng chảy trên sông Yuanjiang  
Bảng 1. So sánh thông số thống kê giữa kết quả tính toán và số liệu thực đo  
sông Yuanjiang - Trung Quốc, thời đoạn từ 1970-2000  
Tổng lượng dòng chảy  
năm (1970-2000)  
146.9  
Chỉ số  
Sông Yuanjiang  
Độ lệch chuẩn  
Nash  
tương quan  
Thực đo 108m3  
Tính toán 108m3  
32.1  
28.1  
0.94  
0.87  
146.1  
Hình 11. So sánh kiểm định tổng lượng dòng chảy năm mô phỏng và số liệu thực đo  
trên sông Yuanjiang – Trung Quốc từ 1970-2000.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
7
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Kết quả kiểm định mô hình WEHY-WRF cho chỉ số đánh giá SPI, SDI.  
toàn lưu vực (bao gồm cả Việt Nam và Trung  
d) Kết quả tính toán khôi phục bộ dữ liệu mưa  
và dòng chảy:  
Quốc) là khá tốt, các chỉ số thống kê đánh giá  
độ tin cậy trong tính toán mô phỏng khí tượng  
và thủy văn đều đạt giá trị từ 0,8 trở lên. Như  
vậy có thể khẳng định, mô hình được thiết lập  
là đảm bảo độ tin cậy và có thể sử dụng để tính  
toán khôi phục các chuỗi dữ liệu mưa và dòng  
chảy trên lưu vực để làm số liệu đầu vào cho  
các tính toán, phân tích về diễn biến hạn hán  
trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình bằng các  
Sau khi kiểm định, mô hình WEHY-WRF được  
áp dụng để tính toán mô phỏng và khôi phục lại  
các chuỗi giá trị mưa và dòng chảy trên toàn bộ  
lưu vực sông Hồng - Thái Bình từ 1960-2015.  
Kết quả khôi phục dữ liệu tại một số vị trí trên  
lưu vực được thể hiện tại các Hình 12 và Hình  
13.  
Hình 12. Kết quả khôi phục lượng mưa trung bình ngày từ 1960-2015 tại một số vị trí  
trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình.  
Hình 13. Kết quả khôi phục dòng chảy trung bình ngày từ 1960-2015  
tại một số vị trí trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
8
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
1960-2015 để tính toán các chỉ số SPI, từ đó lập  
bản đồ phân bố mưa và hạn hán cho toàn lưu  
vực. Kết quả xây dựng bản đồ phân bố mưa  
trung bình tháng nhiều năm trên toàn lưu vực  
được thể hiện tại Hình 14.  
3.2. Đánh giá diễn biến hạn khí tượng và thủy  
văn trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình  
a) Diễn biến hạn khí tượng:  
Sử dụng bộ dữ liệu lượng mưa khôi phục từ năm  
Hình 14. Phân bố lượng mưa trung bình tháng nhiều năm từ 1960-2015.  
Lựa chọn số liệu tại một số trạm điển hình phản trọng. Mức độ hạn giảm dần từ thượng lưu về  
ánh đầy đủ đặc trưng mưa cho các khu vực trên hạ lưu, vùng thượng lưu tại các trạm Sơn La,  
cả vùng thượng lưu và hạ lưu, tiến hành tính Lào Cai, Chiêm Hóa đều xảy ra hạn nặng vào  
toán chỉ số SPI để đánh giá diễn biến hạn theo tháng IV và tháng X nhưng xuống đến trạm Hòa  
từng tháng trên toàn lưu vực. Kết quả phân tích Bình, Yên Bái, Vụ Quang hạn nặng chỉ xảy ra  
diễn biến hạn như sau:  
vào tháng IV. Các khu vực vùng đồng bằng  
(trạm Sơn Tây) chỉ xảy ra hạn nặng thường chỉ  
xảy ra trong tháng IV và vùng ven biển không  
có tình trạng xảy ra hạn nặng.  
* Phân bố chỉ số hạn trên lưu vực:  
Diễn biến hạn trên lưu vực chỉ xảy ra ở mức từ  
hạn nhẹ đến hạn nặng, không xảy ra hạn nghiêm  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
9
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Hình 15. Kết quả phân cấp hạn theo chỉ số SPI tại các trạm trên lưu vực.  
Nhìn chung trên toàn lưu vực biến trình chỉ số từ tháng XI đến tháng IV (tại các trạm Hòa  
hạn biến đổi khá đồng đều từ thượng lưu xuống Bình, Yên Bái, Vụ Quang, Sơn Tây, Văn Lý).  
hạ lưu. Vùng thượng lưu tại các trạm Sơn La, Hạn cao điểm thường xảy ra vào các tháng XII  
Lào Cai, Chiêm Hóa hạn xảy ra từ tháng X đến năm trước đến tháng II năm sau. Tháng hạn nhất  
tháng IV, càng về hạ lưu thời gian hạn giảm chỉ rơi vào tháng I hàng năm.  
Bảng 2. Chỉ số hạn SPI trung bình tháng và năm tại các trạm.  
V
ụ
Văn  
Tháng S  
ơ
n La Hòa Bình Lào Cai Yên Bái Hàm Yên Chiêm Hóa  
Sơn Tây  
Quang  
Lý  
0,15  
0,21  
0,59  
0,56  
0,41  
-
VI  
VII  
VIII  
IX  
0,80  
0,85  
0,79  
0,23  
0,79  
0,73  
0,75  
0,63  
0,17  
0,61  
0,77  
0,77  
0,39  
-0,36  
0,64  
0,74  
0,80  
0,63  
0,02  
0,68  
0,91  
0,86  
0,75  
0,09  
0,79  
0,76  
0,82  
0,22  
-0,51  
0,72  
0,69  
0,69  
0,70  
0,54  
0,06  
0,64  
0,78  
0,48  
0,01  
X
-0,80  
-0,91  
-0,97  
XI  
-0,85  
-0,99  
-0,78  
-0,96  
-0,90  
-0,99  
-0,75  
-0,99  
-0,92  
-0,98  
-0,85  
-0,98  
-0,73 0,60  
-
XII  
-0,98 0,97  
-
I
-0,97  
-0,93  
-0,99  
-1,00  
-0,97  
-0,94  
-0,99  
-0,98  
-1,00  
-1,00  
-0,98  
-0,96  
-0,98  
-0,97  
-0,99 0,97  
II  
-0,99  
-
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
10  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
0,98  
-
III  
-0,88  
-0,96  
-0,81  
-0,93  
-0,99  
-0,88  
-0,92  
-0,95 0,97  
-
IV  
V
-0,07  
0,69  
-0,73  
0,69  
-0,16  
0,59  
-0,62  
0,46  
-0,98  
-0,61  
-0,22  
0,71  
-0,48  
0,60  
-0,70 0,88  
0,58  
0,07  
-
TB  
-0,18  
-0,15  
-0,15  
-0,18  
-0,25  
-0,18  
-0,16  
-0,17 0,28  
Hình 16. Biến trình chỉ số SPI trung bình nhiều năm (1961-2015) tại các trạm  
* Diễn biến tần suất hạn:  
tăng nhanh, tháng XII đến tháng II là các tháng  
cao điểm mùa hạn, trong tất cả các năm tính toán  
đều xảy ra thiếu hụt mưa ở các tháng này. Sang  
tháng III và tháng IV số tháng hạn giảm dần và  
giảm rõ rệt khi chính thức vào mùa mưa từ tháng  
V đến tháng IX.  
Nhìn chung trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình  
sự thiếu hụt lượng mưa xảy ra khá thường xuyên  
trong năm, ngay cả trong các tháng mùa mưa từ  
tháng V đến tháng X. Vào tháng XI ngay khi  
mùa mưa kết thúc, tần suất hạn và mức độ hạn  
Bảng 3. Tần suất xuất hiện hạn tháng tại các trạm (P%).  
Tháng Sơn La Hòa Bình Lào Cai Yên Bái Chiêm Hóa Vụ Quang Sơn Tây Văn Lý  
VI  
VII  
VIII  
IX  
X
XI  
XII  
I
2
1
7
7
6
8
13  
5
4
9
6
4
4
3
3
9
7
9
11  
5
7
31  
28  
5
25  
49  
52  
55  
55  
54  
53  
32  
9
12  
27  
52  
55  
55  
55  
54  
46  
7
20  
40  
50  
54  
55  
54  
49  
34  
14  
13  
30  
52  
55  
55  
55  
54  
44  
16  
31  
40  
52  
55  
55  
54  
51  
37  
7
18  
30  
51  
55  
55  
55  
54  
42  
12  
17  
34  
49  
55  
55  
55  
54  
49  
17  
13  
25  
47  
55  
55  
55  
55  
51  
34  
II  
III  
IV  
V
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
11  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Hình 17. Tần suất lặp lại đợt hạn trên lưu vực  
từ năm 1960-2015.  
Hình 18. Tần suất trung bình xảy ra các  
cấp hạn trên lưu vực.  
* Thời gian hạn và mùa hạn:  
Số tháng hạn trung bình trong một mùa hạn trên  
toàn lưu vực dao động trong khoảng từ 4-5  
tháng, có năm hạn dài lên tới 8-9 tháng như mùa  
hạn 1968-1969, 1978-1980, 1998-1999, 2004-  
2005, 2010-2011,... Kết quả tính toán này cũng  
phù hợp với tình trạng hạn hán thực tế đã xảy ra  
trên lưu vực.  
Mùa khô hạn trên lưu vực có thời gian bắt đầu  
đồng nhất trên toàn lưu vực và thường bắt đầu  
từ tháng X, cao điểm tháng XII đến tháng II và  
kết thúc vào tháng IV. Tuy nhiên cao điểm bắt  
đầu và kết thúc là khác nhau, càng ra ngoài biển  
thì thời gian kết thúc hạn muộn hơn so với vùng  
thượng lưu.  
Hình 19. Bản đồ phân vùng hạn khí tượng  
theo chỉ số SPI trung bình mùa khô nhiều năm  
giai đoạn từ 1960-2015  
b) Diễn biến hạn thủy văn:  
* Xây dựng bản đồ phân vùng hạn khí tượng:  
Sử dụng bộ dữ liệu lưu lượng dòng chảy được  
khôi phục từ 1960-2015, tiến hành tính toán  
các chỉ số hạn SDI trong mùa kiệt (theo năm  
thủy văn) tại các trạm đại diện cho các tuyến  
sông suối trên lưu vực gồm: Tạ Bú, Hòa Bình  
trên sông Đà; Yên Bái, Lào Cai trên sông  
Thao; Hàm Yên, Chiêm Hóa, Vụ Quang trên  
sông Lô - Gâm; Sơn Tây, Hà Nội trên sông  
Hồng; Thượng Cát trên sông Đuống; Gia Bảy,  
Chũ trên hệ thống sông Thái Bình,... Từ đó  
phân tích, đánh giá diễn biến hạn hán xảy ra  
trên toàn lưu vực sông. Kết quả tính toán cho  
thấy:  
Từ các số liệu tính toán các chỉ số hạn SPI giai  
đoạn từ năm 1960-2015, tiến hành xây dựng  
bản đồ phân vùng hạn cho toàn lưu vực dựa trên  
các chỉ số hạn SPI trung bình mùa khô nhiều  
năm theo từng tháng và theo từng khu vực.  
Dưới đây là kết quả xây dựng bản đồ diễn biến  
hạn khí tượng cho toàn bộ lưu vực sông Hồng -  
Thái Bình (Hình 19).  
Trên sông Đà: Tại trạm Hòa Bình hạn trầm  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
12  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
trọng xảy ra vào các năm 1992-1993 và 2010-  
2011, cực hạn xảy ra năm 2011-2012. Tại  
trạm Tạ Bú có 3 năm xảy ra hạn trầm trọng  
xảy ra vào năm 1980-1981, 1989-1990 và  
1992-1993. Nửa đầu thời đoạn từ năm 1961-  
1995 hạn xảy ra thường xuyên và nghiêm  
trọng hơn so với thời kì từ năm 1996-2015.  
Các đợt hạn kéo dài từ năm 1977-1982; 1986-  
1992 và 2009-2013. Tại trạm Hòa Bình có 24  
năm không hạn (chiếm 44,4%), 21 năm hạn  
nhẹ (chiếm 38,9%), có 6 năm hạn vừa (chiếm  
11,1%), 2 năm hạn trầm trọng (chiếm 3,7%)  
và 1 năm cực hạn chiếm 1,9%. Tại trạm Tạ Bú  
trong 54 năm tính toán (1961-2015) thì có 26  
năm không hạn (chiếm 48,1%), 18 năm hạn  
nhẹ (chiếm 33,3%), 7 năm hạn vừa (chiếm  
13%) và 3 năm xảy ra hạn trầm trọng (chiếm  
5,6%), dòng chảy tại khu vực này không có  
năm nào cực hạn.  
2007 và 2009-2012. Các thời kỳ xảy ra hạn  
liên tục trên lưu vực sông như từ năm 1975-  
1979, từ 2003-2008 và từ 2009-2012. Tại  
trạm Hàm Yên, trong 54 năm tính toán có 26  
năm không hạn (chiếm 48,1%), 21 năm hạn  
nhẹ (chiếm 38,9%), 5 năm hạn vừa (chiếm  
9,3%) và 2 năm nào hạn trầm trọng (chiếm  
3,7%); Tại trạm Chiêm Hóa có 32 năm không  
hạn (chiếm 59,3%), 12 năm hạn nhẹ (chiếm  
22,2%), có 7 năm hạn vừa (chiếm 13%), 3  
năm hạn trầm trọng (chiếm 5,6%) và không  
có năm nào cực hạn. Tại trạm Vụ Quang có  
30 năm không hạn (chiếm 55,6%), 15 năm  
hạn nhẹ (chiếm 27,8%), 3 năm hạn vừa  
(chiếm 5,6%), 6 năm hạn trầm trọng (chiếm  
11,1%) và không có năm nào cực hạn. Qua đó  
cho thấy, diễn biến hạn hán trên sông Lô-Gâm  
cũng có sự biến động theo không gian, ở khu  
vực hạ du sông Lô-Gâm tại trạm Vụ Quang  
hạn hán xảy ra thường xuyên hơn so với trạm  
Chiêm Hóa, Hàm Yên ở vùng thượng nguồn.  
Trên sông Thao: Năm xảy ra hạn trầm trọng  
là năm 2009-2010 và 2011-2012. Tại trạm  
Lào Cai có 23 năm không hạn (chiếm 42,6%),  
24 năm hạn nhẹ (chiếm 44,4%), 6 năm hạn  
vừa (chiếm 11,1%) và 1 năm hạn trầm trọng  
chiếm 1,9%. Tại trạm Yên Bái có 24 năm  
không hạn (chiếm 44,4%), 21 năm hạn nhẹ  
(chiếm 38,9%), 7 năm hạn vừa (chiếm 13%)  
và 2 năm hạn trầm trọng năm 2009-2010,  
2011-2012 (chiếm 3,7%), không có năm nào  
xảy ra cực hạn. Trên cả 2 trạm Yên Bái và Lào  
1990 và 2009-2015. Như vậy cấp độ hạn thủy  
văn tại từng trạm có sự khác nhau, trong đó  
trạm Yên Bái xảy ra tình trạng hạn nặng hơn  
so với trạm Lào Cai.  
Hạ du sông Hồng: Ở vùng hạ du, hạn thủy văn  
diễn ra thường xuyên và mức độ lớn hơn so  
với các khu vực thượng nguồn. Từ năm 1960-  
2015 đã có những năm xảy ra cực hạn trên  
sông hồng như năm 2011-2012 và hạn trầm  
trọng là các năm 2006-2007, năm 2009-2010,  
năm 2010-2011, năm 2014-2015. Hạn trên  
sông Hồng chia làm 2 thời kì: thời kì thứ nhất  
từ năm 1961-1986 chỉ số SDI lớn, hạn không  
xảy ra thường xuyên, không xuất hiện tình  
trạng hạn trầm trọng đến cực hạn, chỉ xảy ra  
một thời kỳ hạn kéo dài từ 1976-1979; thời kì  
thứ hai từ năm 1987-2015 chỉ số SDI giảm,  
xuất hiện các thời kỳ xảy ra hạn liên tục như  
thời kỳ từ 1991-1995, 2002-2008, 2009-2015.  
Trên sông Lô-Gâm: Số năm xảy ra hạn trên  
sông Lô-Gâm ít hơn so với sông Đà và sông  
Thao nhưng mức độ hạn lại lớn hơn. Trong  
khi ở sông Đà và sông Thao chỉ có 1-2 năm  
xảy ra hạn trầm trọng thì trên sông Lô-Gâm  
xảy ra 2-6 năm, tình trạng hạn nghiêm trọng  
nhất xảy ra trên sông Lô tại Vụ Quang với 6  
đợt xảy ra hạn trầm trọng là các năm 2004-  
Diễn biến hạn tại từng trạm: Tại trạm Sơn Tây  
có 24 năm không hạn (chiếm 44,4%), 19 năm  
hạn nhẹ (chiếm 44,4%), 10 năm hạn vừa  
(chiếm 18,5%), 1 năm cực hạn là năm 2011-  
2012 (chiếm 1,9%). Tại trạm Hà Nội, có 29  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
13  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
và chỉ có 2 năm xảy ra hạn trầm trọng. Tình  
trạng hạn xảy ra cũng biến động theo không  
gian, càng gần xuống dưới hạ du tần suất hạn  
tăng lên nhưng mức độ hạn giảm so với  
thượng nguồn. Phía thượng nguồn sông Thái  
Bình, trên sông Thương có 30 năm xảy ra hạn  
nhẹ và 2 năm xảy ra hạn vừa nhưng tạ trạm  
Gia Bảy có 10 năm hạn nhẹ, 14 năm xảy ra  
hạn vừa. Đặc biệt trên sông Đuống từ năm  
1999 trở lại đây không xảy ra hạn thủy văn,  
điều này cũng phù hợp với thực tế do tỷ lệ  
phân lưu dòng chảy từ sông Hồng chuyển  
sang sông Đuống có xu thế tăng lên do ảnh  
hưởng của việc mở rộng cửa vào và hạ thấp  
lòng dẫn sông Đuống.  
năm không hạn (chiếm 53,7%), 14 năm hạn  
nhẹ (chiếm 25,9%), có 6 năm hạn vừa (chiếm  
11,1%), 4 năm hạn vừa (chiếm 7,4%) và 1  
năm cực hạn (chiếm 1,9%). Như vậy theo  
không gian dọc theo sông Hồng, càng về hạ  
du mức độ hạn do thiếu hụt nước tăng hơn so  
với vùng thượng lưu, sang sông Đuống thì  
mức độ hạn hán giảm, hạn xảy ra ít hơn so với  
sông Hồng.  
Trên sông Thái Bình: mức độ xảy ra hạn trên  
vùng thượng nguồn sông Thái Bình thấp hơn  
so với trên sông Hồng. Đánh giá chỉ số SDI  
tại các trạm trong khu vực cho thấy từ năm  
1960-2015 không có năm nào xảy ra cực hạn  
Hình 20. Biểu đồ diễn biến chỉ số hạn SDI  
trên sông Đà, thời kỳ từ 1960-2015.  
Hình 21. Biểu đồ diễn biến chỉ số hạn SDI  
trên sông Thao, thời kỳ từ 1960-2015.  
Hình 22. Biểu đồ diễn biến chỉ số hạn SDI  
trên sông Lô-Gâm, thời kỳ từ 1960-2015.  
Hình 23. Biểu đồ diễn biến chỉ số hạn SDI  
trên sông Hồng, thời kỳ từ 1960-2015.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
14  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Hình 24. Biểu đồ diễn biến chỉ số hạn SDI trên sông Thái Bình,  
thời kỳ từ 1960-2015.  
đại diện trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình cho  
Như vậy có thể thấy, kết quả phân tích chỉ số  
hạn SDI đã phản ánh sát với thực trạng hạn thủy  
văn xảy ra trên các sông thuộc lưu vực sông  
Hồng - Thái Bình trong giai đoạn từ năm 1960-  
2015. Đối với những năm tình trạng hạn hán  
xảy ra nghiêm trọng trên lưu vực như mùa khô  
năm 1962-1963, 1963-1964, 1997-1998, 1998-  
1999, 2009-2010… các kết quả tính toán chỉ số  
SDI từ bộ dữ liệu khôi phục đã phản ánh được  
đúng thực trạng hạn.  
thấy: Với hạn khí tượng chỉ số SPI phù hợp với  
diễn biến mưa trên lưu vực, nhưng chỉ số hạn  
thủy văn SDI không hoàn toàn phù hợp với diễn  
biến mưa và tình hình hạn khí tượng. Sự khác  
nhau này có thể được giải thích là do dòng chảy  
trên các sông được hình thành không chỉ phụ  
thuộc vào lượng mưa trên lưu vực mà còn phụ  
thuộc vào cả lượng dòng chảy đến từ bên ngoài  
lưu vực. Đặc biệt là nếu trên lưu vực có các  
công trình hồ chứa lớn điều tiết dòng chảy như  
lưu vực sông Hồng - Thái Bình thì các hoạt  
động tích nước và xả nước sẽ làm thay đổi cơ  
bản chế độ thủy văn dòng chảy ở vùng hạ du  
các hồ chứa, do đó chỉ số đánh giá hạn thủy văn  
c) Phân tích mối liên hệ giữa phân phối lượng  
mưa với diễn biến hạn khí tượng và hạn thủy  
văn trên lưu vực:  
Chồng chập diễn biến về lượng mưa và phân sẽ không phản ánh đúng thực tế diễn biến của  
phối mưa với các chỉ số tính toán hạn khí tượng các điều kiện khí tượng, khí hậu trên lưu vực.  
SPI và hạn thủy văn SDI tại một số vị trí trạm  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
15  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Hình 25. Quan hệ giữa lượng mưa năm với diễn biến về chỉ số hạn khí tượng SPI  
và hạn thủy văn SDI tại một số trạm trên lưu vực  
không đồng nhất giữa vùng thượng nguồn và  
vùng hạ du, và giữa các tiểu lưu vực trong vùng.  
Trên lưu vực, thời kỳ xảy ra hạn khí tượng trùng  
với thời kỳ mùa khô từ tháng XI đến tháng IV,  
ở khu vực thượng lưu hạn xuất hiện sớm hơn,  
thường bắt đầu từ tháng X đến tháng IV. Các  
tháng cao điểm hạn xảy ra trong thời gian tháng  
XII đến tháng II năm sau. Dựa trên kết quả tính  
toán các chỉ số chuẩn hóa giáng thủy SPI,  
nghiên cứu cũng đã xây dựng bản đồ phân vùng  
hạn khí tượng cho toàn bộ lưu vực sông Hồng -  
Thái Bình.  
4. KẾT LUẬN  
Nghiên cứu này đã ứng dụng bộ mô hình khí  
tượng thủy văn kết hợp WEHY-WRF với độ  
phân giải ô lưới 9km để tính toán mô phỏng các  
điều kiện khí tượng và thủy văn trên toàn lưu  
vực sông Hồng - Thái Bình. Mô hình đã được  
hiệu chỉnh và kiểm định với các số liệu thực đo  
tại nhiều vị trí trong khu vực, bao gồm cả phần  
lưu vực lãnh thổ Trung Quốc, Lào và Việt Nam  
với các chỉ tiêu thống kê đánh giá độ tin cậy từ  
0,8 trở lên. Mô hình sau khi kiểm định, đã được  
áp dụng để tính toán mô phỏng và khôi phục lại  
các chuỗi số liệu mưa và dòng chảy trên toàn Kết quả nghiên cứu mối liên hệ giữa lượng mưa  
lưu vực cho giai đoạn từ năm 1960 đến 2015.  
với các chỉ số hạn khí tượng SPI và hạn thủy  
văn SDI cho thấy, chỉ số SPI có sự đồng nhất và  
phản ánh đúng diễn biến về lượng mưa và phân  
bố mưa trên lưu vực. Đối với chỉ số SDI thì diễn  
biến hạn thủy văn trên lưu vực không hoàn toàn  
phụ thuộc vào lượng mưa, mà còn phụ thuộc  
vào đặc điểm, quá trình hình thành dòng chảy  
trên các sông, suối và lượng dòng chảy đến từ  
bên ngoài lưu vực, đặc biệt là sự ảnh hưởng của  
các công trình điều tiết trên dòng chính trong  
các thời đoạn tích nước, xả nước.  
Từ bộ dữ liệu khôi phục, tiến hành các nghiên  
cứu đánh giá về diễn biến hạn hán trên toàn lưu  
vực sông Hồng - Thái Bình thông qua việc tính  
toán, phân tích diễn biến của các chỉ số về hạn  
khí tượng (SPI) và hạn thủy văn (SDI) theo  
không gian và thời gian. Kết quả nghiên cứu  
cho thấy tình hình diễn biến hạn trên lưu vực có  
sự khác nhau về thời gian và thời kỳ xảy ra hạn  
hán, kể cả đối với hạn khí tượng cũng như hạn  
thủy văn. Tình trạng và mức độ hạn diễn biến  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Amin, M. Z. M., et al “Future climate change impact assessment of watershed scale  
hydrologic processes in Peninsular Malaysia by a regional climate model coupled with a  
physically-based hydrology modelo”. Science of The Total Environment 575 (2017): 12-  
22.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
16  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
[2] Chen, Z. Q., et al. “Geomorphologic and soil hydraulic parameters for Watershed  
Environmental Hydrology (WEHY) model”. Journal of Hydrologic Engineering 9.6 (2004):  
465-479.  
[3] Chen, Z. R., Kavvas, M., Ohara, N., Anderson, M., and Yoon, J. (2011) “Coupled regional  
hydroclimate model and its application to the Tigris-Euphrates basin”. J.Hydrol. Eng.,  
10.1061/(ASCE)HE.1943-5584.0000207, 1059–1070.  
[4] Hồ Việt Cường và Nnk, đề tài cấp Quốc gia KC.08.05/16-20 “Nghiên cứu đánh giá xu thế  
diễn biến, tác động của hạn hán, xâm nhập mặn đối với phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng  
bằng sông Hồng - Thái Bình và đề xuất các giải pháp ứng phó”. Phòng TNTĐ Quốc gia về  
ĐLH Sông biển, Năm 2016-2019.  
[5] Hồ Việt Cường, Trịnh Quang Toàn và Nnk “Nghiên cứu ứng dụng phương pháp tính toán  
khôi phục chuỗi số liệu dòng chảy cho lưu vực sông”. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ  
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Năm 2017.  
[6] Kavvas, M., Kure, S., Chen, Z., Ohara, N., and Jang, S. (2013). “WEHY-HCM for modeling  
interactive atmospheric-hydrologic processes atwatershed scale. I: Model description”. J.  
Hydrol. Eng.,10.1061/(ASCE)HE.1943-5584.0000724, 1262-1271  
[7] Kavvas, M. L., et al. “Watershed environmental hydrology (WEHY) model based on  
upscaled conservation equations: hydrologic module”. Journal of Hydrologic Engineering  
9.6 (2004): 450-464.  
[8] Lo, Jeff Chun‐Fung, Zong‐Liang Yang, and Roger A. Pielke. “Assessment of three  
dynamical climate downscaling methods using the Weather Research and Forecasting  
(WRF) model”. Journal of Geophysical Research: Atmospheres 113.D9 (2008).  
[9] LI Yungang, *HE Daming, YE Changqing: “Spatial and temporal variation of runoff of Red  
River Basin in Yunnan". Asian International Rivers Center, Yunnan University, Kunming  
650091, China.  
[10] Trinh, T., et al. (2016). “New methodology to develop future flood fre-quency under  
changing climate by means of physically based numericalatmospheric-hydrologic  
modeling”. J. Hydrol. Eng.,10.1061/(ASCE)HE.1943-5584.0001331, 04016001.  
[11] T. Trinh, et al.Reconstruction of historical inflows into and water supply from Shasta Dam  
by coupling physically based hydroclimate model with reservoir operation modelJ. Hydrol.  
Eng. (2016), p. 04016029  
[12] Yatagai, Akiyo, et al. “APHRODITE: Constructing a long-term daily gridded precipitation  
dataset for Asia based on a dense network of rain gauges”. Bulletin of the American  
Meteorological Society 93.9 (2012): 1401-1415.  
Ghi chú: Nội dung bài báo là kết quả nghiên cứu của đề tài cấp Quốc gia KC.08.05/16-20:  
“Nghiên cứu đánh giá xu thế diễn biến, tác động của hạn hán, xâm nhập mặn đối với phát triển  
kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Hồng - Thái Bình và đề xuất các giải pháp ứng phó” do  
Phòng TNTĐ Quốc gia về ĐLH Sông biển thực hiện năm 2016-2019.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 52 - 2019  
17  
pdf 17 trang yennguyen 17600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu diễn biến hạn hán trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình bằng bộ dữ liệu khí tượng, thủy văn khôi phục từ mô hình kết hợp WEHY-WRF", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_dien_bien_han_han_tren_luu_vuc_song_hong_thai_bin.pdf