Kiểm soát chặt chẽ những vấn đề môi trường của các dự án lấn biển

KIỂM SOÁT CHẶT CHẼ NHỮNG VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG  
CỦA CÁC DỰ ÁN LẤN BIỂN  
NGUYỄN SONG TÙNG  
Tóm tắt: Hoạt động lấn biển đã và đang diễn ra ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam,  
được xem là giải pháp phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh dân số gia tăng, các nguồn lực cho  
phát triển giảm, đặc biệt là quỹ đất ngày càng hạn hẹp. Tại Việt Nam, nhiều dự án lấn biển được thực  
hiện ở các tỉnh, thành phố ven biển. Lấn biển đã trở thành một hướng mở tích cực, hướng phát triển  
cần thiết cho tương lai. Tuy nhiên, hoạt động lấn biển cũng có nguy cơ tạo ra nhiều hệ lụy như: làm  
thay đổi điều kiện tự nhiên, địa hình, cảnh quan; thay đổi chế độ thủy động lực, thay đổi dòng chảy  
ven bờ; tác động đến hệ sinh thái, đa dạng sinh học và tài nguyên biển cũng như các vấn đề xã hội  
khác. Vì vậy, đảm bảo kiểm soát chặt chẽ những vấn đề môi trường là yêu cầu bắt buộc đối với các  
dự án lấn biển nhằm hướng tới sự phát triển bền vững.  
Từ khóa: lấn biến, môi trường biển, tài nguyên biển, đa dạng sinh học, ô nhiễm môi trường  
STRICT CONTROL REQUIREMENT FOR ENVIRONMENTAL PROBLEMS  
OF SEA ENCROACHMENT PROJECTS  
Abstract: Sea encroachment has taken place in many countries around the world as well as in Viet  
Nam, which is considered as a solution for socio-economic development in the context of increasing  
population and decreasing resources for development, especially land is increasingly limited. In Viet  
Nam, many sea encroachment projects have been implemented in the coastal provinces and cities.  
Sea encroachment has provided a positive and useful development direction for the future. However,  
sea reclamation activities can create risks and consequences as they change many factors in the natural  
topography and landscapes. The hydrodynamic regime and the shore current can be altered, impacting  
on ecosystems, biodiversity and marine resources as well as other social issues. Therefore, to ensure  
sustainable developments, strict control of environmental issues should be a mandatory requirement  
for sea encroachment projects.  
Keywords: encroachment, marine environment, marine resources, biodiversity, environmental  
pollution  
Tuy nhiên, hoạt động lấn biển nếu không được  
1. Đặt vấn đề  
quản lý, kiểm soát tốt sẽ có tác động rất lớn đến  
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, hoạt  
động lấn biển có xu hướng gia tăng, nhất là các  
dự án lấn biển cho phát triển đô thị, cảng biển,  
du lịch... Nhiều dự án lấn biển đạt hiệu quả cao  
về kinh tế, xã hội, đảm bảo an toàn môi trường.  
môi trường, hệ sinh thái cả trước mắt và lâu dài.  
Lấn biển có thể làm thay đổi điều kiện tự nhiên,  
địa hình, cảnh quan, chế độ thủy động lực học  
của khu vực, đe dọa sinh thái môi trường, suy  
giảm đa dạng sinh học. Điều này đặt ra yêu cầu  
11  
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021  
phải tăng cường quản lý và kiểm soát chặt chẽ  
tích 1650 km2; diện tích lấn biển tại vịnh Tokyo  
- Nhật Bản là 250 km2; Incheon - Hàn Quốc là  
220 km2; vịnh San Francisco - Mỹ là 150 km2;  
Mumbai - Ấn Độ là 148 km2; Singapore là 145  
km2; Macau lấn biển thêm 170% diện tích ban  
đầu (170 km2)... Theo kết quả của một số nghiên  
cứu, tính đến năm 2016, có 102 sân bay trên toàn  
thế giới được xây dựng trên mặt nước với một  
phần hoặc toàn phần là diện tích lấn biển [2].  
Có nhiều bài học kinh nghiệm của các dự án  
lấn biển trên thế giới mà Việt Nam có thể tham  
khảo.  
các dự án lấn biển.  
“Không đánh đổi môi trường lấy kinh tế, gây  
ảnh hưởng cuộc sống của người dân” - đó là chỉ  
đạo của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân  
Phúc tại Hội nghị môi trường toàn quốc (tháng  
8/2016). Do đó, cần phải xem xét kỹ lưỡng, có  
trách nhiệm đối với các đề xuất lấn biển ở bất cứ  
địa phương nào. Mọi hoạt động gây mất cân  
bằng sinh thái đều phải được tính toán, nếu  
không sẽ gây thiệt hại nặng về kinh tế, xã hội,  
môi trường. Đồng thời cần có sự nhìn nhận  
nghiêm túc trên cơ sở khoa học, đặc biệt trong  
bối cảnh biến đổi khí hậu, phòng chống thiên  
tai... các dự án lấn biển phải được xem xét thận  
trọng trên ba trụ cột cốt lõi là kinh tế, xã hội, môi  
trường để đảm bảo phát triển bền vững.  
Hà Lan là quốc gia có lịch sử lấn biển lâu đời  
nhất (từ thế kỷ 14) xuất phát từ thực tế có đến  
trên 1/3 diện tích lãnh thổ nằm dưới mực nước  
biển trung bình, 65% diện tích nằm dưới mực  
nước triều cao. Khoảng 21% dân số Hà Lan hiện  
đang sinh sống trong những vùng đất thấp hơn  
mực nước biển. Phần lớn diện tích đất ở Hà Lan  
hiện nay đều là vùng đất lấn biển [2, 7]. Lịch sử  
của Hà Lan từ bao thế kỷ vẫn gắn liền với lịch  
sử chống lại lũ lụt và bồi đất lấn biển. Người Hà  
Lan đã nỗ lực dành đất từ biển và cải tạo đất  
bằng cách xây dựng những tuyến đê nhằm ngăn  
nước biển và tạo nên những vùng đất cao ráo có  
thể sinh sống và trồng trọt [1].  
2. Cơ sở dữ liệu và phương pháp nghiên  
cứu  
Các dữ liệu được sử dụng trong bài viết bao  
gồm các công trình khoa học đã được công bố  
và các báo cáo của các tổ chức trong và ngoài  
nước có nội dung liên quan.  
Phương pháp chủ yếu được sử dụng là  
phương pháp tổng hợp và phân tích tư liệu. Trên  
cơ sở các tài liệu thu thập được, tác giả tiến hành  
tổng hợp, phân tích theo các vấn đề: (1) Kinh  
nghiệm quốc tế về bảo vệ môi trường của các dự  
án lấn biển; (2) Thực tiễn các dự án lấn biển tại  
Việt Nam và những tác động đến môi trường.  
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
Đê biển Afsluitdijk đóng vai trò quyết định  
trong quy hoạch tổng thể điều phối thuỷ văn,  
chống lụt, rửa mặn và tưới tiêu lớn nhất Hà Lan  
trong thế kỷ 20. Ngoài việc là một đê bảo vệ Hà  
Lan, Afsluitdijk còn là một đường cao tốc nối  
Den Oever thuộc tỉnh Noord Holland với Zurich  
thuộc tỉnh Friesland. Tuy nhiên, các công trình  
đê biển đã tạo ra nhiều vấn đề mới, như: địa mạo  
lòng sông và nhiều khu vực sau các công trình  
bị biến đổi nhiều; các thay đổi về chế độ thủy  
văn, về chất lượng nước và về địa mạo dẫn đến  
3.1. Kinh nghiệm bảo vệ môi trường của các  
dự án lấn biển trên thế giới  
Trên thế giới đã có nhiều quốc gia thực hiện  
lấn biển, tiêu biểu có thể kể đến như: vùng cửa  
sông Zuiderzee của Hà Lan đã lấn biển với diện  
12  
Nguyễn Song Tùng – Kiểm soá t chặt chẽ những vấn đề môi trường …  
những biến đổi sâu sắc về sinh vật; làm mất sinh  
cảnh của các loại cá, các loại chim biển bản địa...  
Để giải quyết tốt những vấn đề liên quan đến  
lấn biển, Hà Lan đã ban hành Luật Đê, đập và  
lấn biển từ năm 1904; Luật về an toàn đê đã  
được ban hành năm 1978; trước những thách  
thức của biến đổi khí hậu, Luật mới về an toàn  
đê đã được Nghị viện Hà Lan thông qua năm  
1996. Theo đó, mỗi con đê và giồng cát, đặc biệt  
ở ven biển, phải được khảo sát 5 năm một lần  
theo các tiêu chuẩn được Chính phủ ban hành để  
đánh giá khả năng xảy ra các tình huống: chảy  
tràn và/hoặc mực nước cao hơn đỉnh đê; trượt  
đất ở mái trong và mái ngoài của đê; xói mòn  
của lớp phủ thân đê (cỏ, asphalt hoặc khối  
basalt) có thể dẫn đến đê bị vỡ; có mạch rò rỉ  
nước dưới chân đê và xói mòn thân đê từ bên  
trong [9].  
hoạch, thu hẹp khu cảng dẫn tới gây tắc nghẽn  
giao thông biển, phá vỡ cảnh quan, ô nhiễm môi  
trường...  
Do vậy, Chính phủ Trung Quốc đã ban hành  
quy định về quản lý hoạt động lấn biển trong  
khuôn khổ quy định chung về quản lý hoạt động  
khai hoang, cải tạo đất vào năm 2011. Sau đó,  
tiếp tục ban hành Thông tri về các giải pháp thực  
hiện quy định này vào năm 2012 và đã được sửa  
đổi bổ sung vào năm 2019. Đặc biệt, Chính phủ  
Trung Quốc đã ban hành Thông tri về việc tăng  
cường bảo vệ các vùng đất ngập nước ven biển,  
kiểm soát chặt chẽ hoạt động lấn biển vào năm  
2018. Theo đó, Trung Quốc nhấn mạnh việc  
quản lý, kiểm soát chặt chẽ hơn nữa hoạt động  
lấn biển nhằm duy trì cân bằng sinh thái, các giá  
trị, dịch vụ hệ sinh thái vùng đất ngập nước ven  
biển, tổng điều tra, đánh giá các dự án lấn biển  
và có chế tài xử lý, kể cả biện pháp dừng/ hủy  
việc thực hiện các dự án lấn biển; giao trách  
nhiệm quản lý cho Bộ Tài nguyên [1].  
Trung Quốc đứng đầu trong danh sách lấn  
biển để mở rộng và phát triển cảng biển, với diện  
tích lấn biển vùng cửa sông Dương Tử thuộc  
Thượng Hải là 400 km2, cảng Thiên Tân thuộc  
vịnh Bột Hải với 365 km2 và Đường Sơn (thành  
phố công nghiệp ven biển cấp tỉnh thuộc Hồ  
Bắc) với 275 km2 [2]. Tuy nhiên, dự án lấn biển  
cũng gây ra một số tác động tiêu cực tới môi  
trường. Tại Trung Quốc, các nghiên cứu về  
trường hợp lấn biển ở Vịnh Lan Châu, sau 15  
năm (từ 1987 đến 2002) có 49,1% vùng đất ngập  
nước tự nhiên bị giảm và chỉ số đa dạng cảnh  
quan giảm từ 2065 xuống còn 1915; thành phố  
Triết Giang đã lấn biển 1828 km2 bãi triều đã  
làm cho tình trạng ngập lụt tăng lên 4 lần từ năm  
1950 đến 2003; từ năm 1995, thành phố Thiên  
Tân đã không còn bờ biển tự nhiên do lấn biển  
quá nhiều [2]. Ở cảng Victoria của Hồng Kông,  
các công trình lấn biển làm mất cân bằng về quy  
Hàn Quốc, từ sau thập niên 70, ngành công  
nghiệp lấn biển chính thức bắt đầu và trong hơn  
40 năm qua, trên 40% diện tích vùng đất ngập  
nước nước lợ đã bị san lấp [3]. Tháng 4/2010,  
Hàn Quốc khánh thành công trình đê biển lớn  
nhất thế giới có chiều dài 33 km ở Saemangeum,  
thuộc tỉnh Jeolla, phía bắc Hàn Quốc. Công trình  
này đã giúp Hàn Quốc có thêm 401 km2, tương  
đương với 2/3 diện tích thủ đô Seoul [7].  
Tuy nhiên, theo các tổ chức bảo vệ môi  
trường, các dự án lấn biển tại Hàn Quốc đã gây  
thiệt hại cho môi trường sinh thái, đặc biệt là các  
khu vực ngập nước rộng lớn với tính đa dạng  
sinh học rất cao. Vùng đất bùn lầy là nơi trú ẩn  
của hàng trăm ngàn loài chim, còn các đầm nước  
là nơi sinh sống của khoảng 160 loài cá, các loài  
13  
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021  
cua và tảo biển. Các loài động vật đang bị đe dọa  
dụng các vùng đất ngập nước và bãi bồi ven  
biển; các quốc đảo bị tác động lớn bởi biến đổi  
khí hậu như Tuvalu ban hành Luật Lấn biển và  
bãi bồi ven biển từ năm 1969; Bermuda ban  
hành Luật Lấn biển từ năm 1964; Nhật Bản ban  
hành Luật Lấn biển các vùng nước công...  
3.2. Hiện trạng các dự án lấn biển tại Việt  
Nam  
như chim Dẽ gà con, Ác là, Moòng biển  
Saunders, chim Choắt đốm... cũng sẽ mất đi một  
điểm dừng quan trọng trên tuyến đường di cư  
của mình. Bên cạnh đó, lượng bê tông khổng  
lồ dùng để xây dựng bờ sông cùng với 16 dự án  
đập nước trên 4 con sông này sẽ làm thay đổi  
dòng chảy và hủy diệt các loài thủy sinh trên các  
con sông [7].  
Việt Nam là nước có tính biển nhất trong số  
các nước Đông Nam Á (không kể các quốc gia  
quần đảo). Diện tích phần lãnh hải và vùng đặc  
quyền kinh tế trên biển khoảng 1.000.000 km2,  
gấp 3 lần diện tích trên đất liền. Bờ biển Việt  
Nam từ Móng Cái đến Hà Tiên dài 3.260 km  
(đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các  
quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới). Trong 63  
tỉnh, thành phố của cả nước thì 28 tỉnh, thành  
phố có biển và gần một nửa dân số sinh sống tại  
các tỉnh, thành ven biển [4].  
Do vậy, để đảm bảo giảm thiểu tối đa tác  
động của lấn biển, việc xây dựng các kế hoạch  
tổng thể để lấn biển được quy định như sau: Bộ  
trưởng Bộ Đại dương và Thủy sản lập quy hoạch  
tổng thể cải tạo vùng nước công cộng 10 năm  
một lần, đảm bảo phù hợp với Quy hoạch không  
gian biển và Quy hoạch quản lý đô thị. Kế hoạch  
lấn biển cho từng vùng đất được xác định trước  
và được lập trong thời hạn 5 năm. Trong đó, phải  
thể hiện chi tiết các nội dung như: vị trí và diện  
tích đất lấn biển được xác định trước; mục đích  
lấn biển và kế hoạch sử dụng đất; các vấn đề về  
sự cần thiết của việc lấn biển và cách thức lấn  
biển; những thay đổi trong môi trường và hệ sinh  
thái; các biện pháp đối phó (thiệt hại, thay đổi  
trên đất liền và đất ngập nước nội địa; thay đổi  
dòng nước biển hoặc dòng thủy triều, chuyển  
động của đất và đá; ô nhiễm đất do chôn lấp đất  
và đá); so sánh tính khả thi về kinh tế trước và  
sau khi lấn biển [12].  
Việt Nam với lợi thế có nhiều khu vực biển ven  
bờ nông, nhiều bãi bồi, rất thuận lợi cho hoạt động  
lấn biển. Vì vậy, trong những năm gần đây, có  
nhiều dự án lấn biển quy mô lớn đã và đang được  
thực hiện. Theo số liệu thống kê của Bộ Tài  
nguyên và Môi trường (năm 2020), cả nước có 71  
khu lấn biển tại 19 tỉnh thành ven biển [2], tiêu  
biểu như Dự án đầu tư xây dựng, kinh doanh cơ sở  
hạ tầng khu công nghiệp - cảng biển - phi thuế  
quan Nam Đình Vũ (Hải Phòng) rộng 1.329 ha;  
Khu đô thị du lịch Hùng Thắng (Bãi Cháy - Quảng  
Ninh) rộng 224 ha; Khu đô thị mới Hạ Long  
Marina (Hạ Long - Quảng Ninh) rộng 230 ha; Khu  
đô thị quốc tế Đa Phước (Đà Nẵng) rộng 210 ha;  
Khu đô thị sinh thái biển Phương Trang New  
Town (Đà Nẵng) rộng 117 ha; Khu đô thị mới  
Rạch Giá (Kiên Giang) rộng 420 ha; Dự án Saigon  
Sunbay (Cần Giờ, TP.HCM) rộng 2.870 ha [2].  
Ngoài các quốc gia kể trên, trước tình trạng  
các công trình, hoạt động lấn biển gia tăng gây  
ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hệ sinh thái và  
môi trường biển, nhiều quốc gia trên thế giới  
cũng đã ban hành nhiều chính sách nhằm giảm  
thiểu những tác động tiêu cực: Singapore ban  
hành Luật Đường bờ (Foreshor e Act) lần đầu  
tiên năm 1872 quy định về lấn biển và việc sử  
14  
Nguyễn Song Tùng – Kiểm soá t chặt chẽ những vấn đề môi trường …  
Nhiều dự án lấn biển phát triển đô thị đạt hiệu  
quả cao về kinh tế, xã hội, đảm bảo an toàn môi  
trường do quy hoạch được nghiên cứu kỹ, ranh  
giới lấn biển được xác định rõ (không ảnh hưởng  
tới các vùng cảnh quan liền kề), thực hiện quy  
hoạch nghiêm túc, hiệu quả. Việc lấn biển đã trở  
thành một hướng mở tích cực cho các đô thị, khu  
vực ven biển, khẳng định một hướng phát triển  
cần thiết cho tương lai. Đây không chỉ là giải  
pháp để mở rộng quỹ đất, phát triển kinh tế - xã  
hội mà còn là giải pháp để chủ động ứng phó với  
tình trạng xói lở bờ biển và nước biển dâng.  
Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, do chưa  
giải quyết tốt các yêu cầu về quy hoạch và đánh  
giá tác động môi trường nên một số dự án có  
hoạt động lấn biển đã gây tác động, ảnh hưởng  
đến cảnh quan, môi trường, hệ sinh thái, gây xói  
lở bờ biển; có dự án phải ngừng triển khai do  
chưa tính toán kỹ về kỹ thuật, ảnh hưởng đến  
phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều dự án vấp phải  
sự phản đối của dư luận, các tổ chức và các nhà  
khoa học. Ngoài ra, nhiều khu vực lấn biển ban  
đầu chưa được nghiên cứu đánh giá kỹ lưỡng  
hay quy hoạch để phù hợp với chế độ thủy văn,  
hải văn, động lực biển, đáp ứng yêu cầu khai  
thác, sử dụng bền vững các khu vực lấn biển và  
giảm thiểu tác động bất lợi đến môi trường [2].  
Ví dụ, sau cơn bão số 9 năm 2009 gây thiệt  
hại nặng nề cho tuyến đường Nguyễn Tất Thành  
dọc vịnh Đà Nẵng, đã có nhiều ý kiến cho rằng  
việc lấn vịnh làm khu đô thị quốc tế Đa Phước  
khiến thiệt hại thêm nặng nề. Đà Nẵng thừa nhận  
khi mở đường Nguyễn Tất Thành đã không lưu  
ý đến cửa sông Phú Lộc. Vị trí dòng chảy đổ ra  
vịnh Đà Nẵng không cố định, việc nắn dòng đổ  
ra cầu Phú Lộc nên hằng năm đều bị bồi lấp. Đến  
nay Đà Nẵng đang phải chi hàng trăm tỉ đồng để  
khắc phục hậu quả lấn biển của khu đô thị Đa  
Phước, The Sunrise Bay [13]. Tại Quảng Ninh,  
hiện có 43 dự án lấn biển với tổng số diện tích  
quy hoạch trên 7.600 ha, trong đó diện tích quy  
hoạch lấn biển khoảng trên 7.300 ha. Tại đảo  
Tuần Châu, vươn biển tới vài km, làm hẹp cửa  
ngõ Vịnh Hạ Long nối với tuyến đường biển ra  
vùng vịnh Cát Bà và Quảng Yên, ảnh hưởng tới  
dòng chảy của các con sông từ Cửa Lục đổ ra  
biển, gây bồi lắng và làm suy giảm chất lượng  
nước Vịnh Hạ Long. UNESCO cũng đã nhiều  
lần cảnh báo Vịnh Hạ Long trong việc bảo vệ di  
sản trước tác động của các dự án lấn biển [13].  
Do đó, hoạt động lấn biển cần phải được xem  
xét, đánh giá kỹ lưỡng về điều kiện tự nhiên, địa  
hình; mức độ, tốc độ xói lở, bồi tụ bờ biển; quá  
trình, yếu tố động lực vùng bờ, dòng chảy; xu  
thế biến đổi bờ biển, địa hình đáy biển khu vực  
lấn biển; các vấn đề về tài nguyên và môi  
trường; các tác động đến bờ biển, đến dân sinh,  
kinh tế, môi trường; giải pháp phòng, chống xói  
lở, bồi tụ bờ biển quanh khu vực lấn biển.  
3.3. Những tác động môi trường từ dự án  
lấn biển  
Ngoài các mặt về lợi ích, các dự án lấn biển  
đã gây ra những ảnh hưởng đến môi trường sinh  
thái, đất ngập nước, biến đổi dòng chảy ở các  
khu vực gần cửa sông, ven biển, đặc biệt trong  
bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay [5]. Có thể kể  
ra một số những tác động chính đến môi trường  
từ các dự án lấn biển như sau:  
1) Gia tăng sức ép đối với hệ sinh thái và đa  
dạng sinh học biển  
Khu vực lấn biển đều nằm trong vùng đất ngập  
nước ven biển. Đây là khu vực có mức độ đa dạng  
sinh học cao, có giá trị lớn đối với các hệ sinh thái  
biển nói chung (sinh cảnh của nhiều loài sinh vật  
15  
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021  
biển, điều hòa các quá trình tự nhiên và môi  
xây nhà máy nhiệt điện Duyên Hải thì cách đó  
500 m cũng bị sụt lún; hay ở An Giang có những  
khu phố bị sạt lở xuống sông do khai thác cát,  
khai thác nước ngầm [11].  
trường chuyển tiếp giữa biển và lục địa...).  
Dải ven biển là một địa hệ tự nhiên kỹ thuật  
mang tính đa dạng, nhạy cảm cao và luôn biến  
đổi. Theo số liệu thống kê, vùng biển ven bờ  
Việt Nam có 11.000 loài sinh vật cư trú trong  
hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình, thuộc về 6  
vùng đa dạng sinh học biển khác nhau [4]. Các  
hoạt động khai thác, sử dụng không hợp lý vùng  
bờ từ Bắc vào Nam, dẫn tới sự suy thoái các hệ  
sinh thái ngày càng nghiêm trọng. Đặc biệt,  
nhiều công trình lấn biển xây dựng khách sạn,  
khu nghỉ dưỡng, khu vui chơi giải trí… gây ảnh  
hưởng nghiêm trọng đến các hệ sinh thái và ô  
nhiễm môi trường biển.  
Việc lấn biển và tạo thành các khối bê tông  
chắn như vậy sẽ tạo thành các cơn sóng hình cầu  
xoáy kiểu hang ốc ngầm phía dưới mà con người  
không nhìn thấy được. Khi có các cơn sóng  
ngầm lâu ngày sẽ tạo ra những hàm ếch phía  
dưới và gây ra hiện tượng sụt lún ở vùng ven  
biển, thậm chí cả bên trong đất liền [11]. Bài học  
từ các dự án lấn biển ở Kiên Giang, Khánh Hòa,  
Quảng Ninh cho thấy, sau khi triển khai các dự  
án, các tỉnh này phải đối mặt với những vấn đề  
như sạt lở, hiện tượng nước biển đục... gây tác  
động lớn đến môi trường, cảnh quan. Vì vậy, khi  
triển khai các dự án lấn biển, cần đánh giá và  
thận trọng trước khi thực hiện, bởi hậu quả có  
thể chưa thấy ngay nhưng trong tương lai gần sẽ  
bị tác động rất lớn.  
Ngoài ra, sau khi dự án lấn biển đi vào hoạt  
động, các khu vực này thường được sử dụng cho  
các mục đích phát triển kinh tế xã hội, gia tăng  
dân số... từ đó phát sinh ngày càng nhiều chất  
thải gây ô nhiễm vào môi trường (nước thải, chất  
thải sinh hoạt đối với các khu dân cư, đô thị, đặc  
biệt là chất thải nhựa ra đại dương; nước thải,  
chất thải rắn, khí thải đối với các hoạt động phát  
triển công nghiệp, cảng biển). Vì vậy, nếu không  
được tính toán và quy hoạch phù hợp thì đây sẽ  
là sức ép với môi trường vốn đã quá tải.  
3) Những hệ lụy môi trường do khai thác và  
sử dụng vật liệu cho lấn biển  
Hoạt động lấn biển phải dùng một lượng lớn  
nguyên vật liệu và những vật liệu lấn biển này  
làm thay đổi chất lượng môi trường nước, môi  
trường trầm tích khu vực lấn biển.  
2) Làm thay đổi chế độ thủy động lực học môi  
trường cửa sông, ven biển  
Việc sử dụng các loại vật liệu cho việc thi  
công lấn biển cũng cần phải được tính toán, xem  
xét cẩn trọng. Ví dụ như UAE cần tới 92 triệu  
m3 cát để xây dựng khu lấn biển Palm Jumeirah,  
trong đó chủ yếu là hút từ vùng biển lân cận lên.  
Công trình đã phá vỡ dòng chảy tự nhiên ngoài  
khơi, khiến cát bị cuốn khỏi một số khu vực của  
bãi biển tự nhiên đi nơi khác. Do vậy, các dự án  
lấn biển của Việt Nam cần phải có giải pháp để  
lấy nguyên liệu lấn biển rẻ, sẵn có và hiệu quả.  
Hầu hết hoạt động lấn biển làm thay đổi hệ  
thống dòng chảy ven bờ ở quy mô vừa và như  
vậy sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi vật  
chất giữa khu vực lấn biển với các khu vực lân  
cận. Các hệ thống động lực khác như sóng do  
gió, dòng triều, mực nước cũng bị thay đổi theo.  
Ở một số khu vực, ảnh hưởng của việc lấn  
biển đến khả năng thoát lũ, tình trạng xói lở, sạt  
lở bờ diễn biến phức tạp. Ví dụ, ở Trà Vinh khi  
16  
Nguyễn Song Tùng – Kiểm soá t chặt chẽ những vấn đề môi trường …  
Dự án lấn biển tại Quảng Ninh, chủ đầu tư đã  
có kinh nghiệm từ việc sử dụng xỉ than khi lấn  
biển ở Cẩm Phả. Việc dùng loại nguyên liệu này  
không chỉ giải quyết được vấn đề xử lý xỉ than  
tại chỗ mà còn tận dụng được nguồn nguyên liệu  
giá rẻ, sẵn có của địa phương [6, 7].  
m [14]. Tuy nhiên, theo phân tích, với khối lượng  
hơn 2 triệu m3, khi các tàu xả vật chất từ mặt biển  
xuống độ sâu hơn 50 m, quá trình rơi trong nước  
biển, với dao động của sóng, tác động của dòng  
hải lưu và nước từ cửa sông Trà Bồng đổ ra, gần  
như toàn bộ bùn sét sẽ hòa tan trong nước biển  
(giả sử chỉ ở tỷ lệ 5% trong nước, sẽ là 40 triệu  
m3 nước biển bị vẩn đục, ô nhiễm). Như vậy,  
không chỉ vùng biển Bình Sơn, mà cả Lý Sơn, rồi  
tiếp đó là các vùng biển phía nam Bình Sơn sẽ bị  
ô nhiễm, ảnh hưởng đến việc đánh bắt, nuôi trồng  
thủy hải sản ven bờ không chỉ Quảng Ngãi, mà  
cả Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa cũng có thể  
bị ảnh hưởng [14].  
Dự án lấn biển khu đô thị du lịch biển Cần  
Giờ được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt  
(tháng 6/2020) với diện tích trên 2.870 ha (trong  
đó lấn biển 2.712 ha). Theo tính toán, dự án cần  
tới 134 triệu m3 cát; để giải quyết bài toán này,  
chủ đầu tư mời các nhà khoa học, cơ quan có  
liên quan để nghiên cứu, đưa ra đề xuất lấy vật  
liệu tại chỗ, bằng việc xây dựng một biển hồ lớn  
(nhân tạo) rộng khoảng 757 ha thuộc dự án. Qua  
thăm dò địa chất, nếu khai thác vật liệu tại chỗ  
(trong lòng hồ), thì tổng khối lượng cát khai thác  
dự kiến đáp ứng được phần lớn khối lượng cát  
cho san lấp [3].  
Trước đó, năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi  
trường đã cấp phép cho Công ty TNHH Điện lực  
Vĩnh Tân 1 nhận chìm gần một triệu mét khối  
bùn, cát, vỏ sò, sạn sỏi ra vùng biển thuộc xã  
Vĩnh Tân (Tuy Phong, Bình Thuận). Tuy nhiên,  
theo khuyến cáo của các nhà khoa học và tổ chức  
liên quan, hoạt động này có thể gây ra những tác  
động tiêu cực đến môi trường, hệ sinh thái biển  
[2]. Sau đó, để đảm bảo an toàn, phương án sử  
dụng vật chất nạo vét của Công ty để san lấp mặt  
bằng cho dự án Cảng tổng hợp Vĩnh Tân.  
Phương án này sẽ đảm bảo tiến độ cho phát điện,  
đáp ứng yêu cầu về an ninh năng lượng cho các  
tỉnh phía Nam, cũng như tránh các tranh chấp  
pháp lý có thể phát sinh. Ngoài ra, phương án  
trên còn đảm bảo về môi trường do khu vực dự  
kiến lấn biển (cảng tổng hợp Vĩnh Tân) đã được  
thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác  
động môi trường; xây kè kiên cố có thể tiếp nhận  
ngay một triệu mét khối vật chất nạo vét [11].  
Như vậy, hoạt động lấn biển có thể sử dụng  
hiệu quả các vật chất nạo vét để phục vụ san lấp  
mặt bằng, giảm thiểu chi phí và giảm tác động  
4) Vấn đề xử lý vật liệu nạo vét từ công trình  
lấn biển  
Trong quá trình lấn biển tại một số loại hình  
dự án cụ thể như xây dựng cảng biển, khu đô thị,  
xây kè chắn sóng, đê bao quanh diện tích lấn  
biển thì việc nạo vét, xử lý bùn, cát, trầm tích  
cũng như việc lựa chọn loại vật liệu để san lấp  
là những vấn đề cần được quản lý.  
Năm 2019, Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp  
phép cho Công ty cổ phần Thép Hòa Phát Dung  
Quất được nhận chìm vật chất nạo vét cảng  
chuyên dùng Hòa Phát - Dung Quất, khối lượng  
vật chất được nạo vét tại cảng gần 15,4 triệu m3,  
bao gồm 86,4% cát nhiễm mặn, 13,6% bùn sét  
(hơn 2 triệu mét khối); địa điểm khu vực nhận  
chìm rộng 180 ha thuộc vùng biển Dung Quất  
(tỉnh Quảng Ngãi); vật chất được tàu hút bụng xả  
đáy tự hành thả từ mặt biển xuống độ sâu hơn 50  
17  
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021  
đến môi trường, hệ sinh thái biển so với lựa chọn  
2) Chú trọng vấn đề thủy động lực học, bảo  
vệ cảnh quan, môi trường và hệ sinh thái biển  
Trong bất cứ hoàn cảnh hay điều kiện cụ thể  
nào cũng cần phải đặc biệt quan tâm khi phát  
triển các dự án lấn biển, cần lưu ý những tác  
động đến cảnh quan, môi trường sinh thái, đất  
ngập nước, biến đổi dòng chảy ở các khu vực  
gần cửa sông, đời sống của người dân ven biển,  
nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày  
càng hiện hữu rõ nét tại Việt Nam.  
phương án nhận chìm ở biển. Tuy nhiên, vấn đề  
nạo vét trong hoạt động lấn biển và phương án  
xử lý vật chất nạo vét này có đặc thù khác với  
các dự án nạo vét, duy tu luồng hàng hải cả về  
khối lượng, thời gian và phương án lựa chọn để  
xử lý vật chất nạo vét cũng như các yêu cầu kỹ  
thuật nếu vật chất nạo vét được sử dụng làm vật  
liệu san lấp tại khu vực lấn biển. Hiện nay, các  
quy định riêng, đặc biệt là các quy định mang  
tính kỹ thuật cho vấn đề này chưa có.  
Bên cạnh đó, cần kiểm kê, thống kê hiện  
trạng tài nguyên môi trường vùng ven bờ, hải  
đảo, lập các bản đồ về sinh vật và các hệ sinh  
thái ven bờ; dự báo biến động môi trường biển  
trong bối cảnh dài hạn có tính đến tác động của  
các kịch bản lấn biển.  
4. Kết luận và khuyến nghị  
Nhu cầu phát triển các dự án lấn biển tại một  
số địa phương là tất yếu. Do vậy, cần thống nhất  
quan điểm lấn biển để phát triển đô thị và các dự  
án du lịch tại Việt Nam là nhu cầu có thật, do  
quỹ đất tại một số đô thị biển hạn chế, hoặc do  
phải dành quỹ đất để đảm bảo an ninh lương  
thực, an ninh quốc phòng...  
Riêng các tỉnh, thành phố ven biển, cần sớm  
ban hành quy hoạch vùng bờ, hành lang biển,  
chương trình quản lý tổng hợp vùng bờ, đồng  
thời huy động xã hội hóa công tác bảo vệ môi  
trường và phục hồi hệ sinh thái ven bờ của các  
cá nhân, tổ chức xã hội liên quan.  
Tuy nhiên, trong bối cảnh biến đổi khí hậu,  
phòng chống thiên tai, dịch bệnh... nhiều bài học  
kinh nghiệm trên thế giới và thực tế thực hiện  
lấn biển tại Việt Nam cho thấy cần thận trọng,  
đánh giá kỹ các tác động đến tự nhiên và môi  
trường để có giải pháp phát triển các dự án lấn  
biển hiệu quả, hợp lý; cụ thể:  
3) Thông tin dự án cần công khai, minh bạch  
Các thông tin về dự án phải được công khai,  
minh bạch, phải được thanh kiểm tra thường  
xuyên, có sự giám sát của cộng đồng theo quy  
định của pháp luật. Đây cũng là bài học kinh  
nghiệm để các nhà hoạch định chính sách, nhà  
quy hoạch, kiến trúc, các chủ đầu tư nghiên cứu,  
xem xét trong quá trình phát triển các dự án lấn  
biển tại mỗi địa phương.  
1) Mỗi dự án lấn biển đều cần phải tính toán  
kỹ lưỡng đến sự thành công về kinh tế, xã hội,  
bảo vệ môi trường  
Quan tâm đến sự hài hòa về lợi ích giữa địa  
phương, nhà đầu tư và người dân. Các yêu cầu  
bắt buộc đối với các dự án lấn biển là xác định  
nhu cầu, sự cần thiết phải lấn biển.  
4) Hoàn thiện chính sách pháp luật quy định  
về hoạt động lấn biển  
Khi quy hoạch phải khảo sát địa hình, nghiên  
cứu dòng chảy, tác động môi trường, kinh tế, xã  
hội (đánh giá tác động môi trường) của dự án lấn  
biển và phải được sự đồng thuận của người dân...  
Nhà nước cần xây dựng các chính sách quy  
định về hoạt động, công trình lấn biển phục vụ  
phát triển kinh tế, có tính đến quy hoạch khai  
thác sử dụng đất, mặt nước và các tài nguyên  
18  
Nguyễn Song Tùng – Kiểm soá t chặt chẽ những vấn đề môi trường …  
vùng bờ Việt Nam, quy hoạch môi trường và đa  
dạng sinh học; xây dựng các văn bản quy phạm  
pháp luật phù hợp theo Luật Biển Việt Nam;  
Luật Tài nguyên, môi trường biển, hải đảo; Luật  
Bảo vệ môi trường; Luật Di sản; Luật Tài  
nguyên nước; Luật Đa dạng sinh học; Luật Thủy  
sản và các văn bản khác về chính sách môi  
trường, kinh tế xanh và phát triển bền vững.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2020), Đánh giá sơ bộ một số nội dung đề nghị xâ y dựng Nghị định quy định về lấn  
biển, Dự thảo Bá o cá o chí nh sá ch, 2020.  
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2020), Đánh giá thực trạng cá c vấn đề liên quan đến đề nghị xâ y dựng Nghị định quy  
định về lấn biển, Dự thảo Bá o cá o chí nh sá ch, 2020.  
3. Cô ng ty Cổ phần Du lịch Cần Giờ (2020), Báo cáo đánh giá tác động môi trường dự á n khu du lịch lấn biển Cần Giờ  
Sunbay.  
4. Dư Văn Toán (2017), Hoạt động lấn biển và những tác động môi trường sinh thá i ven bờ, Bản tin chí nh sá ch, Trung  
tâ m Pan Nature, số 25/2017.  
5. Hà Thanh Biên (2017), Phá t triển kinh tế biển bền vững: Tiềm năng, thách thức và định hướng, Bản tin chí nh sá ch,  
Trung tâ m Pan Nature, số 25/2017.  
6. Hà Văn Hòa (2015), Quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường biển ven bờ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Luận á n tiến  
sỹ, Học viện Hành chí nh quốc gia, 2015.  
7. Hoàng Nhất Thống, Phùng Thị Phong Lan (2016), Đổi mới tư duy quản lý nhà nước về biển và hải đảo trong bối cảnh  
hiện nay, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Quản lý nhà nước về biển và hải đảo: vấn đề và cá ch tiếp cận”, Học viện Hành  
chí nh Quốc gia - Viện Kinh tế Việt Nam (Viện Hàn lâ m Khoa học Xã hội Việt Nam) - Viện Nghiên cứu cô ng nghệ vùng  
Flander (Vương quốc Bỉ), Hà Nội - 2016.  
8. Phạm Văn Hiếu (2020), Đẹp giàu nhà lấn biển - kinh nghiệm trên thế giới và bài học cho Việt Nam. Báo Quân đội  
nhâ n dâ n, thá ng 7/2020.  
9. Trương Thanh (2018), Bài học kinh nghiệm quy hoạch từ Hà Lan. Tạp chí Kiến trúc cảnh quan, số 07/2018.  
10. Tập đoàn điện lực Việt Nam (2015), Báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự á n Nhà má y nhiệt điện Vĩnh Tân 4.  
11. Vũ Ngọc Long (2019), Dự á n lấn biển Vũng Tàu có nguy cơ hủy hoại môi trường. Thời bá o Kinh tế Sài Gò n, số  
10/2019.  
12. Kim In Hwan (2021), Kinh nghiệm quản lý cá c dự á n lấn biển của Hàn Quốc, tham luận Hội thảo “Chia sẻ kinh nghiệm  
quốc tế trong quản lý hoạt động lấn biển”. Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2021.  
13. Lưu Vân (2018), Hiểm họa lớn từ cá c dự á n lấn biển, Diễn đàn Doanh nghiệp, 2018.  
14. Thanh Tùng, Hoài Thương (2019), Tì m giải phá p tối ưu thay thế nhận chì m nạo vé t, Báo Nhân dân điện tử, 2019.  
Thô ng tin tá c giả:  
Nhật ký tò a soạn  
Nguyễn Song Tùng – Viện Địa lí nhân văn  
Ngày nhận bài: 04/4/2021  
Biên tập: 5/2021  
Địa chỉ: Số 1 Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội  
Email: [email protected] - Điện thoại: +84.912.176.039  
19  
pdf 9 trang yennguyen 16580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kiểm soát chặt chẽ những vấn đề môi trường của các dự án lấn biển", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkiem_soat_chat_che_nhung_van_de_moi_truong_cua_cac_du_an_lan.pdf