Khóa luận Xây dựng và đánh giá sinh trưởng vườn giống gốc cây Đẳng sâm nam (Codonopsis javanica (Blume) Hook.f. & Thomson) tại tỉnh Hà Giang

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
MA HỒNG XUYẾN  
XÂY DỰNG VÀ ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG VƯỜN GIỐNG GỐC CÂY  
ĐẲNG SÂM NAM (Codonopsis javanica (Blume) Hook.f. & Thomson)  
TẠI TỈNH HÀ GIANG  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính qui  
: Quản lý tài nguyên rừng  
: 47 QLTNR  
Khoa  
: Lâm nghiệp  
Khóa học  
: 2015 - 2019  
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS. Trần Thị Thu Hà  
THÁI NGUYÊN - 2019  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân  
tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn  
toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn  
toàn trách nhiệm!  
Thái Nguyên,ngày tháng năm 2019  
NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN  
XÁC NHẬN CỦA GVHD  
Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước hội  
đồng khoa học!  
PGS.TS Trần Thị Thu Hà  
Ma Hồng Xuyến  
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN  
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên  
đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu!  
(Ký, họ và tên)  
 
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Mục tiêu của Khoa Lâm Nghiệp - Trường Đại học Nông lâm Thái  
Nguyên là đào tạo được những kỹ sư không chỉ nắm vững lý thuyết mà còn  
phải thành thạo thực hành. Bởi vậy, thực tập tốt nghiệp là giai đoạn không thể  
thiếu để mỗi sinh viên có thể vận dụng được những gì mình đã học và làm  
quen với thực tiễn, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ và tích lũy những kinh  
nghiệm cần thiết sau này.  
Để đạt được mục tiêu đó, được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Lâm  
Nghiệp - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên tôi tiến hành thực tập tốt  
nghiệp với đề tài: “Xây dựng và đánh giá sinh trưởng vườn giống gốc cây  
Đẳng sâm nam (Codonopsis javanica (Blume) Hook.f. & Thomson) tại  
tỉnh Hà Giang”  
Để hoàn thành khóa luận này tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của  
cán bộ công nhân viên Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm Nghiệp, Công ty  
Cổ phần phát triển nông lâm nghiệp và môi trường, đặc biệt là sự hướng dẫn  
chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn: PGS.TS TRẦN THỊ THU HÀ đã  
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm đề tài.  
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trong khoa  
Lâm Nghiệp, Gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn bỡ  
ngỡ ban đầu trong quá trình hoàn thành khóa luận này.  
Trong quá trình thực tập và trình bày khóa luận tốt nghiệp không thể  
tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế, do vậy tôi rất mong nhận được sự giúp  
đỡ, góp ꢀ và nhận xꢁt chân thành của quꢀ thầy cô giáo và toàn thể các bạn  
đồng nghiệp để khóa luận tốt nghiệp của tôi được hoàn thành hơn.  
Tôi xin chân thành cảm ơn!  
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2019  
Sinh viên thực tập  
Ma Hồng Xuyến  
 
v
DANH MꢀC CÁC Tꢁ VIẾT TꢂT  
KT – XH  
QCVN  
: Kinh tế – Xã hội  
: Quy chuꢂn Việt Nam  
 
vi  
MꢀC LꢀC  
 
vii  
1
Phần 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi có một hệ sinh thái phong phú đa  
dạng trong đó không thể không nói đến nguồn lâm sản ngoài gỗ, lâm sản  
ngoài gỗ từ xưa đến nay giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống hàng ngày  
của người dân từ trung du đến vùng núi. Hiện nay nguồn lâm sản ngoài gỗ có  
giá trị cao đó là nguồn sống của một số hộ gia đình sống ở rừng và phụ thuộc  
chủ yếu vào rừng, ở các nước nghèo, nước đang phát triển cũng phụ thuộc  
vào nguồn lâm sản ngoài gỗ này để tiêu dùng và là nguồn thu nhập của người  
dân. Và trong nhóm lâm sản ngoài gỗ thì nhóm cây dược liệu cũng đang được  
người dân đặc biệt quan tâm. Hiện nay nhu cầu sử dụng cây dược liệu để sản  
xuất thuốc trong nước và thế giới ngày càng tăng dần dẫn đến việc khai thác  
nguồn dược liệu này càng lớn, nhiều loại cây thuốc đang đứng trước nguy cơ  
cạn diệt như : Ba kích , Bình vôi, Thanh khiên quỳ, Hoàng tinh trắng , Hoàng  
đằng , Thất diệp nhất chi hoa, Đẳng sâm nam, …  
Ðẳng sâm nam (Codonopsis javanica (Blume) Hook.f. & Thomson)  
hay có các tên gọi là Sâm leo, Phòng Đẳng sâm, Đùi gà, Mằn rày cáy (Tày),  
Cang hô (H’Mông), Ðảng sâm mọc ở trong các chỗ trống, thường ở ven các  
rừng thứ sinh, rú bụi, có khi trong các trảng savan có ở độ cao 900-2.200m,  
thuộc các tỉnh từ Sơn La, Lai Châu, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hoà  
Bình vào các tỉnh Tây Nguyên. Kontum, Lâm Ðồng (vùng Ðà Lạt).  
Các nhà khoa học đã chứng minh được công dụng thần kỳ cả cây Đẳng  
sâm nam đối với sức khỏe của con người và nó đã trở thành cây thuốc quꢀ có  
giá trị cao. Theo Chen et al., (2013) [12], củ Đẳng sâm có các chất như  
polysaccharides, phenylpropanoids, alkaloids and triterpenoids. Củ Đẳng sâm  
     
2
được sử dụng để cải thiện chức năng tiêu hóa, tăng miễn dịch, tăng lực, cân  
bằng áp huyết.  
Theo báo cáo của hầu hết của các tỉnh ở vùng núi phía Bắc, việc bảo  
tồn và phát triển các loài cây dược liệu tại địa phương còn nhiều hạn chế từ  
giống cho đến trồng và thu hoạch. Giống sử dụng không rõ nguồn gốc, giống  
tạp, chất lượng chưa cao, nhân giống bằng phương pháp truyền thống nên  
giống không được đảm bảo cả số lượng và chất lượng. Trên thế giới, ứng  
dụng nhân giống bằng công nghệ sinh học trong nhân giống đảm bảo cây  
giống tạo ra chất lượng cao, sạch bệnh, đồng nhất thích hợp để sản xuất đại  
trà, quy mô công nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa. Ở nước ta, công nghệ  
sinh học cũng được ứng dụng để nhân giống thành công nhiều loài cây dược  
liệu tại các cơ sở nghiên cứu viện, trường, trung tâm như đề cập trong phần  
tổng quan tình hình nghiên cứu ở trên.  
Chính vì vậy, việc xây dựng mô hình vườn giống gốc cho cây Đẳng  
sâm nam là cần thiết nhằm cung cấp nguồn vật liệu nhân giống cho cây Đẳng  
sâm nam tốt nhất cả về sinh trưởng, phát triển và hàm lượng dược liệu. Từ đó  
chúng tôi thực hiện đề tài “Xây dựng và đánh giá sinh trưởng vườn giống  
gốc cây Đẳng sâm nam Codonopsis javanica (Blume) Hook.f. & Thomson  
tại tỉnh Hà Giang” làm cơ sở cho công tác bảo tồn, phát triển và nhân giống  
loài cây Đẳng sâm nam Codonopsis javanica (Blume) Hook.f. & Thomson  
của tỉnh Hà Giang.  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
- Xây dựng được vườn giống gốc Đẳng sâm nam nhằm cung cấp nguồn  
nguyên liệu nhân giống đã qua tuyển chọn, chất lượng dược liệu tốt, sinh  
trưởng và phát triển mạnh, khả năng chống chịu được sâu bệnh tốt.  
- Xây dựng được vườn giống gốc cây Đẳng sâm nam diện tích 2.000 m2  
 
3
- Đánh giá được tình hình sinh trưởng, sâu bệnh hại cây mẹ Đẳng sâm  
nam tại vườn giống gốc.  
1.3. Ý nghĩa của đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa khoa học  
- Kết quả nghiên cứu cung cấp tài liệu học tập và nghiên cứu cho các  
sinh viên, nhà khoa học trên đối tượng cây Đẳng sâm nam, góp phần duy trì,  
bảo tồn và phát triển loài này tại tỉnh Hà Giang và các tỉnh khác.  
- Giúp sinh viên củng cố và hệ thống lại các kiến thức đã học và bổ  
sung vào kiến thức lý thuyết được học thông qua hoạt động thực tiễn.  
- Giúp bản thân sinh viên học hỏi kiến thức, tích lũy được kinh  
nghiệm thực tế cũng như tác phong làm việc, nghiên cứu khoa học phục  
vụ cho công tác sau này.  
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn  
- Nhu cầu sử dụng các loại dược liệu để chữa bệnh, nâng cao sức khỏe  
hiện nay ngày càng tăng. Quỹ đất trồng và nguồn lao động miền núi rất lớn,  
đây là cơ hội để người dân miền núi gây trồng sản xuất cây Đẳng sâm nam  
làm cơ sở cho việc hình thành vùng sản xuất, góp phần phát triển rừng, phát  
triển vùng cây dược liệu theo hướng hàng hóa, cải thiện và phát triển kinh tế  
hộ gia đình.  
- Từ kết quả nghiên cứu của đề tài nhận biết được loài Đẳng sâm nam.  
Đồng thời bước đầu xây dựng được hướng dẫn kỹ thuật nhân giống thích hợp,  
góp phần nhân nhanh Đẳng Sâm, đáp ứng nhu cầu về dược liệu mà thực tiễn  
đặt ra.  
- Đề tài góp phần bổ sung nguồn tư liệu về đa dạng sinh học thực vật,  
nguồn gen cây Đẳng Sâm ở nước ta.  
     
4
Phần 2  
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CꢃU  
2.1. Giới thiệu chung cây Đẳng sâm nam  
Tên Khoa học: Codonopsis javanica (Blume) Hook.f. & Thomson,  
thuộc họ Hoa Chuông (Campanulaceae).  
Giới Thực vật (Plantae)  
Phân giới Thực vật xanh (Viridaeplantae)  
Ngành Hạt kín (Magnoliophyta)  
Lớp Thực vật hai lá mầm (Magnoliopsida)  
Bộ Cúc (Asterales)  
Họ Hoa Chuông (Campanulaceae)  
Chi Đẳng sâm (Codonopsis)  
Loài C. Javanica  
Hình 2.1. Cây Đẳng sâm nam  
Đặc điểm thực vật: Cây thảo sống nhiều năm, thân leo, phân nhánh  
nhiều, rễ phình thành củ hình trụ dài, phía dưới phân nhánh, màu vàng nhạt.  
Thân và củ có mủ trắng. Lá đơn, mọc đối, hình bầu dục, mềm, mỏng, màu  
xanh lá mạ, mặt dưới có lông nhung trắng, mꢁp lá có răng cưa tù; cuống lá dài  
3,5-7,0cm. Hoa hình chuông mọc đơn độc ở nách lá, đài có 5 thuỳ, gốc hơi  
dính, tràng hoa màu xanh lá mạ, đỉnh có 5 thuỳ. Quả nang có 5 cạnh, khi chín  
       
5
màu tím mang đài hoa tồn tại. Hạt tròn nhỏ, màu nâu. Mùa hoa quả tháng 12-  
1 (Đỗ Tất Lợi, 2001)[9].  
Đặc điểm sinh thái: Ở nước ta, Ðẳng sâm nam mọc ở trong các chỗ  
trống, thường ở ven các rừng thứ sinh, rú bụi, có khi trong các trảng savan có  
ở độ cao 600-2.200m, thuộc các tỉnh từ Sơn La, Lai Châu, Điện Biện, Lào  
Cai, Yên Bái, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hoà  
Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Kontum, Lâm Ðồng, Quảng Nam.  
Cây trồng sau 3 năm cho thu hoạch (Sách đỏ Việt Nam (2007)[1]. Loài này  
thường sống ở đất màu mỡ nhiều mùn, cao ráo, thoát nước. Nhiệt độ thích  
hợp là 18-25oC, có thể chịu được nhiệt độ trên 30oC nhưng không kꢁo dài. Về  
mùa đông nhiệt độ thấp cây vẫn sống được. Lượng mưa trung bình 1.200-  
1.500 mm (Nguyễn Văn Lan, 1965; Phạm Thanh Huyền, 2016)[7;5].  
Thành phần hóa học và tác dụng dược lý: Thành phần hóa học của  
Đẳng sâm nam có chứa saponin 3.12%, hàm lượng đường khử 14.6% đối với  
các mẫu sống và 29.5% đối với các mẫu đã qua chế biến. Ðẳng sâm nam có vị  
ngọt, tính bình; có tác dụng bổ tỳ vị, ích khí, sinh tân dịch, giải khát. Lá Ðẳng  
sâm nam non chứa nước 77,5%, protid 4,2%, glucid 13,1%, xơ 3,3%, caroten  
3,6mg%, vitamin C 85,5mg%. Sơ bộ thấy trong rễ cây có đường, chất béo;  
không có saponin. Còn có tinh dầu, glucosid sentellarin và vết alcaloid. Quả  
Ðẳng sâm nam ăn được, rễ củ có thể ăn sống. Ngọn và lá non có thể dùng xào  
hay nấu canh ăn. Củ thường được dùng làm thuốc như Ðẳng sâm nam Trung  
Quốc để chữa cơ thể suy nhược, mỏi mệt ăn không ngon, đại tiện lỏng, phế  
hư, phiền khát, thiếu máu, vàng da, bệnh bạch huyết, viêm thượng thận, nước  
tiểu có albumin, chân phù đau. Còn dùng làm thuốc bổ dạ dày, chữa ho, tiêu  
đờm, lợi tiểu (Hoàng Minh Chung và cs, 2002) [2].  
Tình hình thị trường: Cây Đẳng sâm nam đang được trồng với quy mô  
lớn tại Lâm Đồng, Kon Tum, nơi có điều kiện tự nhiên thích hợp. Cây Đẳng  
6
sâm nam cây sau gần 3 tuổi cho năng suất khoảng 2,5 tạ/ha với giá trên thị  
trường tùy từng loại mà có giá từ 300.000 - 1.000.000 đồng/kg. Năm 2008,  
Đẳng sâm nam là một trong trong 5 vị thuốc trong y học cổ truyền được sử  
dụng nhiều nhất khoảng 912 kg; năm 2009 khối lượng Đẳng sâm nam được sử  
dụng là khoảng 1.031 kg; năm 2010 sử dụng Đẳng sâm nam là 1080 kg; năm  
2011 sử dụng Đẳng sâm nam là 1.109 kg (Phạm Thanh Huyền, 2016) [5].  
2.2. Tình hình nghiên cứu cây Đẳng sâm nam trên thế giới và trong nước  
2.2.1. Tꢀnh hꢀnh nghiên cꢁu cây Đẳng sâm nam trên thꢂ giꢃi  
Các nghiên cứu ngoài nước chủ yếu được thực hiện trên các loài họ  
hàng của cây Đẳng sâm Việt Nam. Do điều kiện khoa học tiến bộ nên các  
khía cạnh nghiên cứu cũng rất đa dạng.  
Slupki và đtg (2011) [15] đã công bố về quá trình vi nhân giống cây  
Codonopsis pilosula. Nhóm nghiên cứu đã tìm ra môi trường tối ưu cho sự  
phát sinh chồi từ chồi nách là 0,1 mg/l BAP kết hợp với 0,1 mg/l NAA số  
lượng chồi có thể thu được lên tới 69 chồi/ nách. Tỉ lệ cây tạo rễ invitro là  
98% trong môi trường MS bổ sung 0,5 mg/l IAA.  
Peng Jin Huan và đtg (2013) [13] đã công bố qui trình tạo mô sẹo từ lá là  
tốt nhất trong các nguồn nguyên liệu đoạn thân, hạt ở Codonopsis lanceolata.  
Slupski et al., (2011) [15] đã thiết lập được quy trình vi nhân giống Đảng  
sâm Nam bằng nhân chồi bên. Môi trường MS chứa 1 hoặc 4 μM BA và 1μM  
NAA cho hiệu quả nhân chồi cao nhất từ đoạn nuôi cấy ban đầu. Chồi ra rễ  
đạt cao nhất >98% trong môi trường có MS chứa sucrose (60 g/L) và 5 μM  
IAA, tỷ lệ cây sống sau khi chuyển ra nhà ươm đạt 90%.  
Zhang et al., (2011) [16] đã nhân giống nuôi cấy mô Đảng sâm Nam  
bằng tạo cụm chồi và tái sinh cây. Môi trường MS bổ sung BAP (1.0 mg/l),  
NAA (0.5 mg/l), Tỷ lệ chồi ra rễ đạt 100%.  
   
7
BI Hong-yan et al., (2012) [11] đã khảo sát hàm lượng polysaccharid từ  
các tỉnh khác nhau tại Trung Quốc, dao động từ 19.27% đến 40.92%. Họ đã  
chọn lọc được nguồn gen Đẳng sâm Nam cho hàm lượng polysaccharide cao,  
phục vụ chọn giống mới.  
Yuwu et al., (2012) [12] đã nghiên cứu cơ sở trồng Đảng sâm Nam theo  
tiêu chí GAP và đánh giá chất lượng dược liệu bằng hàm lượng Lobetyolin.  
Hàm lượng lobetyolin dao động trong 10 lô thí nghiệm là 0.07% to 0.18%.  
He et al., (2015) [14] đã nghiên cứu phương pháp tiêu chuꢂn kiểm tra  
nảy mầm hạt Đẳng sâm. Hạt nảy mầm tốt nhất trong đĩa petri ở giấy ꢂm trên  
cát, ở 25oC sau 8 ngày, trong sáng.  
Bên cạnh đó còn rất nhiều nghiên cứu về xác định thành phần hóa học  
và công dụng của chúng, các phương pháp chiết xuất hợp chất trong các loài  
Codonopsis javanica ứng dụng trong lĩnh vực y dược.  
2.2.2. Tꢀnh hꢀnh nghiên cꢁu cây Đẳng sâm nam tại Việt Nam  
Trong nước, các nghiên cứu trên cây Đẳng sâm chủ yếu là về phân tích  
thành phần hóa học và các tác dụng dược lý của vị thuốc quꢀ này. Năm 2002,  
công trình “Bước đầu nghiên cứu thành phần hóa học của vị thuốc đảng sâm  
Việt Nam” của Hoàng Minh Chung, Phạm Xuân Sinh và Nguyễn Mạnh  
Tuyển; được đăng trên tạp chí dược liệu, tập 7 số 1/2002. Đây là nghiên cứu  
lần đầu tiên công bố các thành phần hóa học của cây Đẳng sâm Việt Nam.  
Bằng một số phương pháp định tính và định lượng trên các mẫu củ sâm sống  
và cao sâm, nhóm tác giả đã nhận thấy đặc điểm thực vật của cây Đẳng sâm  
mọc ở Sapa; các thành phần có trong rễ Đẳng sâm khô và tươi: đường khử,  
acid amin, chất béo và saponin; thành phần và hàm lượng của các loại acid  
amin có trong rễ Đẳng sâm [2].  
Cũng chính hai tác giả Hoàng Minh Chung và Phạm Xuân Sinh cũng  
đã công bố kết quả những nghiên cứu về hợp chất saponin có trong Đẳng sâm.  
 
8
Loại saponin chủ yếu là saponin tritecpenoid, hàm lượng saponin vào khoảng  
3.12 ± 0.08 %. Ngoài ra, nhóm tác giả cũng đã công bố về hàm lượng đường  
khử khoảng 14.6 ± 11.2 % đối với các mẫu cây sống, và 29.5 ± 0.9 % đối với  
các mẫu đã qua chế biến [2].  
Nhân giống: Đẳng sâm nam được nhân giống bằng hạt, vô tính bằng  
giâm hom mầm củ và bằng nuôi cấy mô tế bào. Nguyễn Hoàng Uyển Dung  
(2012) [3] đã nhân giống chồi cây Đẳng sâm nam bằng nuôi cấy mô trên môi  
trường chứa BAP 0,5 mg/l cho hệ số nhân chồi là 3,7 lần. Đoàn Trọng Đức và  
cs (2015) [4] đã nhân nhanh cây Đẳng sâm nam bằng nuôi cấy mô ở môi  
trường nuôi cấy MS + 2,4D 2 mg/l + TDZ 0,1 mg/l thích hợp cho sự tạo mô  
sẹo trên bề mắt cắt của đốt thân sau 30 ngày nuôi cấy. Mô sẹo được nuôi cấy  
tăng sinh trên môi trường ½ MS + 2 mg/l 2,4D + 0,1 mg/l TDZ. Bùi Văn  
Thắng và cs (2016) [8], nhân giống in vitro cây Đẳng sâm nam trên môi  
trường nhân nhanh MS + Kinetin 0,5 mg/l + NAA 0,2mg/l + sucrose 30 g/l +  
agar 7 g/l cho hệ số nhân chồi 16,55 lần, chu kì nhân (3 tuần), tỷ lệ chồi hữu  
hiệu đạt 91,09 %. Môi trường nuôi cấy kích thích chồi ra rễ bằng MS + IBA  
0,3 mg/l + sucrose 20g/l + agar 7 g/l cho tỷ lệ chồi ra rễ đạt 100% sau 4 tuần  
nuôi. Huỳnh Thị Kim và cs (2017) [6] nghiên cứu quy trình nhân giống cây  
Đảng sâm tạo ra nguồn cây giống chất lượng cao đồng thời bảo tồn nguồn  
gen. Vật liệu được dùng là thân cây một năm tuổi, tỷ lệ mẫu phát sinh chồi là  
82% sau 10 ngày nuôi cấy. Khả năng tái sinh chồi đạt cao nhất là 20,78  
chồi/mẫu trên môi trường ½ MS + BA 1,5 mg/l + NAA 0,2 mg/l. Sự tăng  
trưởng của chồi Đảng sâm tăng trưởng tốt nhất trên môi trường SH với chiều  
cao cây đạt 5,53 cm, số lá mới 3- 4 cặp lá, tỉ lệ mẫu tạo rễ đạt 100%. Sự ra rễ  
tạo cây đảng sâm in vitro hoàn chỉnh đạt tối ưu trên môi trường SH + IBA 0,3  
mg/l, số rễ đạt được 32,67 rễ/ mẫu, chiều dài rễ 4,67 cm sau 4 tuần nuôi cấy.  
9
Hình 2.2. Cây mô Đẳng sâm nam  
2.3. Tổng quan về khực vực nghiên cứu  
* Vị trí địa lý  
- Vị trí địa lí và lãnh thổ: Huyện Vị Xuyên là một huyện biên giới  
phía bắc của Việt Nam, thuộc tỉnh Hà Giang. Huyện Vị Xuyên nằm trong  
khoảng 22o29’30’’B đến 23o02’30’’B và 104o23’30’’Đ đến 105o09’30’’Đ.  
Phía bắc giáp huyện Quản Bạ, phía tây giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) và  
huyện Hoàng Su Phì, phía nam giáp huyện Bắc Quang, phía đông giáp thị xã  
Hà Giang, huyện Bắc Mê và huyện Na Hang (Tuyên Quang). Về mặt hành  
chính, huyện Vị Xuyên gồm 02 thị trấn, 22 xã; với diện tích 1500,7 km2, dân  
số 96168 người (chiếm 18,9 % diện tích và 13,6 % dân số của tỉnh năm  
2008). Trung tâm huyện lỵ là TT Vị Xuyên, nằm cách thị xã Hà Giang 20 km  
về phía Nam, cách thủ đô Hà Nội 265 km về phía Bắc. Huyện Vị Xuyên nằm  
gần như ở trung tâm của tỉnh Hà Giang, là nơi chuyển tiếp từ vùng cao núi đá  
phía bắc và vùng núi thấp phía nam, có diện tích rộng lớn gần như ôm gọn thị  
xã Hà Giang và quốc lộ 2 chạy từ cửa khꢂu Thanh Thủy qua địa bàn huyện  
dài 30 km, có đường biên giới quốc gia với Trung Quốc chiều dài 32,6 km.  
   
10  
Với vị trí địa lꢀ như vậy cho phép huyện Vị Xuyên trở thành đầu mối giao lưu  
kinh tế - xã hội với các địa phương khác trong tỉnh, trong cả nước và với  
Trung Quốc. Đồng thời còn có vị trí chính trị, an ninh quốc phòng quan trọng  
của tỉnh Hà Giang và khu vực biên giới phía bắc Tổ quốc.  
Hình 2.3. Bản đồ hành chính huyện Vị Xuyên, Hà Giang  
* Địa hình - thổ nhưỡng  
 
11  
Địa hình phần lớn là đồi núi thấp, sườn thoải xen kẽ những thung  
lũng. Độ cao trung bình 500m so với mặt nước biển. Phía tây có núi Tây Côn  
Lĩnh cao 2419m, phía bắc có núi Pu Tha Ca 2274m. Sông suối có độ dốc lớn  
tạo ra những tiểu vùng mang những đặc điểm riêng khác nhau. Tổng diện tích  
đất tự nhiên 150,1 nghìn ha. Trong đó, diện tích đất sản xuất nông - lâm  
nghiệp là 106,1 nghìn ha, chiếm 70,7%; diện tích đất chuyên dùng và đất ở  
chỉ có 3985,27 ha, chiếm 2,7%; đất chưa sử dụng 39975,89 ha, chiếm 26,6%  
tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện.  
Thổ nhưỡng chủ yếu là đất nâu đỏ trên đá mắc ma bazơ và trung  
tính, đất nâu đỏ trên đá vôi, đất đỏ vàng, ngoài ra còn có đất phù sa ven các  
sông, suối, đất thung lũng dốc tụ, đất mùn vàng nhạt trên núi cao có diện tích  
không đáng kể. Nhìn chung, đất có dinh dưỡng tốt thích hợp với cây ăn quả,  
hoa màu và cây công nghiệp.  
* Khí hậu - thủy văn  
Vị Xuyên nằm trong phạm vi của đới khí hậu gió mùa ꢂm, có hai mùa  
rõ rệt, mùa hè nóng ꢂm, mưa nhiều; mùa đông lạnh kéo dài, khô hạn. Nhiệt độ  
trung bình năm 23oC, biên độ dao động nhiệt độ trong năm là 12oC, tháng  
nóng nhất là tháng 6 và tháng 7, tháng lạnh nhất từ giữa tháng 12 đến tháng 1;  
tổng lượng nhiệt trong năm từ 8300 – 8500oC, số giờ nắng trung bình năm  
trên 1200 giờ. Lượng mưa trung bình khá lớn 3000 - 4000 mm/năm. Độ ꢂm  
trung bình 84%, độ ꢂm cao ở hầu hết các mùa trong năm, lớn nhất vào tháng  
7, tháng 8 (trên 87%) và thấp nhất vào tháng 3 (80%). Tuy nhiên, cũng có một  
số bất lợi như sương muối trong mùa đông, mùa hè mưa nhiều nên thường  
xảy ra lụt lội, lũ quꢁt ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển KTXH của huyện.  
Vị Xuyên là nơi đầu nguồn của Sông Lô trên lãnh thổ Việt Nam,  
sông bắt nguồn từ Vân Nam - Trung Quốc và chảy vào địa phận Hà Giang tại  
xã Thanh Thủy (Vị Xuyên), sông chảy theo hướng Bắc - Nam, đoạn sông  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 49 trang yennguyen 14740 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Xây dựng và đánh giá sinh trưởng vườn giống gốc cây Đẳng sâm nam (Codonopsis javanica (Blume) Hook.f. & Thomson) tại tỉnh Hà Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_xay_dung_va_danh_gia_sinh_truong_vuon_giong_goc_ca.pdf