Khóa luận Nghiên cứu hệ thống điều khiển của máy dệt HENQUN FX798 Model-2003

 
LỜI MỞ ĐẦU  
Để làm ra những chiếc khăn mặt với mẫu mã khác nhau, các hộ gia đình phải  
thực hiện một quy trình sản xuất đủ các công đoạn khác nhau như mắc sợi, dệt, tẩy,  
nhuộm, máy. Tại xưởng sản xuất của công ty mỗi công đoạn làm lúc nào cũng duy  
trì 5-6 công nhân làm việc liên tục với mức lương thu nhập hàng tháng từ 3-4 triệu  
đồng/người.  
Đến nay ở Phùng Xá có hơn 70% các hộ gia đình làm sản xuất khăn và kinh  
doanh hàng khăn mặt, không chỉ cung cấp các sản phẩm khăn mặt ra thị trường các  
tỉnh, thành phố trong cả nước mà còn xuất khẩu sang các nước Trung Quốc, Nhật  
Bản, Đài Loan…. Cùng với duy trì và phát triển nghề truyền thống, đến nay nghề  
dệt khăn mặt ở Phùng Xá không chỉ tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động  
địa phương ở hai thôn Hạ và thôn Thượng của xã mà còn cho lao động các vùng lân  
cận.  
Nhằm cải thiện khả năng nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm của hệ  
thống máy dệt HEQUN FX798 MODEL-2003. Đây là sản phẩm thực tế, ứng dụng  
trong công việc sau này của em và em muốn cải tiến và nâng cao năng suất, đáp ứng  
được những tiêu chuẩn, đủ điều kiện suất khẩu sang các nước phát triển như EU  
góp phần đẩy mạch phát triển kinh tế ở địa phương tạo thêm việc làm cho người  
dân tại địa phương hoặc người dân lân cận.  
Xuất phát từ nhận thức trên và dựa trên kiến thức học được, em đã lựa chọn  
đi sâu nghiên cứu rõ hơn về đề tài : “Nghiên cứu hệ thống điều khiển của máy dệt  
HENQUN FX798 Model-2003”  
Cấu trúc khóa luận tốt nghiệp bao gồm 4 chương:  
Chương 1: Tổng quan  
Chương 2: Nghiên cứu hệ thống mạch động lực của máy dệt HENQUN  
FX798 Model-2003  
Chương 3: Nghiên cứu các chế độ hoạt động và hệ thống điều khiển của  
máy dệt HEQUN FX798 Model-2003  
Chương 4: Một số đề xuất cải tiến, nâng cao hiệu quả sử dụng  
Do kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế, nên không tránh khỏi có những  
sai sót. Em rất mong nhận được sự nhận xét, đánh giá, đóng góp ý kiến của các thầy  
cô trong khoa và bạn bè để đề tài này của em được hoàn thiện hơn.  
Hà Nội, ngày 20 tháng 6 năm 2020  
Sinh viên thực hiện đề tài  
Nguyễn Tấn Thủy  
NHẬN XÉT  
(Của giảng viên hướng dẫn)  
...........................................................................................................................................  
...........................................................................................................................................  
...........................................................................................................................................  
...........................................................................................................................................  
...........................................................................................................................................  
...........................................................................................................................................  
...........................................................................................................................................  
...........................................................................................................................................  
...........................................................................................................................................  
...........................................................................................................................................  
...........................................................................................................................................  
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN  
(Chữ ký, họ tên)  
NHẬN XÉT  
(Của giảng viên phản biện)  
..............................................................................................................................................  
..............................................................................................................................................  
..............................................................................................................................................  
..............................................................................................................................................  
..............................................................................................................................................  
..............................................................................................................................................  
..............................................................................................................................................  
..............................................................................................................................................  
..............................................................................................................................................  
..............................................................................................................................................  
..............................................................................................................................................  
..............................................................................................................................................  
..............................................................................................................................................  
GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN  
(họ tên và chữ ký)  
MỤC LỤC  
 
DANH MỤC CÁC HÌNH  
 
TỔNG QUAN ĐỐI TƯỢNG VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU  
1. Đối tượng nghiên cứu  
Hệ thống điều khiển máy dệt HENQUN FX798 Model-2003:  
- Hệ thống điều khiển trung tâm (tủ điện).  
- Hệ thống điều khiển phụ (các nút nhấn điều khiển ).  
- Hệ thống thiết bị trường gồm, hệ thống thiết bị điện, hệ thống động cơ,...vv,  
được trang bị trong máy dệt công nghiệp HENQUN FX798 MODEL 2003.  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
Để xây dựng được quy trình sử dụng và điều khiển của máy dệt công nghiệp  
(công nhân, nhân viên kỹ thuật vận hành dây chuyền), nghiên cứu này đặt ra các  
mục tiêu sau:  
- Đưa ra được kiến thức cơ bản về máy dệt công nghiệp.  
- Đưa ra quy trình sử dụng hệ thống điều khiển gồm các bước:đóng điện dây  
chuyền; vận hành dây chuyền; dừng hoạt động dây chuyền.  
- Đưa ra các bước kiểm tra và bảo dưỡng định kỳ thiết bị điều khiển dây chuyền  
gồm: Các thiết bị cần phải kiểm tra bảo dưỡng; chu kỳ thời gian để tiến hành kiểm  
tra và bảo dưỡng.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Để thực hiện các nội dung trên các phương pháp nghiên cứu được sử dụng như  
sau:  
1
 
3.1 Phương pháp kế thừa  
Sưu tầm, thu thập các tài liệu liên quan.Tính toán thiết kế các hệ thống điều  
khiển bộ phận và hệ thống điều khiển trung tâm cho toàn bộ hoạt động của hệ  
thống. để làm cơ sở cho việc xây dựng quy trình công nghệ sử dụng hệ thống điều  
khiển, cải tiến và lang cao hiệu quả làm việc của máy.  
3.2 Phương pháp thực nghiệm  
Thông qua quá trình làm thực nghiệm việc điều khiển hoạt động của máy để từ  
đó đưa ra được quy trình sử dụng hệ thống điều khiển bộ phận và trung tâm của  
máy dệt công nghiệp HENQUN FX798 Model 2003 tự động.  
4. Đối tượng nghiên cứu  
Máy dệt công nghiệp HENQUN FX798 Model-2003.  
- Hệ thống điều khiển.  
- Hệ thống thiết bị gồm cảm biến, hệ thống thiết bị điện,... được trang bị trên  
máy dệt công nghiệp.  
5. Phạm vi nghiên cứu  
- Về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu cách vận hành của máy  
dệt tự động.  
- Về không gian: Đề tài được nghiên cứu tại xưởng sản xuất khăn mặt bông.  
- Về thời gian: Bắt đầu từ tháng 1/2020 đến tháng 5/2020.  
6. Kết quả dự kiến đạt được  
- Nắm rõ cách thức vận hành và kiểm tra, bảo dưỡng hệ thống máy và các linh  
kiện điện tử.  
7. Cấu trúc luận văn khóa luận tốt nghiệp  
Chương 1: Tổng quan.  
Chương 2: Nghiên cứu hệ thống mạch động lực của máy dệt công nghiệp  
HENQUN FX798 Model-2003.  
Chương 3: Nghiên cứu các chế độ hoạt động và hệ thống điều khiển của  
máy dệt HENQUN FX798 Model-2003.  
Chương 4: Đề xuất cải tiến và lâng cao chất lượng hiệu quả.  
2
NỘI DUNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CỦA BÁO CÁO  
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN  
1.1. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG CỦA MÁY DỆT  
Trong thời kỳ cổ đại, may dệt cũng tuỳ thuộc vào thổ nhưỡng và sinh hoạt  
kinh tế: các dân tộc sống về chăn nuôi dùng len (Lưỡng Hà, Trung Đông và Trung  
Á), vải lanh phổ biến tại Ai Cập và miền Trung Mỹ, vải bông tại Ấn Độ và lụa (tơ  
tằm) tại Trung Quốc. Các dân tộc Inca, Maya, Tolteca, v.v. tại châu Mỹ thì dùng  
các sợi chuối (abaca) và sợi thùa (sisal). Theo Kinh Thi của Khổng Tử, tơ tằm được  
tình cờ phát hiện vào năm 2640 trước Công nguyên. Sau khi vua Phục Hy, vị hoàng  
đế đầu tiên của Trung Quốc, khuyến khích dân chúng trồng dâu nuôi tằm, tơ lụa trở  
thành một ngành phồn thịnh, một trong những hàng hoá đầu tiên trao đổi giữa Đông  
0hay từ thực vật như da, sợi len, tơ tằm, v.v. Vì thế sản xuất bị giới hạn, vải vóc vẫn  
là sản phẩm quý, những y phục gấm vóc dành cho giai cấp quý tộc, thượng lưu, đại  
đa số dân chúng chỉ mặc vải thô, quanh quẩn với một vài màu mè kiểu cọ. Mãi đến  
giữa thế kỷ 18, với cuộc cách mạng kỹ nghệ bên Anh và sự ra đời của các máy dệt  
cơ khí hoá, chạy bằng hơi nước (steam loom), ngành dệt mới thật sự ra khỏi sản  
xuất thủ công để trở thành một kỹ nghệ.  
Tuy nhiên, con người vẫn còn lệ thuộc vào thiên nhiên, và nhiều nhà khoa học  
ở Âu Châu tìm tòi cách làm ra một loại sợi nhân tạo có thể sản xuất hàng loạt, với  
giá rẻ. Phải đợi đến năm 1884, một người Pháp, bá tước Hilaire Bernigaud de  
Chardonnet mới phát minh một cách chế tạo tơ nhân tạo, sau 6 năm nghiên cứu,  
song song với nhà khoa học Louis Pasteur, để tìm cách khắc phục các bệnh dịch tàn  
phá các cơ sở nuôi tằm. Năm 1889, ông Chardonnet trưng bày tại Hội chợ triển lãm  
thế giới Paris một máy kéo sợi nhân tạo và những tấm lụa nhân tạo đầu tiên. Năm  
sau, ông khánh thành nhà máy sợi nhân tạo, bắt đầu sản xuất năm 1892. Nhưng lúc  
ấy các phương pháp chưa hoàn chỉnh và giá thành còn cao nên phải đợi đến đầu thế  
kỷ 20, cơ sở này mới hoạt động với quy mô lớn và thành công.  
Năm 1900, trên thế giới có 1,6 tỷ người, tiêu thụ 3,8 triệu tấn sợi, hầu như toàn  
bộ là các sợi tự nhiên - bông (81%) và len (19%), số sợi hoá học dưới 1000 tấn.  
Năm 1975, thế giới tiêu thụ 26 triệu tấn sợi, trong đó 50% bông, 6% len và 44% sợi  
3
     
hoá học. Như thế, chỉ trong 3 phần tư thế kỷ, số lượng tiêu thụ đã nhân lên 4,3 lần  
cho sợi bông, 2,2 lần cho sợi len, và 11 000 lần cho sợi hoá học. Mức tăng trưởng  
phi thường này tuy thế khựng lại sau năm 1973, vì cuộc khủng hoảng về dầu lửa và  
giai đoạn kinh tế suy thoái sau đó. Ngoài ra, vì dầu hoả là nguyên liệu chính của sợi  
hoá học, khuynh hướng thay thế các sợi tự nhiên bằng sợi hoá học cũng chậm lại và  
ngày nay sợi tự nhiên, chủ yếu là bông, vẫn tồn tại trên thị trường, và sợi hóa học  
chỉ chiếm đa số với khoảng 60% .  
Sản phẩm của ngành dệt may không chỉ là quần áo, vải vóc và các vật dụng  
quen thuộc như khăn bàn, khăn tắm, chăn mền, nệm, rèm, thảm, đệm ghế, ô dù, mũ  
nón v.v. mà còn cần thiết cho hầu hết các ngành nghề và sinh hoạt: lều, buồm, lưới  
cá, cần câu, các loại dây nhợ, dây thừng, dây chão, các thiết bị bên trong xe hơi, xe  
lửa, máy bay, tàu bè (một chiếc xe hơi trung bình dùng đến 17 kí sợi vải), vòng đai  
cua-roa, vỏ săm lốp, ống dẫn, bao bì, và nói chung mọi vật liệu dùng để đóng gói,  
bao bọc, để lót, để lọc, để cách nhiệt, cách âm, cách điện, cách thuỷ, và cả những  
dụng cụ y khoa như chỉ khâu và bông băng.  
Có thể hiểu tại sao ngành dệt may đã đi liền với sự phát triển của các nước  
công nghiệp, cùng với sắt thép là hai ngành vừa được ưu tiên thừa hưởng những  
phát minh kỹ thuật vừa là động cơ chuyển biến cả nền kinh tế từ thủ công sang công  
nghiệp trong thời kỳ cách mạng kỹ nghệ. Điều này cũng giải thích tại sao các nước  
công nghiệp vẫn quyết tâm bảo vệ ngành dệt may nội địa trước sự cạnh tranh của  
các nước nghèo, từ thập niên 1970 trở đi, khi các nước này tập trung xây dựng  
ngành này thành trọng điểm của chiến lược phát triển. Và tại sao đó cũng là một  
trong những mối tranh chấp căng thẳng từ nhiều năm trong quan hệ thương mại  
giữa các nước giàu và nghèo.  
4
1.2. XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ SỬ DỤNG MÁY DỆT TRÊN THẾ GIỚI  
Hình 1.1: Thị phần các loại máy dệt trên thế giới  
Thế giới ngày một phát triển, công nghệ ngày càng được cải thiện và tốc độ  
làm việc của máy móc cũng được đẩy nhanh hơn, giảm sức lao động của con người  
làm tăng năng suất, tạo ra được những sản phẩm có mẫu mã đẹp và phong phú đáp  
ứng được nhu cầu của thị trường.Với việc sử dụng rất nhiều loại máy dệt khác nhau  
như ( Máy dệt nước, máy dệt khí, máy dệt kiếm + thoi kẹp) hiện nay máy dệt kiếm  
+ thoi kẹp được sử dụng phổ biến trên toàn thế giới.  
Sau đây là một số loại máy dệt công nghiệp trên thế giới mà em tìm hiểu và  
biết đến:  
1.2.1. Máy dệt vải sợi RF50N  
Máy dệt vải sợi RF50N loạt có cấu trúc nổi tiếng mạnh mẽ, thành phần nhỏ  
gọn và mô đun loạt trong thiết kế, kết quả trong máy này là sự lựa chọn đầu tiên của  
khách hàng. Thông qua động cơ điện từ với biến tần, tốc độ có thể được lập trình.  
Hệ thống phanh điện từ đảm bảo phanh chính xác, ổn định và ít tiếng ồn. Các thiết  
bị biến tần có thể tiết kiệm điện năng tiêu thụ lên đến 20% - 35%, tốc độ của máy  
vượt trội hơn các máy đời cũ , khích thước nhỏ gọn. Máy được sử đụng để sản xuất  
các loại khăn mặt, khăn tắm, thảm, bao bì …  
5
     
Hình 1.2: Máy dệt vải sợi RF50N  
1.2.2. Máy dệt vải PP  
Hình 1.3: Máy dệt vải PP  
Đây là máy dệt vải có xuất sứ từ Nhật Bản có kích thước nhỏ, tốc độ làm việc  
cao, năng suất lao động cao hơn so với việc dệt vải theo cách truyền thống, giảm  
bớt được một công đoạn sau tách khổ vải sau này.  
6
     
1.2.3. Máy dệt LG798  
Hình 1.4: Máy dệt LG798  
Máy dệt công nghiệp có thể được sử dụng để dệt vải địa kỹ thuật, vải lọc, vải,  
vải điện tử, lưới vải, vải xe, vải máy bay, lưới sợi thủy tinh…  
1.2.4. Máy dệt khí JAT 810  
Hình 1.5: Máy dệt khí nén  
Có xuất sứ từ Nhật Bản, giảm được 20% lượng khí nén tiêu thụ so với các  
model cũ nhờ đổi mới hệ thống chèn sợi ngang. Tăng năng suất luôn được đảm bảo,  
dưới hình thức kỹ thuật số tự động tạo ra được thiết lập tối ưu, cho phép máy tính  
thực hiện như một nhân viên có tay nghề cao.  
7
       
1.2.5. Máy dệt nước SD822  
Hình 1.6: Máy dệt nước SD822  
Khổ máy: từ (150-380) cm.  
Tốc độ: (500-1000) rpm, tùy theo cấu hình vải dệt.  
Máy dệt nước SD822 có khả năng để dệt sợi siêu mịn và vải mật độ (pick)  
cao.  
Hệ thống chọn sợi ngang điện tử, tùy biến giúp tạo ra vải giá trị gia tăng cao.  
Sử dụng dệt tối đa 4 màu, đáp ứng tốt nhu cầu thực tế hiện nay.  
Take-up điện tử & Let-off điện tử đảm bảo kiểm soát chính xác độ căng sợi  
dọc.  
Chiều rộng dệt tối thiểu lên đến 40 inch.  
Thiết kế chống rung có hiệu quả cải thiện tuổi thọ của các bộ phận máy cũng  
như tránh khuyết tật vải.  
SD822 dùng hệ thống bôi trơn tập trung, giảm thời gian bảo dưỡng định kỳ và  
hoạt động dễ dàng.  
Thiết kế trang bị đà dầm tam giác hoặc năm cạnh đảm bảo hỗ trợ back-up tốt,  
làm giảm đáng kể độ rung khi đập sợi.  
8
   
1.3. XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG MÁY DỆT  
CÔNG NGHIỆP TRONG NƯỚC  
Nghề dệt thổ cẩm là nét văn hóa độc đáo của người một số dân tộc và địa  
phương. Nghề dệt thổ cẩm một nghề đã tồn tại từ lâu đời và đem đến những lợi ích  
cho đồng bào dân tộc thiểu số cũng là nét văn hoá riêng của đồng bào dân tộc.  
Những tấm thổ cẩm được dệt với nhiều hoa văn, họa tiết thể hiện bàn tay khéo léo  
của người phụ nữ đồng bào dân tộc và làm nên các trang phục đẹp nhiều màu sắc.  
Hiện nay có rất nhiều làng nghề dệt thổ cẩm được lưu giữ và phát triển như:  
Bon tại xã Đắk Nia, thị xã Gia Nghĩa; bon Đăk Sô, xã Quảng khê; và một số làng tại  
huyện Cư Jút; xã Phùng xá, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Theo truyền thống  
của một số đồng bào dân tộc người ta thường chọn nền vải là màu đen, tượng trưng  
cho đất; màu đỏ tượng trưng cho sự dũng cảm, sức mạnh siêu nhiên, khát vọng tình  
yêu; màu xanh tượng trưng cho màu của trời, sông núi; màu vàng tượng trưng cho  
sự hài hoà, mơ ước, khát vọng trong cuộc sống của con người Việt Nam. Nguyên  
liệu thường được dùng để dệt váy, áo thổ cẩm của người là những nguyên liệu có  
sẵn trong thiên nhiên như bông, vỏ cây, rễ cây… Hoa văn trang trí đường viền ở  
chân váy, cổ áo, tay áo... có dạng hình thoi, tam giác được kết lồng vào nhau và  
điểm xuyến bằng nhiều hình ảnh từ thiên nhiên, hoa, chim, thú …thể hiện mối quan  
hệ cộng đồng giữa con người với con người và con người với thiên nhiên.  
Đây là một nghề truyền thống đã có từ lâu đời, tồn tại và phát triển cùng với  
sự phát triển của buôn, làng. Khi làm nghề này, người ta đã sử dụng được nguồn  
nguyên liệu tại chỗ, tạo công ăn việc làm, mang lại thu nhập cho gia đình tại địa  
phương. Tuy nhiên, trong những năm gần đây do nhiều nguyên nhân khác nhau đã  
khiến cho nghề dệt thổ cẩm cũng như nhiều nét văn hóa khác bị mai một dần. Khôi  
phục các làng nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch cũng là một định hướng  
phát triển ngành du lịch của tỉnh nhà. Những chiếc khăn, khố, váy, áo choàng...  
được thêu hoa văn, màu sắc sặc sỡ từ chất liệu thổ cẩm góp phần làm đa dạng hóa  
các sản phẩm du lịch của địa phương, níu giữ du khách khi đến với vùng đất hình  
chữ S để chiêm ngưỡng tìm hiểu, khám phá nét độc đáo trong từng trang phục và  
chọn cho mình những món quà lưu niệm độc đáo, ý nghĩa sau một chuyến đi xa.  
9
 
Sau đây là đôi nét về lịch sử phát triển của làng nghề dệt xã Phùng Xá nơi em  
sinh ra và lớn lên, em chọn đề tài nghiên cứu này là góp một phần sức của mình để  
phát triển quê hương.  
Xã Phùng Xá, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội là một trong số rất nhiều  
làng nghề truyền thống vẫn còn gìn giữ và phát triển nghề dệt thổ cẩm của cha ông  
ta để lại và kế thừa từ thế hệ này đến thế hệ khác. Từ bao đời nay làng nghề Phùng  
Xá đã nổi tiếng với nghề dệt truyền thống, trải qua hơn 80 năm gìn giữ và phát triển  
truyền thống, dệt khăn mặt,khăn tắm..v.v đã trở thành nghề mang lại thu nhập ngồn  
thu nhập chính cho người dân nơi đây bên cạnh việc phát triển kinh tế nông nghiệp.  
Hình 1.7: Khung dệt chuyền thống của dân tộc Việt Nam  
Nghề dệt Phùng Xá được hình thành từ năm 1929, được gìn giữ, duy trì và  
phát triển cho đến ngày nay. Theo thuyết xưa truyền lại thì cụ tổ làng nghề là cụ  
Hoàng Tiến Gan. Cụ xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, quanh năm bán  
mặt cho đất bán lưng cho trời, hơn nữa lại là người con của làng quê có nghề chăn  
tằm ươm tơ mà vẫn khổ cực áo chẳng đủ mặc, vì thế tâm thức cụ đã nung nấu nghề  
dệt. Năm 1928, cụ rời làng đi học hỏi nghề dệt ở Bắc Ninh, Hà Đông. Năm 1929, cụ  
mang nghề dệt về làng, cụ tổ chức một nhóm thợ, vừa làm vừa truyền nghề, vừa  
đóng máy vừa dựng giá thành khung. Để ghi nhớ công đức cụ, dân làng đã lấy ngày  
mồng 02 tháng 03 âm lịch hàng năm làm ngày giỗ ông tổ làng nghề.  
10  
 
Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, thậm chí đến giải phóng năm 1954, cả  
làng đã dệt theo hình thức cá thể, tự sản tự tiêu, chủ yếu là dệt tơ tằm, the, đũi với  
số lượng ít. Sau đó quy mô phát triển hơn thành các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp  
dệt các mặt hàng như lụa, satanh và đặc biệt là khăn mặt bông để xuất khẩu sang  
Liên Xô (cũ). Lúc bấy giờ, hình thức sản xuất là thủ công bởi máy móc còn rất thô  
sơ, nguyên liệu dệt là sợi tơ tằm, tơ bông và sợi còn. Năm 1992, hợp tác xã giải thể  
do không thích nghi được với cơ chế đổi mới. Tuy vậy, người dân xã Phùng Xá còn  
nặng lòng với nghề dệt lắm, các hộ gia đình đã mạnh dạn tự đầu tư mua máy dệt,  
nguyên liệu, một mặt duy trì được nghề truyền thống, mặt khác lại đáp ứng được  
nhu cầu của người tiêu dùng. Sản phẩm dệt khăn mặt của làng rất đa dạng về mẫu  
mã, kiểu cách, nào khăn mặt, khăn nhỡ, khăn tắm, nào khăn trơn, khăn hoạ tiết, nào  
khăn nhuộm màu, phun màu…, bởi thế mà làng nghề Phùng Xá có được tiếng thơm  
cho đến ngày nay. Quy mô làng dệt cũng theo đà đó mà phát triển, đến nay trong  
làng nghề đã có 28 doanh nghiệp tư nhân, 13 công ty cổ phần với quy mô sản xuất  
lớn, ngoài ra còn có các hộ sản xuất tư nhân, nghệ nhân, thợ giỏi và các thợ kĩ thuật  
phục vụ cho ngành dệt, đặc biệt có 3 nghệ nhân được Nhà nước phong tặng danh  
hiệu nghệ nhân năm 2006. Làng nghề có 2000 máy dệt, trong đó có 220 máy dệt tự  
động, 3 công ty tẩy, nhuộm, hấp sợi, 1 lò nhuộm mobin hiện đại và 1 máy mắc công  
nghiệp.  
Phùng Xá được tỉnh Hà Tây công nhận là làng nghề truyền thống từ năm  
2002. Qua hơn 80 năm xây dựng và phát triển, nghề dệt khăn đã trở thành nghề  
chính mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân bên cạnh trồng trọt và chăn  
nuôi.  
Quá trình sản xuất ra sản phẩm khăn  
Chỉ với nguyên liệu đầu vào là những cối sợi trắng, bằng đôi bàn tay khéo léo  
cùng với óc sáng tạo, người dân xã Phùng Xá đã làm ra những chiếc khăn với đủ  
mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc, kích cỡ để đến tay người tiêu dùng trong và ngoài  
nước. Đối với làng nghề dệt khăn truyền thống Phùng Xá, quá trình sản xuất ra sản  
phẩm khăn trải qua 5 công đoạn: từ mắc sợi, cho đến dệt, tẩy, nhuộm, máy biên  
mép, cuối cùng là in phun hoa văn, có thể nói đây là quá trình kết hợp giữa lao động  
thủ công và sự trợ giúp của máy móc.  
11  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 58 trang yennguyen 25740 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Nghiên cứu hệ thống điều khiển của máy dệt HENQUN FX798 Model-2003", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_nghien_cuu_he_thong_dieu_khien_cua_may_det_henqun.pdf