Khóa luận Đánh giá hiện trạng công tác quản lý, thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn và bảo vệ môi trường trên địa bàn thị trấn Chợ Mới, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

ÐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ÐẠI HỌC NÔNG LÂM  
--------------------------------  
NÔNG THỊ HỒNG NGỌC  
Tên đề tài:  
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ, THU GOM, VẬN  
CHUYỂN, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG  
TRÊN ĐỊA BÀN THỊ TRẤN CHỢ MỚI, HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH  
BẮC KẠN”  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Khoa  
: Chính quy  
: Khoa học môi trường  
: Môi trường  
Khóa học  
: 2014 – 2018  
THÁI NGUYÊN – 2018  
ÐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ÐẠI HỌC NÔNG LÂM  
--------------------------------  
NÔNG THỊ HỒNG NGỌC  
Tên đề tài:  
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ, THU GOM, VẬN  
CHUYỂN, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG  
TRÊN ĐỊA BÀN THỊ TRẤN CHỢ MỚI, HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH  
BẮC KẠN”  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Khoa  
: Chính quy  
: Khoa học môi trường  
: Môi trường  
Lớp  
: K46 – KHMT – N01  
: 2014 – 2018  
Khóa học  
Giảng viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Đức Thạnh  
THÁI NGUYÊN – 2018  
i
LỜI CẢM ƠN  
Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn cần thiết và hết sức quan trọng của  
mỗi sinh viên, đó là thời gian để sinh viên tiếp cận với thực tế, nhằm củng cố  
và vận dụng những kiến thức mà mình đã học được trong nhà trường.  
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa  
Môi trường, em đã tiến hành thực tập tại Phòng Tài nguyên và Môi trường  
huyện Chợ Mới - tỉnh Bắc Kạn. Đến nay em đã hoàn thành quá trình thực  
tập tốt nghiệp.  
Lời đầu, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: Ban giám hiệu trường  
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Ban chủ nhiệm khoa và tập thể thầy, cô  
giáo trong khoa Môi trường đã tận tình giúp đỡ và dìu dắt em trong suốt quá  
trình nghiên cứu và học tập. Ban lãnh đạo và toàn thể các cán bộ công nhân  
viên của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Chợ Mới đã tạo điều  
kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại cơ sở.  
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, tư vấn và chỉ đạo tận  
tình của thầy giáo hướng dẫn: TS. Nguyễn Đức Thạnh đã giúp đỡ em trong  
suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp.  
Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù có nhiều cố gắng nhưng do  
thời gian và năng lực bản thân còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những  
thiếu sót. Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và  
các bạn để đề tài của em được hoàn thiện hơn.  
Xin chân thành cảm ơn!  
Thái Nguyên, ngày 02 tháng 06 năm 2018  
Sinh viên  
Nông Thị Hồng Ngọc  
 
ii  
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU  
 
iv  
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT  
Từ Viết Tắt  
BVMT  
CTR  
Nghĩa của từ  
Bảo vệ môi trường  
Chất thải rắn  
CTRSH  
CTRXD  
KXL  
Chất thải rắn sinh hoạt  
Chất thải rắn xây dựng  
Khu xử lý  
NĐ – CP  
NQ/TƯ  
QLCTR  
QLMT  
SXSH  
Nghị định chính phủ  
Nghị quyết trung ương  
Quản lý chất thải rắn  
Quản lý môi trường  
Sản xuất sạch hơn  
Thông tư  
TT  
UBND  
VSMT  
Ủy ban nhân dân  
Vệ sinh môi trường  
 
v
MỤC LỤC  
 
vi  
1
PHẦN 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Chất thải rắn đang là một trong những vấn đề môi trường bức xúc ở  
Việt Nam. Hiện nay, mỗi năm có khoảng 15 triệu tấn rác thải phát sinh trong  
cả nước và theo dự báo thì số lượng rác thải sẽ tăng cao trong thập kỷ tới đây.  
So với các nước khác trên thế giới thì lượng rác thải Việt Nam không lớn,  
nhưng điều đáng quan tâm ở đây là tình trạng thu gom thấp và không phân  
loại trước khi mang rác thải ra ngoài môi trường.  
Hiện nay, cùng với công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì cuộc sống của  
người dân nông thôn đang ngày càng được cải thiện. Người dân nông thôn đã  
biết chăm lo cuộc sống hàng ngày của mình tốt hơn. Cùng với đó chất thải rắn  
từ cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người dân sẽ tăng lên. Thành phần chất  
thải rắn sinh hoạt của khu vực nông thôn cũng đa dạng hơn.  
Trong những năm gần đây, Bắc Kạn là một tỉnh miền núi có nền kinh  
tế tương đối phát triển nhanh chóng trong nước, đặc biệt đã thu hút rất nhiều  
nguồn đầu tư kinh tế quan trọng trong và ngoài nước. Huyện Chợ Mới, là  
huyện tập trung các nghành công nghiệp (Công nghiệp chế biến gỗ, sản xuất  
vật liệu xây dựng, KCN Thanh Bình, …) và dân số đông trong các huyện của  
tỉnh, đã có những bước phát triển đáng kể về kinh tế xã hội, tốc độ tăng  
trưởng kinh tế của huyện khá cao. Trong đó có sự góp phần chủ yếu là thị trấn  
Chợ Mới, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể, nền kinh tế phát triển, tiêu  
dùng tăng, kéo theo đó sẽ là những vấn đề xung quanh nó như an ninh, chính trị,  
môi trường… Một vấn đề đang nổi cộm lên ở huyện Chợ Mới hiện nay chính là  
vấn đề rác thải sinh hoạt. Rác thải không những chỉ làm ảnh hưởng đến môi  
trường, đến mĩ quan của huyện, mà nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của  
   
2
người dân nơi đây. Rác thải sinh hoạt phát sinh trong quá trình ăn, ở, tiêu dùng  
của con người, được thải vào môi trường ngày càng nhiều, vượt quá khả năng tự  
làm sạch của môi trường dẫn đến môi trường bị ô nhiễm.  
Các hoạt động dịch vụ, y tế, sản xuất, kinh doanh, nhất là tại các chợ đã  
làm gia tăng rác thải như: rác thực phẩm, bao bì, hộp nhựa, giấy thải, vỏ lon  
kim loại, thủy tinh… Đồng thời, do tập trung đông dân cư nên lượng nước  
thải sinh hoạt khá lớn.  
Việc san lấp mặt bằng để xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật, các  
khu dân cư, đường giao thông… gây ảnh hưởng đến dòng chảy trong mùa  
mưa. Quá trình xây dựng cũng làm phát sinh lượng lớn chất thải như gạch vỡ,  
ngói, đất cát, phế liệu xây dựng…  
Tuy nhiên, do nền kinh tế phát triển, các nhu cầu tiêu thụ của người dân ở  
huyện Chợ Mới không ngừng tăng mạnh nên lượng rác thải sinh hoạt của người  
dân ngày càng nhiều. Rác thải sinh hoạt đang tăng lên với tốc độ chóng mặt từng  
ngày từng giờ cùng với nhịp độ phát triển của xã hội. Huyện Chợ Mới là một  
huyện miền núi nên điều kiện cơ sở vật chất nơi đây còn gặp nhiều khó khăn,  
vấn đề môi trường tại huyện chưa được quan tâm đúng mức. Bên cạnh đó, ý  
thức bảo vệ môi trường của người dân nói chung không bắt kịp với các nhu cầu  
tiêu thụ ngày càng tăng của họ đã gây ra những tác động xấu tới môi trường  
nghiêm trọng, đang đe dọa trực tiếp tới cuộc sống của người dân nơi đây.  
Vì vậy việc nghiên cứu và đề xuất giải pháp quản lý chất thải, chất thải  
rắn sinh hoạt với điều kiện của huyện Chợ Mới là vấn đề cấp bách và cần sự  
quan tâm của các cấp chính quyền và cả cộng đồng. Tôi đã chọn đề tài “Đánh  
giá hiện trạng công tác quản lý, thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn  
và bảo vệ môi trường trên địa bàn thị trấn Chợ Mới, huyện Chợ Mới,  
tỉnh Bắc Kạn” với mục đích nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn nói  
chung và chất thải sinh hoạt nói riêng, đồng thời tăng cường ý thức bảo vệ  
3
môi trường cho người dân và bảo vệ môi trường góp phần vào sự phát triển  
bền vững thị trấn Chợ Mới.  
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài  
1.2.1. Mục tiêu  
- Đánh giá được hiện trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại thị trấn  
Chợ Mới  
- Đánh giá được hiện trạng quản lý CTR sinh hoạt trên địa bàn TT Chợ  
Mới.  
- Tìm hiểu nhận thức cộng đồng về tác hại của chất thải rắn để bảo vệ  
môi trường sống trong lành.  
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất  
thải rắn, bảo vệ môi trường góp phần vào sự phát triển bền vững thị trấn Chợ Mới.  
1.2.2. Yêu cầu của đề tài  
- Thông tin và số liệu thu được chính xác trung thực, khách quan.  
- Các số liệu nghiên cứu và phân tích phải đảm bảo tính khoa học và  
đại diện cho khu vực nghiên cứu.  
1.3. Ý nghĩa của đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa trong khoa học  
- Áp dụng những kiến thức đã được học vào thực tế, làm quen với công  
việc và môi trường mới.  
- Nâng cao kiến thức và tích lũy kinh nghiệm từ thực tế cho công việc  
sau khi ra trường.  
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn  
- Đánh giá được công tác quản lý, lượng rác thải phát sinh, hiện trạng  
thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý chất thải rắn trên địa bàn Thị Trấn.  
- Đánh giá công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn thị trấn và đề xuất  
một số giải pháp xử lý chất thải rắn tại Thị Trấn.  
           
4
PHẦN 2  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài  
2.1.1. Cơ sở pháp lý  
Luật bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2014 Số:55/2014/QH13, do  
quốc hội ban hành ngày ngày 23 tháng 06 năm 2014 và có hiệu lực từ ngày  
01/01/2015.  
ChươngVIII: BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ, KHU DÂN CƯ  
Chương IX: QUẢN LÝ CHẤT THẢI  
Một số văn bản pháp luật về quản lý chất thải rắn:  
- Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015 của Chính  
phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường  
- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 của Chính  
Phủ về quản lý chất thải và phế liệu  
- Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015 quy định về  
quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác  
động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường  
- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9 tháng 4 năm 2007của chính phủ  
ban hành quy định về hoạt động quản lý chất thải rắn, quyền hạn và trách  
nhiệm của các cá nhân, tổ chức liên quan đến QLCTR  
- Nghị định số 179/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi  
phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT  
- Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 5 tháng 9 năm 2012 của Thủ tướng  
Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm  
2020, tầm nhìn đến năm 2030.  
     
5
- Quyết định số 2149/2009/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2009 của  
Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất  
thải rắn đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2050  
- Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính  
phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh  
vực giáo dục, dậy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường  
- Quyết định số 1440/2008/QĐ-TTg ngày 6 tháng 10 năm 2008 của  
Thủ tướng chính phủ phê duyệt kế hoạch các cơ sở xử lý chất thải tại ba vùng  
kinh tế trọng điểm miền Bắc, Trung, Nam đến năm 2020.  
- Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT quy định về quản lý chất thải nguy  
hại  
- Thông tư số 13/2007/TT-BXD ngày 31/12/2007 của Bộ Xây dựng  
hướng dẫn một số điều của Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của  
Chính phủ về quản lý chất thải rắn.  
- Quyết định số 60/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 7/8/2002 của Bộ trưởng  
Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường về việc ban hành Hướng dẫn kỹ thuật  
chôn lấp chất thải nguy hại  
- Thông tư liên Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường và Bộ Xây  
dựng số 01/2001/TTLT-BKHCNMT-BXD ngày 18 tháng 1 năm 2001 hướng  
dẫn các quy định về bảo vệ môi trường đối với việc chọn lựa địa điểm, xây  
dựng và vận hành bãi chôn lấp chất thải rắn  
- Thông tư số 121/2008/TT-BTC ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Bộ  
Tài chính hướng dẫn cơ chế ưu đãi và hỗ trợ tài chính đối với hoạt động đầu  
tư cho quản lý chất thải rắn  
- QCVN 07:2009/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng  
chất thải nguy hại.  
6
- QCVN 02:2013/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò  
đốt chất thải rắn y tế.  
- QCVN 30:2012/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò  
đốt chất thải công nghiệp.  
- QCVN 41: 2011/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về đồng xử  
lý chất thải nguy hại trong lò nung xi măng.  
- QCVN 56: 2013/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tái chế dầu  
thải  
- TCXDVN 261-2001: Bãi chôn lấp chất thải rắn. Tiêu chuẩn thiết kế  
- TCVN 6696-2000: Chất thải rắn – Bãi chôn lấp hợp vệ sinh – các yêu  
cầu về môi trường.  
- TCVN 6706-2009: Chất thải nguy hại – Phân loại  
- TCXDVN 320:2004 bãi chôn lấp chất thải nguy hại – tiêu chuẩn thiết kế  
Một số quy định của tỉnh Bắc Kạn về quản lý chất thải rắn và bảo vệ môi  
trường  
Quyết định số 2084/QĐ-UBND ngày 03 tháng 11 năm 2011 của  
UBND tỉnh Bắc Kạn về việc phê duyệt quy hoạch quản lý chất thải rắn tỉnh  
Bắc Kạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.  
Quyết định số 31/2016/QĐ-UBND ngày 10 tháng 11 năm 2016 của  
UBND tỉnh Bắc Kạn ban hành quy định bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh  
Bắc Kạn. – Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.  
Quyết định số 41/2017/QĐ-UBND ngày 22 tháng 12 năm 2017 của  
UBND tỉnh Bắc Kạn ban hành quy định giá tối đa dịch vụ thu gom, vận chuyển  
rác thải sinh hoạt sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc  
Kạn  
7
2.1.2. Cơ sở thực tiễn  
2.1.2.1. Tình hình quản lý chất thải các nước trên thế giới  
Theo Ngân hàng Thế giới, các khu vực đô thị của châu Á mỗi ngày  
phát sinh khoảng 760.000 tấn chất thải rắn đô thị. Đến năm 2025, con số này  
sẽ tăng tới 1,8 triệu tấn/ngày (World Bank, 1999). Tỷ lệ chất thải gia đình  
trong dòng chất thải rắn đô thị rất khác nhau giữa các nước. Theo ước tính, tỷ  
lệ này chiếm tới 60-70% ở Trung Quốc, 78% ở Hồng Kông (kể cả chất thải  
thương mại), 48% ở Philipin và 37% ở Nhật Bản. Theo đánh giá của Ngân  
hàng Thế giới (World Bank, 1999), các nước có thu nhập cao chỉ có khoảng  
25-35 % chất thải gia đình trong toàn bộ dòng chất thải rắn đô thị.  
Theo kết quả nghiên cứu của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA,  
1997), tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị ở Philipin theo các nhóm người có  
thu nhập khác nhau là: thu nhập cao: 0,37-0,55 kg/người/ngày, thu nhập trung  
bình: 0,37-0,60 kg/người/ngày và thu nhập thấp: 0,62-0,90 kg/người/ngày.  
Tương tự, các kết quả phân tích tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị theo GDP  
tính trên đầu người của các nước thuộc OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển  
Kinh tế), Hoa Kỳ và Ôxtrâylia được xếp vào nhóm các nước có tỷ lệ phát sinh  
cao; nhiều nước thuộc Liên minh châu Âu được xếp vào nhóm có tỷ lệ phát  
sinh trung bình và Thuỵ Điển, Nhật Bản được xếp vào nhóm có tỷ lệ phát  
sinh thấp. Theo nguyên tắc thì các nước có thu nhập cao có lượng phát sinh  
chất thải rắn đô thị cao. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây ở các nước đang  
phát triển cho thấy, tỷ lệ phát sinh chất thải tính theo các mức thu nhập khác  
nhau lại không theo nguyên tắc này.  
Ở Cộng hoà liên bang Nga lượng rác thải trung bình là 300kg/người/năm  
và như vậy mỗi năm lượng rác thải của toàn bang là 50 triệu tấn. Trong đó  
Matxcơva mỗi năm thải ra khoảng 3 triệu tấn rác thải sinh hoạt.  
 
8
Mỹ là quốc gia có nền kinh tế phát triển nhất do đó cũng là nước có  
lượng rác thải lớn nhất thế giới .Hàng năm, rác thải sinh hoạt của các thành  
phố của Mỹ lên đến 210 triệu tấn và bình quân mỗi người thải ra khoảng 2kg  
rác/ngày. Một số bang có luật bắt buộc người dân phải thu nhặt tại nhà những  
vật có thể tái chế tại nơi đổ sát bên lề đường, một số bang yêu cầu phải phân  
loại các chất thải từ các hộ thành các loại rác khác nhau trước khi thu gom.  
Ở Pháp quy định phải dùng các vật liệu, nguyên tố hay nguồn năng  
lượng nhất định để tạo điều kiện dễ dàng cho việc khôi phục các vật liệu  
thành phần.Theo đó đã có các quyết định cấm các cách xử lý các hỗn hợp, các  
tổ hợp thành phần cũng như các phương pháp sản xuất nhất định. Chính phủ  
có thể yêu cầu các nhà chế tạo và nhà nhập khẩu sử dụng các loại vật liệu tận  
dụng để bảo vệ môi trường hoặc giảm bớt sự thiếu hụt một vật liệu nào đó.  
Tuy nhiên cần phải tham khảo và thương lượng, nhất trí với các tổ chức,  
nghiệp đoàn trước khi áp đặt các yêu cầu này (Trần Hiếu Nhuệ, 2001)[10].  
Ở Singapo: Đây là nước đô thị hoá 100% và là đô thị sạch nhất trên thế  
giới. Để có được như vậy, singapo đầu tư cho công tác thu gom, vận chuyển  
và xử lí rác thải đồng thời xây dựng một hệ thống pháp luật nghiêm khắc làm  
tiền đề cho quá trình xử lí rác thải tôt hơn. Rác thải singapo được thu gom và  
phân loại bằng túi nilon. Các chất thải có thể tái chế được đưa vào nhà máy  
tái chế lại còn các loại chất thải khác được đưa về nhà máy khác để thiêu huỷ.  
Ở singapo có hai thành phần tham gia chính cho thu gom và xử lí rác thải  
sinh hoạt từ các khu dân cư và các công ty, hơn 300 công ty tư nhân chuyên  
thu gom rác thải công nghiệp và thương mại . Tất cả các công ty này đều  
được cấp giấy phép hoạt động và chịu sự giám sát, kiểm tra trực tiếp của Sở  
Khoa học công nghệ và Môi trường. Ngoài ra, các hộ dân và các công ty ở  
singapo được khuyến khích tự thu gom và vận chuyển rác thải cho các hộ dân  
9
thu gom rác trực tiếp tại nhà phải trả phí 17 đôla singapo/tháng, thu gom gián  
tiếp tại các khu dân cư chỉ phải trả phí 7đôla Singapo/tháng.  
Đối với các nước Châu Á, chôn lấp chất thải vẫn là phương pháp phổ  
biến vì chi phí rẻ. Trung Quốc và Ấn Độ có tỷ lệ chôn lấp tới 90%.. Tuy vậy,  
các nước đang phát triển đã có nỗ lực cải thiện chất lượng các bãi chôn lấp,  
như Thổ Nhĩ Kỳ đã cấm các bãi đổ hở năm 1991 và Ấn Độ đã hạn chế chôn  
lấp các loại chất thải khó phân huỷ sinh học, chất thải trơ và các loại chất thải  
có thể tái chế.  
Hàn Quốc và Nhật Bản là những nước phát triển, công tác quản lý môi  
trường đã đi vào nề nếp, hàng năm Chính phủ, chính quyền địa phương vẫn  
rất quan tâm tới định hướng chiến lược phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ  
môi trường. Nhà nước định hướng và quy hoạch phát triển các ngành công  
nghiệp môi trường (quy hoạch định hướng phát triển các nhà máy tái chế, tái  
sử dụng với sự bảo hộ về phân vùng lãnh thổ hoạt động, hướng phát triển sản  
xuất và đầu tư công nghệ).  
2.1.2.2. Tình hình quản lý chất thải rắn ở Việt Nam  
* Tình hình phát sinh chất thải rắn  
Tình hình phát sinh và xử lý CTR ở khu vực đô thị vẫn là một trong  
những vấn đề môi trường nổi cộm trong nhiều năm qua. Theo thống kê, lượng  
CTR sinh hoạt phát sinh ở khu vực đô thị khoảng 38.000 tấn/ngày với mức  
gia tăng trung bình 12% mỗi năm. Chất thải rắn sinh hoạt đô thị có tỷ lệ hữu  
cơ vào khoảng 54 - 77%, chất thải có thể tái chế (thành phần nhựa và kim  
loại) chiếm khoảng 8 - 18%. Chất thải nguy hại (CTNH) còn bị thải lẫn vào  
chất thải sinh hoạt mang đến bãi chôn lấp là 0,02 ÷ 0,82%. Chất thải rắn y tế  
phát sinh là 600 tấn/ngày với mức độ gia tăng khoảng 7,6% mỗi năm. Đối với  
CTR công nghiệp khu vực đô thị, hiện chưa có thống kê con số cụ thể nhưng  
ước tính khối lượng CTR công nghiệp phát sinh trong các khu vực đô thị khá  
10  
cao, tập trung ở các ngành cơ khí, dệt may, da giầy và thực phẩm. Ước tính  
lượng CTNH trong CTR công nghiệp chiếm tỷ lệ khoảng 20 - 30% [5].  
Công tác phân loại, thu gom và xử lý CTR đã đạt được những kết quả  
nhất định. Tỷ lệ thu gom và xử lý CTR sinh hoạt trung bình đạt khoảng 85%  
vào năm 2014 và tăng lên 85,3% trong năm 2015. Công nghệ xử lý CTR sinh  
hoạt phổ biến là chôn lấp, ủ phân hữu cơ và đốt. Tại khu vực đô thị, tỷ lệ CTR  
sinh hoạt được chôn lấp trực tiếp khoảng 34%, tỷ lệ CTR sinh hoạt được tái  
chế tại các cơ sở xử lý đạt khoảng 42% và lượng CTR còn lại là bã thải của  
quá trình xử lý được chôn lấp chiếm khoảng 24%. Phần lớn CTR sinh hoạt đô  
thị chưa phân loại tại nguồn, tại một số đô thị lớn, hoạt động này mới chỉ  
được triển khai thí điểm tại một số phường, quận. Theo số liệu báo cáo của  
Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế) về tình hình quản lý đối với CTR y tế,  
có khoảng hơn 90% bệnh viện thực hiện thu gom hàng ngày và có thực hiện  
phân loại chất thải từ nguồn. Năm 2015, tỷ lệ CTR y tế được thu gom đạt trên  
75%. Tuy nhiên, phương tiện thu gom còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết  
chưa đạt tiêu chuẩn, không có các trang thiết bị đảm bảo cho quá trình vận  
chuyển được an toàn. Công nghệ xử lý CTR y tế chủ yếu bằng các lò đốt.  
Hiện nay, một số công nghệ xử lý chất thải y tế bằng phương pháp không đốt  
được khuyến khích và ưu tiên phát triển. Đối với CTR công nghiệp, lượng thu  
gom, xử lý CTR thông thường gia tăng qua các năm. Một số loại CTR được  
chính cơ sở tận dụng tái sử dụng, tái chế. Một phần được xử lý thông qua hợp  
đồng với Công ty môi trường đô thị. Đối với chất thải công nghiệp nguy hại,  
được thu gom, xử lý bởi các đơn vị có chức năng, được cơ quan quản lý cấp  
phép thực hiện [5].  
* Quản lý chất thải rắn  
Quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động: phòng ngừa và giảm  
thiểu phát sinh CTR; phân loại tại nguồn; thu gom, vận chuyển; tăng cường  
11  
tái sử dụng, tái chế; xử lý và tiêu huỷ. Công tác quản lý chất thải rắn ở Việt  
Nam hiện nay còn chưa tiếp cận được với phương thức quản lý tổng hợp trên  
quy mô lớn, chưa áp dụng đồng bộ các giải pháp giảm thiểu, tái sử dụng, tái  
chế (3R) để giảm tỷ lệ chất thải phải chôn lấp. Hoạt động giảm thiểu phát sinh  
CTR, một trong những giải pháp quan trọng và hiệu quả nhất trong quản lý  
chất thải, còn chưa được chú trọng. Hoạt động phân loại tại nguồn chưa được  
áp dụng rộng rãi, chỉ mới được thí điểm trên qui mô nhỏ ở một số thành phố  
lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh.  
Tỷ lệ thu gom chất thải ở các vùng đô thị, thị trấn, khu đông dân cư  
trung bình đạt khoảng 80-82%, thấp nhất là đô thị loại IV (65%), ở Hà Nội cao  
hơn (90%); ở các điểm dân cư nông thôn ~ 40-55%. Khoảng 60% khu vực ở  
nông thôn chưa có dịch vụ thu gom chất thải, chủ yếu dựa vào tư nhân hoặc  
cộng đồng địa phương. Tỷ lệ thu gom, vận chuyển CTR tuy đã tăng dần song  
vẫn còn ở mức thấp, chủ yếu phục vụ cho các khu vực đô thị, chưa vươn tới  
các khu vực nông thôn. Xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển CTR tuy đã  
được phát triển nhưng chưa rộng và chưa sâu, chủ yếu được hình thành ở các  
đô thị lớn.  
Năng lực trang thiết bị thu gom, vận chuyển còn thiếu và yếu, dẫn tới  
tình trạng tại một số đô thị đã thực hiện phân loại CTR tại nguồn nhưng khi  
thu gom, vận chuyển lại đem đổ chung làm giảm hiệu quả của việc phân loại.  
Tái sử dụng và tái chế chất thải mới chỉ được thực hiện một cách phi chính  
thức, ở qui mô tiểu thủ công nghiệp, phát triển một cách tự phát, không đồng  
bộ, thiếu định hướng và chủ yếu là do khu vực tư nhân kiểm soát. Công nghệ  
xử lý CTR chủ yếu vẫn là chôn lấp ở các bãi lộ thiên không đạt tiêu chuẩn  
môi trường với 82/98 bãi chôn lấp trên toàn quốc không hợp vệ sinh. Các lò  
đốt rác chủ yếu dành cho ngành y tế và chỉ đáp ứng được 50% tổng lượng  
chất thải y tế nguy hại. Việc phục hồi môi trường đối với các cơ sở xử lý CTR  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 88 trang yennguyen 19860 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá hiện trạng công tác quản lý, thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn và bảo vệ môi trường trên địa bàn thị trấn Chợ Mới, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_danh_gia_hien_trang_cong_tac_quan_ly_thu_gom_van_c.pdf