Giáo trình Tổ chức và công nghệ sửa chữa - Nghề: Khai thác máy tàu thủy
CỤC HÀNG HẢI VIỆT NAM
TRƯỜNG CAO ĐẲNG HÀNG HẢI I
GIÁO TRÌNH
MÔN HỌC: TỔ CHỨC VÀ
CÔNGNGHỆ SỬA CHỮA
NGHỀ: KHAI THÁC MÁY TÀU THỦY
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG
Hải Phòng, năm
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN
Tài liệu này thuộc loại giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng
nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo.
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh
thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.
2
LỜI GIỚI THIỆU
Giáo trình TỔ CHỨC VÀ CÔNG NGHỆ SỬA CHỮA trình bày các nội dung về
tổ chức sửa chữa và các phương pháp công nghệ được áp dụng để phục hồi, sửa chữa
các chi tiết trong thực tế. Các nội dung biên soạn được cố gắng xem xét dưới góc độ
phù hợp với trình độ người học và phù hợp với các môn học, mô đun khác như “Sửa
chữa động cơ Diesel”, “Khai thác hệ động lực tàu thủy” để tạo nên một mối quan hệ
logic, thông suốt, tuần tự. Từ đó tạo nên sự thuận lợi nhất trong quá trình hình thành
kiến thức và kỹ năng cho sinh viên cao đẳng nghề máy.
Tuy nhiên do thời gian và trình độ có hạn cuốn giáo trình không tránh khỏi các
khiếm khuyết, thiếu sót. Người biên soạn rất mong nhận được sự đóng góp chân
thành để cập nhật cho nội dung giáo trình ngày càng hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn.
Hải Phòng, ngày 26 tháng 9 năm 2017
Biên soạn
Lê Anh Phong
3
MỤC LỤC
TT
Nội dung
Trang
1
3
Lời giới thiệu
Mục lục
2
3
4
5
4
7
8
Danh mục ký hiệu, bảng biểu, chữ viết tắt
Danh mục hình vẽ, đồ thị
9
Nội dung
9
Chương 1. Tổ chức sửa chữa tàu thủy
1. Tổ chức sửa chữa
10
10
14
15
15
16
19
19
19
20
20
20
20
21
21
22
1.1. Các khái niệm cơ bản trong tổ chức sửa chữa tàu thuỷ
1.2. Phân loại và định ngạch sửa chữa
2. Đăng kiểm Việt nam
2.1. Giới thiệu chung về Đăng kiểm Việt Nam
2.2. Kiểm tra hệ thống máy tàu của Đăng kiểm Việt Nam
Chương 2. Các phương pháp gia công cắt gọt kim loại
1. Tiện kim loại
1.1. Khái niệm
1.2. Ứng dụng
2. Bào và phay kim loại
2.1. Bào và xọc
2.2. Phay
3. Khoan, khoét, doa lỗ
3.1. Khoan
3.2. Khoét
4
3.3. Doa
22
22
22
22
23
25
25
25
26
27
4. Chuốt, mài, đánh bóng
4.1. Chuốt
4.2. Mài
4.3. Đánh bóng
Chương 3. Chất lượng gia công cơ khí và đồ gá gia công
1. Chất lượng gia công cơ khí
1.1.Các yếu tố đặc trưng của bề mặt
1.2. Nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng bề mặt
1.3. Ảnh hưởng của chất lượng của bề mặt gia công đến tính năng làm
việc của chi tiết
1.4. Độ chính xác gia công cơ khí
2. Chuẩn
27
29
29
31
32
32
32
34
34
34
34
36
37
37
37
38
2.1. Chuẩn và phân loại chuẩn
2.2. Nguyên tắc chọn chuẩn
3. Gá đặt chi tiết
3.1. Quá trình gá đặt chi tiết khi gia công
3.2. Các phương pháp gá đặt chi tiết gia công
Chương 4: Khảo sát hư hỏng chi tiết máy
1. Hao mòn chi tiết máy
1.1. Khái niệm về hao mòn
1.2. Các dạng hao mòn
1.3. Qui luật mài mòn của chi tiết theo thời gian
2. Phương pháp khảo sát hư hỏng chi tiết máy
2.1. Kiểm tra bằng giác quan
2.2. Kiểm tra bằng phương đo
2.3. Kiểm tra bằng phương pháp thẩm thấu
5
2.4. Kiểm tra bằng phương thử thủy lực
2.5. Kiểm tra bằng phương vật lý
38
38
39
39
39
41
41
41
41
3. Phương pháp vệ sinh chi tiết máy
3.1. Phương pháp sử dụng hóa chất
3.2. Phương pháp cơ học
Chương 5: Phương pháp phục hồi và sửa chữa chi tiết máy
1. Phương pháp điều chỉnh
2. Phương pháp gia công cơ khí
2.1. Phương pháp phục hồi kích thước, hình dạng và chất lượng bề mặt
2.2. Phương pháp thay đổi kích thước, phục hồi hình dạng và chất
lượng bề mặt
43
2.3 Phương pháp cạo rà
44
44
44
48
3. Phương pháp gia công biến dạng và biến dạng dẻo
3.1. Phương pháp gia công biến dạng
3.2. Phương pháp gia công tinh bằng biến dạng dẻo
6
50
Tài liệu tham khảo
6
DANH MỤC KÝ HIỆU, BẢNG BIỂU, CHỮ VIẾT TẮT
Stt
1
Tên chữ viết tắt
CSKT - Chăm sóc kỹ thuật
2
GCCG - Gia công cắt gọt
3
4
5
Sd – Chuyển động tiến dao dọc
Sng – Chuyển động tiến dao ngang
HKCM – Hợp kim chống mòn
GCKL - Gia công kim loại
6
7
TCVN - Tiêu chuẩn Việt nam
7
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Tên hình vẽ, đồ thị
Stt
Trang
1
2
3
4
5
6
Hình 2.1. Máy tiện vạn năng
Hình 2.2. Máy khoan bàn
23
24
40
48
49
50
Hình 4.1. Đồ thị mài mòn của chi tiết theo thời gian
Hình 5.1. Sơ đồ cán kim loại
Hình 5.2. Cấu tạo của khuôn kéo kim loại
Hình 5.3. Sơ đồ ép kim loại
8
GIÁO TRÌNH MÔN HỌC
Tên môn học: TỔ CHỨC VÀ CÔNG NGHỆ SỬA CHỮA
Mã số môn học: MH.6840111.16
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học:
- Vị trí: Môn học được thực hiện sau khi học xong các môn học, mô đun: Vận hành hệ
động lực chính Diesel tàu thủy, Khai thác hệ động lực tàu thủy.
- Tính chất: Môn học cung cấp cho sinh viên các kiến thức về tổ chức sửa chữa, các
phương pháp gia công cắt gọt kim loại; Các khái niệm về chất lượng gia công cơ khí;
Khảo sát hư hỏng các chi tiết và cụm chi tiết; Các phương pháp phục hồi và sửa chữa
các chi tiết máy.
- Ý nghĩa và vai trò của môn học: Tổ chức và công nghệ sửa chữa là môn học chuyên
môn nghề rất quan trọng và có ý nghĩa thực tiễn rất lớn cho nhu cầu đào tạo và sản
xuất.
Mục tiêu môn học:
- Về kiến thức: Hiểu được các khái nịêm cơ bản trong tổ chức và công nghệ sửa
chữa;các phương pháp gia công cắt gọt kim loại; Trình bày được các khái niệm về hư
hỏng, phương pháp phục hồi và sửa chữa các chi tiết; Trình bày được cấu tạo, nguyên
lý làm việc và phương pháp sử dụng các dụng cụ đo kỹ thuật.
- Về kỹ năng: Đánh giá được chất lượng gia công cơ khí, hình thành được các kỹ năng
tổ chức và sửa chữa các chi tiết.
- Về năng lực tự chủ và chịu trách nhiệm: Làm việc có kỷ luật, có trách nhiệm, kiên
trì, chủ động , tích cực và sáng tạo trong học tập và lao động.
Nội dung môn học:
CHƯƠNG 1: TỔ CHỨC SỬA CHỮA TÀU THỦY
Mã chương: MH.6840111.16.01
Giới thiệu:
Chương này trang bị cho người học các kiến thức về lập kế hoạch sửa chữa, chuẩn bị
đưa tàu vào sửa chữa và tổ chức sửa chữa cũng như các khái niệm về định nghạch sửa
chữa và các nội dung kiểm tra của cơ quan Đăng kiểm... Tức là các kiến thức cơ bản
của quá trình tổ chức sửa chữa trong thực tế.
Mục tiêu:
- Kiến thức: Giải thích được các khái niệm cơ bản trong tổ chức sửa chữa.
- Kỹ năng: Lập được các kế hoạch sửa chữa đơn giản.
9
- Về năng lực tự chủ và chịu trách nhiệm: Làm việc có kỷ luật, cẩn thận, nghiêm túc,
đảm bảo an toàn lao động và vệ sinh môi trường.
Nội dung chính:
1.Tổ chức sửa chữa
1.1. Các khái niệm cơ bản trong tổ chức sửa chữa tàu thuỷ
1.1.1.Khái niệm về chất lượng sản phẩm
Chất lượng của sản phẩm là tập hợp các đặc tính làm cho sản phẩm thoả mãn những
đòi hỏi xác định, tương ứng với nhiệm vụ dã đặt ra cho chúng.
Với ngành chế tạo máy tàu thuỷ thì chất lượng sản phẩm (cơ cấu, thiết bị tàu, một
khâu hay một chi tiết riêng lẻ) là tập hợp những phẩm chất khai thác, công nghệ, kinh
tế và thẩm mỹ. Mỗi một loại phẩm chất có mức độ yêu cầu nhất định mà khi đạt được
các yêu cầu đó tức là sản phẩm thích hợp cho khai thác.
Những phẩm chất chỉ tiêu này được đề ra trong thiết kế và viết dưới dạng yêu cầu kỹ
thuật. Chúng được đảm bảo trong gia công, lắp ráp và chúng sẽ bị mất hoặc giảm dần
trong khai thác, rồi chúng lại được khôi phục một phần hay toàn bộ trong sửa chữa.
Chất lượng sản phẩm không thể được coi là đạt yêu cầu nếu những chỉ tiêu đã đạt
được trong chế tạo, không giữ được giới hạn cho phép trong thời gian khai thác đủ
dài. Vì vậy, phẩm chất quan trọng nhất cho mọi sản phẩm là độ tin cậy.
1.1.2. Khái niệm về độ tin cậy của tàu
Độ tin cậy của hệ động lực là khả năng hoàn thành nhiệm vụ cho trước mà vẫn giữ
được chỉ tiêu khai thác nằm trong giới hạn đã định trong khoảng thời gian xác định.
Độ tin cậy của hệ động lực là một hệ thống phức tạp các chỉ tiêu, chúng thay đổi theo
thời gian, có thể phục hồi lại trong khai thác bằng sự chăm sóc kỹ thuật và sửa chữa.
Các chỉ tiêu đó là: Khả năng không hỏng hóc, độ bền, khả năng có thể sửa chữa.
- Khả năng làm việc không hỏng hóc: Đây là phẩm chất của sản phẩm giữ được khả
năng làm việc trong khoảng thời gian làm việc nào đó không cần khoảng nghỉ bắt
buộc.
- Độ bền: Là phẩm chất của sản phẩm giữ được khả năng làm việc đến trạng thái giới
hạn (tới mức phải bỏ đi) trong một khoảng thời gian nào đó cùng với một khoảng nghỉ
để chăm sóc kỹ thuật và sửa chữa.
- Khả năng có thể sửa chữa của sản phẩm: cho phép có thể cự đoán phát hiện và khắc
phục hỏng hóc bằng con đường chăm sóc kĩ thuật và sửa chữa
Ngoài ra độ tin cậy của hệ động lực còn bao gồm, phẩm chất về khả năng có thể bảo
quản. Đây là phẩm chất của sản phẩm có thể giữ được các chỉ tiêu khai thác trong
khoảng thời gian bảo quản, vận chuyển.
1.1.3 Chăm sóc kỹ thuật (CSKT) tàu
10
Bảo dưỡng và sửa chữa là một phần cấu thành của khai thác kỹ thuật tàu.Khai thác kỹ
thuật tàu là những hoạt động tổ chức, sản xuất và khoa học của thuyền bộ, xưởng và
các cơ sở CSKT nhằm làm cho đội tàu hoạt động có hiệu quả trong quá trình sử dụng
và giữ gìn tàu ở trạng thái kỹ thuật tốt với chi phí thời gian, lao động, phương tiện và
vật tư ít nhất. CSKT nhằm đảm bảo tình trạng kỹ thuật tốt của các trang thiết bị kỹ
thuật tàu nói riêng và cả tàu nói chung, duy trì lâu dài các dặc tính khai thác kỹ thụât
của tàu trong thời gian cho trước. Sửa chữa là khôi phục đến mức cần thiết một phần
hay toàn bộ những phẩm chất khai thác, kỹ thuật của các thiết bi kỹ thuật và của tàu
đã bị hao mòn trong quá trình sử dụng. CSKT bao gồm việc kiểm tra tình trạng kỹ
thuật của tàu, kiểm tra điều chỉnh các kích thước lắp ghép, làm sạch những lắng động
khai thác, phát hiện và khắc phục những trục trặc của các thiết bị kỹ thuật và kết cấu
vỏ, thay thế các chi tiết, cụm chi tiết hoặc các thiết bị đã bị hao mòn hư hỏng. Việc
CSKT được tiến hành sao cho không ảnh hưởng đến thời gian khai thác tàu. Đồng
thời việc CSKT phải được tiến hành theo định kỳ không phụ thuộc vào trạng thái thiết
bị.
1.1.4 Lập kế hoạch sửa chữa tàu
a. Công tác chuẩn bị
Để lập kế hoạch sửa chữa được đầy đủ, hoàn thiện, đảm bảo được yêu cầu về tình
trạng kỹ thuật của tàu, giảm thời gian ngừng khai thác giảm chi phí cho quá trình sửa
chữa, công tác chuẩn bị bao gồm:
- Hồ sơ, lý lịch của các thíêt bị được cung cấp bởi nhà chế tạo.
- Hồ sơ, giấy tờ do Đăng kiểm cấp của lần sửa chữa trước.
- Nhật ký khai thác thiết bị được ghi đầy đủ các thông số kỹ thuật, trạng thái kỹ thuật
trong quá trình khai thác.
- Sổ ghi chép hoặc nhật ký theo dõi bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị trong quá
trình khai thác.
- Báo cáo về trạng thái kỹ thuật hiện tại của thiết bị và yêu cầu sửa chữa của người
khai thác.
- Vật tư phụ tùng, kinh phí.
- Phân công người phụ trách làm kế hoạch sửa chữa.
b. Lập kế hoạch sửa chữa
Lập kế hoạch sửa chữa các tàu dựa trên cơ sở những qui định về chu kì sửa chữa và
lên đà của hệ thống sửa chữa dự phòng theo kế hoạch ở nhà máy chuyên dùng.Công
ty tàu biển lập kế hoạch sửa chữa cho các tàu của công ty mình cho 5 năm, hàng năm,
hàng quí và hàng tháng. Khi lập kế hoạch người ta tính kế hoạch khối lượng công việc
sửa chữa, hiện đại hoá, những công việc để cải thiện điều kiện làm việc, sinh hoạt của
11
thuyền viên, tích luỹ quĩ phụ tùng thay thế, dự trữ, đồng thời người ta tính cả chi phí
về phương tiện, thời gian để hoàn thành các công việc kể trên.Kinh phí sửa chữa các
tàu tùy thuộc vào loại sửa chữa và đặc điểm các công việc hoàn thành.Sửa chữa khôi
phục, bổ sung tàu mới, hiện đại hoá các thiết bị… được hạch toán vào quĩ đầu tư cơ
bản.Đại tu, thay thiết bị kỹ thuật tàu, các phần tử tàu, lên đà trong sửa chữa lớn, mua
các thiết bị phụ tùng thay thế hạch toán vào quĩ khấu hao.Sửa chữa thường xuyên
thiết bị kỹ thuật và các bộ phận thân tàu, lên đà, bảo dưỡng, sửa chữa nồi hơi, bảo
dưỡng thiết bị, sửa chữa duy trì, sửa chữa khi khai thác đồng thời chăm sóc kỹ thuật
tàu được hạch toán vào quĩ sửa chữa.
1.1.5 Công tác chuẩn bị đưa tàu vào sửa chữa
a. Công tác chuẩn bị:
Trước khi đưa tàu vào nhà máy chủ tàu có trách nhiệm chuẩn bị đưa tàu đến trạng thái
sao cho có thể bắt đầu đúng hạn việc sửa chữa hoặc lên đà. Danh mục những việc cần
làm và thời gian hoàn thành chúng, chủ tàu bàn bạc thống nhất với nhà máy.Chuẩn bị
để sửa chữa tàu có những công việc sau đây:
- Phần thân tàu (ở những chỗ dự định sửa chữa): vệ sinh hầm hàng, các két sâu, các
két đáy đôi, các két dầu, dọn dẹp vật tư, thiết bị rời, ảnh hưởng đến sửa chữa.
- Phần nồi hơi: xả nước, làm sạch phía lửa, tháo gỡ các dụng cụ đo đạc, điều khiển, cả
gạch chịu lửa và ghi nếu cần.
- Phần máy chính và máy phụ: xả nước, dầu nhờn, dầu đốt, lau chùi làm sạch các thiết
bị, tháo gỡ các dụng cụ đo đạc, điều khiển và các thiết bị tự động.
b. Đưa tàu vào sửa chữa:
Thuyền trưởng chịu trách nhiệm về việc chuẩn bị tàu sửa chữa và lên đà đúng hạn.
Phòng kỹ thuật chịu trách nhiệm chuẩn bị hồ sơ và tài liệu liên quan đến sửa chữa.
Với bất kì loại sửa chữa nào, chính quyền tàu đều phải lập danh mục sửa chữa dựa
trên cơ sở kinh phí được duyệt.Cơ sở để lập hạng mục sửa chữa là:
- Sổ theo dõi tình trạng kỹ thuật của thân tàu và hệ động lực.
- Các tài liệu hướng dẫn sử dụng thiết bị.
- Các biên bản kiểm tra, các yêu cầu, chỉ thị của các cơ quan giám sát kỹ thuật.
- Định mức hao mòn cho phép của các phần tử thân tàu và các chi tiết của các thiết bị
kỹ thuật.
- Các số liệu kiểm tra, xem xét trong quá trình khai thác.
Cùng với danh mục sửa chữa, công ty cần cung cấp cho nhà máy danh sách các thiết
bị phụ tùng thay thế cần thiết cho việc sửa chữa con tàu ấy.
1.1.6 Tổ chức sửa chữa tàu trong điều kiện khai thác
a. Tổ chức sửa chữa trong điều kiện tàu đậu bến:
12
Với yêu cầu tăng lượng hàng hoá chuyên chở của các tàu, cùng với việc đảm bảo các
điều kiện kỹ thuật của các trang thiết bị kỹ thuật và con tàu nói chung, thì việc kéo dài
thời kỳ sử dụng có một ý nghĩa đặc biệt. Thời gian sửa chữa là một phần chủ yếu của
thời gian không sử dụng. Một trong các biện pháp giảm bớt thời gian sửa chữa ở nhà
máy là thực hiện 1 phần công việc của sửa chữa nhỏ và sửa chữa lớn trong thời kỳ sử
dụng. Cùng với sự hoàn thiện cho hệ thống động lực đảm bảo kỹ thuật, thì việc áp
dụng vào các biện pháp kể trên cũng cho phép kéo dài thời gian giữa các lần sửa chữa
1 cách có cơ sở.
Việc bố trí các công việc sửa chữa nhỏ (khi đưa tàu vào sửa chữa) ở các nhà máy sửa
chữa cỡ lớn được trang bị các cơ sở đắt tiền (có quĩ vốn đắt tiền) là không hợp lí. Đối
với các xí nghiệp này chủ yếu thực hiện các công việc sửa chữa mà trong các điều
kiện khác (điều kiện khai thác) không thể thực hiện được và các công việc này đảm
bảo hiệu suất cao nhất cho các thiết bị đắt tiền, quí hiếm được trang bị ở nhà máy sửa
chữa. Các công việc sửa chữa khác được thực hiện trực tiếp trên tàu, só sử dụng các
máy móc nhỏ, có thể chuyển giao cho thuyền viên ở tàu và các thợ sửa chữa, các trạm
sửa chữa nhỏ có nhu cầu tiêu hao vật tư không lớn. Trong thời gian khai thác sử dụng,
các công việc sửa chữa được thực hiệnmột phần các công việc cơ khí, hàn…khi tàu
dừng ở các cảng (trong nước và ngoài nước cũng như khi tàu hành trình).Thay thế các
chi tiết bị khuyết tật bằng các chi tiết mới là phương pháp chủ yếu để tổ chức các
công việc sửa chữa. Các chi tiết đã tháo dỡ có thể chuyển đi để phục hồi ở các xí
nghiệp sửa chữa mới thì việc chuẩn bị sửa chữa cho 1 chuyến đi biển có ý nghĩa to
lớn: thu thập các vật tư, chi tiết phụ tùng dự trữ cần thiết, các dụng cụ đồ nghề, lập
các bẳng thống kê và các kế hoạch sửa chữa, kèm theo sự phân công người thực hiện.
Việc tổ chức sửa chữa một cách khoa học cho phép thực hiện một khối lượng lớn
công việc sửa chữa trong thời gian khai thác.
b. Tổ chức sửa chữa trong điều kiện tàu hành trình trên biển:
Khi lên kế hoạch sửa chữa trong thời gian khai thác cần tính đến các công việc bảo
dưỡng kỹ thuật, đến năng suất thấp của những người thực hiện sửa chữa ở điều kiện
trên tàu so với các điều kiện ở các xí nghiệp sửa chữa tàu (do không có các bộ phận
chuyên môn hoá). Các gián đoạn không tránh khỏi khi tàu hoạt động trong điều kiện
sóng gió, không thể tháo dỡ hoàn toàn các thiết bị đo, cần đảm bảo thường xuyên tình
trạng kỹ thuật ở trong bất kỳ thời điểm nảo khi nhận được mệnh lệnh.
Các kết quả công việc đã được thực hiện và các số liệu kiểm tra được ghi vào các lý
lịch của các thiết bị và vào nhật ký chung của tàu (nhật ký các công việc).
Đối với các tàu có đặc tính khai thác phụ thuộc vào mùa, thời tiết (ví dụ: tàu đánh cá,
tàu sông…) việc chuyển giao một phần các công việc sửa chữa trong nhà máy theo kế
13
hoạch sửa chữa sang thực hiện ở thời kì khai thác không phải luôn luôn hợp lí vì
cường độ làm việc của đội tàu có trong thời gian đánh cá là rất lớn và trong thời gian
này không thực hiện được các công việc sửa chữa theo kế hoạch. Các công việc này
thường được thực hiện bời các trạm xưởng bảo đảm kỹ thuật và khắc phục các sự cố
hư hỏng.
1.2. Phân loại và định ngạch sửa chữa
Sửa chữa là khôi phục đến mưc cần thiết 1 phần hay toàn bộ những phẩm chất khai
thác kỹ thuật của các thiết bị kỹ thuật nói riêng và con tàu nói chung đã bị hao mòn đi
trong quá trình sử dụng.Thông thường, sửa chữa được tiến hành cùng với việc đưa tàu
ra khỏi khai thác và ở nhà máy sửa chữa tàu.Sửa chữa được tiến hành theo hệ thống
dự phòng theo kế hoạch để phòng ngừ sự hao mòn nhanh các thiết bị và cả con tàu, để
đảm bảo chi phí nhỏ nhất cho việc khôi phục các phẩm chất khai thác kỹ thuật.Ở mỗi
dạng sửa chữa người ta đều hoàn thành 1 khối lượng sửa chữa đủ để đảm bảo khai
thác bình thường tàu đến lần sửa chữa tiếp theo theo kế hoạch.Đối với các thiết bị kỹ
thuật tàu, các bộ phận tàu người ta áp dụng 2 loại sửa chữa dự phòng theo kế hoạch,
căn cứ vào nội dung và các khối lượng các công việc được tiến hành, đó là: sửa chữa
thường xuyên (tiểu tu) và đại tu.
Sửa chữa thường xuyên nhằm mục đích giữ gìn trạng thái kỹ thuật bình thương của
các thiết bị kỹ thuật và bao gồm những công việc được hoàn thành theo chu kỳ để
khôi phục hoặc thay thế các chi tiết hoặc nhóm chi tiết hao mòn nhanh.Những công
việc tiêu biểu trong sửa chữa thường xuyên là:
- Tháo lắp vệ sinh các phương tiện kỹ thuật, các chi tiết, các nhóm chi tiết, kiểm tra,
điều chỉnh các khe hở cần thiết trong các mối ghép, khắc phục những hư hỏng nhỏ
- Làm sạch, sơn và khắc phục chỗ không kín, những hư hỏng nhỏ của vỏ và những
biến dạng nhỏ của các phần tử vỏ tàu, hàn những chỗ bị ăn mòn nhỏ và những việc
không yêu cầu phải thay khung, xương của thân tàu.
- Làm sạch, sơn và khắc phục những hư hỏng nhỏở các buồng, phòng.
- Tháo lắp, khắc phục rò rỉ các hệ thống và các phụ tùng đường ống
Trong sửa chữa thường xuyên cho phép thay thế những phần tử riêng biệt nếu như
việc này không kéo theo 1 khối lượng công việc lớn và không làm thay đổi kích thước
của các chi tiết và nhóm chi tiết lắp ghép với nó.
Đại tu các thiết bị kỹ thuật và các bộ phận của thân tàu là khôi phục các phẩm chất
khai thác kỹ thuật của chúng sau một thời gian sử dụng dài và bao gồm những công
việc về khôi phục và thay thế từng phần, từng nhóm chi tiết.
14
Những công việc điển hình trong đại tu là thay và sửa chữa các phương tiện kỹ thuật
tàu, từng khâu, từng nhóm mà những việc này kéo theo một khối lượng công việc lớn
hoặc làm thay đổi kích thước của các chi tiết cùng lắp ghép.
Đối với nguyên cả tàu người ta có các hình thức sửa chữa: sửa chữa nhỏ, sửa chữa lớn
và lên đà.
- Sửa chữa nhỏ: Là cấp sửa chữa thường được tiến hành thường xuyên, khi không đưa
tàu ra khỏi khai thác.
- Sửa chữa lớn: là khôi phục khả năng làm việc của tàu sau một thời gian khai thác dài
(gồm những công việc đại tu các thiết bị kỹ thuật nhằm khôi phục các phẩm chất khai
thác kỹ thuật của tàu đến mức cho trước). Trong từng trường hợp cụ thể, trưởng
phòng kỹ thuật công ty sẽ xác định sự cần thiết phải sửa chữa lớn cho từng tàu.
- Lên đà: Được tiến hành để bảo vệ cho vỏ tàu khỏi gỉ và khỏi bị hà bám, khôi phục
phẩm chất hàng hải của tàu. Trong khi lên đà, người ta triệt tiêu từng hư hỏng của
thân tàu, tổ hợp chân vịt, bánh lái, những phụ tùng đáy – mạn và đóng thời các công
việc kèm theo.Chu kỳ lên đà do Đăng kiểm qui định. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào điều
kiện khai thác cụ thể, mức độ hàm bám, khả năng làm sạch vỏ ở dước nước và lợi ích
kinh tế mà chủ tàu có thể xin thay đổi chu kỳ.
- Sửa chữa khi khai thác là sửa chữa theo kế hoạch, nó định trước việc đưa tàu ra khỏi
khai thác 1 thời gian ngắn để hoàn thành những công việc sửa chữa đòi hỏi phải có
thiết bị của nhà máy và không thể hoàn thành trong quá trình khai thác được. Trong
loại sửa chữa này có cả lên đà nếu cần.
Với các tàu không nằm trong hệ thống sửa chữa dự phòng theo kế hoạch, người ta áp
dụng hai loại sửa chữa: sửa chữa duy trì và sửa chữa khôi phục.Sửa chữa duy trì được
áp dụng trong những trường hợp khi cả tàu hoặc những bộ phận riêng biệt của nó bị
hao màn nhiều, chúng đòi hỏi những chi phí lớn để sửa chữa. Lúc đó người ta chỉ tiến
hành 1 khối lượng công việc sửa chữa nhỏ rồi hạn chế điều kiện khai thác, như vậy,
tàu được khai thác một cách kinh tế đến giới hạn hao mòn.Sửa chữa khôi phục chỉ áp
dụng trong những trường hợp hết sức đặc biệt cho các tàu đặc biệt đắt và đặc biệt
hiếm có sự hao mòn lớn hoặc hư hỏng nặng do tai nạn.
Để triệt tiêu các hư hỏng do tai nạn gây ra của tàu hay của các thiết bị kỹ thuật, người
ta áp dụng sửa chữa do tai nạn. Tuỳ thuộc vào mức độ hư hỏng và khối lượng công
việc người ta có thể tiến hành sửa chữa do tai nạn cùng với việc đưa hoặc không đưa
tàu ra khỏi khai thác.
Trong thời gian sửa chữa nhất thiết phải hoàn thành các công việc liên quan đến kiểm
tra phân cấp để kéo dài thời hạn các giấy chứng nhân theo qui phạm Đăng kiểm.
15
2. Đăng kiểm Việt nam
2.1. Giới thiệu chung về Đăng kiểm Việt Nam
Đăng kiểm Việt Nam là cơ quan kiểm tra, giám sát và phân cấp tàu nhằm đảm bảo an
toàn sinh mạng, hàng hoá và phương tiện hoạt động trên biển, bảo vệ môi trường
biển. Cục Đăng kiểm Việt Nam là tổ chức Đăng kiểm duy nhất được chính phủ Việt
Nam uỷ quyền thực hiện Đăng kiểm tàu biển theo các tiêu chuẩn, qui phạm Việt Nam
và các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam ký kết, công nhận.
Dưới đây là danh mục một số giấy chứng nhận mà Đăng kiểm Việt Nam cấp cho tàu
biển Việt Nam.
+ Giấy chứng nhận cấp tàu.
+ Giấy chứng nhận định biên an toàn tối thiểu.
+ Giấy chứng nhận khả năng đi biển.
+ Giấy chứng nhận an toàn vô tuyến điện.
+ Giấy chứng nhận an toàn kết cấu.
+ Giấy chứng nhận phao bè tự thổi.
+ Giấy phép đài tàu (sử dụng thông tin quốc tế về hàng hải).
+Giấy chứng nhận an toàn trang thiết bị.
+Giấy chứng nhận ngăn ngừa ô nhiễm.
+Giấy chứng nhận cần cẩu.
+Sổ chai gió.
2.2. Kiểm tra hệ thống máy tàu của Đăng kiểm Việt Nam
2.2.1. Kiểm tra phân cấp
Tàu biển sau khi đóng mới, hoán cải, phục hồi hoặc sửa chữa lớn làm thay đổi kích
thước cơ bản, tính năng hoặc công dụng cũng như khi chuyển vùng đăng ký được
Đăng kiểm Việt Nam trực tiếp kiểm tra, giám sát kỹ thuật, nếu thoả mãn các yêu cầu,
qui phạm của Đăng kiểm thì được Đăng kiểm Việt Nam đăng ký và trao giấy chứng
nhận cấp tàu.
Tất cả các tàu biển đã được Đăng kiểm trao cấp và đăng ký phải được Đăng kiểm Việt
Nam thực hiện các đợt kiểm tra duy trì cấp tàu cho phù hợp với các yêu cầu của qui
phạm.
2.2.2. Kiểm tra hàng năm.
Kiểm tra hàng năm được tiến hành trong khoảng thời gian 3 tháng trước hoặc sau
ngày ấn định kiểm tra hàng năm của đợt kiểm tra phân cấp hoặc đợt kiểm tra định kỳ
trước đó.
Kiểm tra hàng năm hệ thống máy là kiểm tra chung toàn bộ hệ thống máy trong
buồng máy và phải thử khả năng hoạt động của một số máy móc thiết bị như qui định.
16
2.2.3. Kiểm tra trên đà.
Kiểm tra trên đà được tiến hành trong vòng 36 tháng tính từ ngày kết thúc kiểm tra
phân cấp hoặc tính từ ngày kết thúc đợt kiểm tra trên đà trước đó. Nội dung công việc
kiểm tra như qui định sau khi làm sạch mặt ngoài của thân tàu.
2.2.4. Kiểm tra trung gian.
Kiểm tra trung gian được thực hiện vào đợt kiểm tra hàng năm lần thứ 2 hoặc thứ 3
sau khi kiểm tra phân cấp hoặc kiểm tra định kỳ. Kiểm tra trung gian hệ thống máy
tàu, ngoài việc kiểm tra chung và thử khả năng hoạt động của máy móc như qui định,
phải kiểm tra các trang thiết bị điện và thiết bị lạnh.
2.2.5. Kiểm tra định kỳ.
Kiểm tra định kỳ phải được tiến hành trong khoảng thời gian 3 tháng trước ngày hết
hạn của giấy chứng nhận phân cấp hoặc sau đợt kiểm tra hàng năm lần thứ 4 và phải
được kết thúc trong thời hạn 3 tháng trước ngày hết hạn của giấy chứng nhận phân
cấp.
Trong đợt kiểm tra định kỳ, ngoài yêu cầu kiểm tra chung như qui định, phải kiểm tra
động cơ Diesel chính và các thiết bị phục vụ máy chính, kiểm tra máy lạnh, các trang
thiết bị điện, các phụ tùng dự trữ. Đồng thời trong đợt kiểm tra định kỳ phải thử khả
năng hoạt động và thử áp lực các thiết bị như qui định.
2.2.6. Kiểm tra liên tục.
Trong hình thức kiểm tra liên tục, mọi hạng mục đưa ra phải được kiểm tra một cách
có hệ thống, liên tục, sao cho khoảng thời gian giữa hai lần kiểm tra của từng hạng
mục không được vượt quá 5 năm. Tuy nhiên trong trường hợp chủ tàu (hoặc công ty
quản lý tàu) thiết lập hệ thống bảo dưỡng máy theo kế hoạch phù hợp với biểu đồ bảo
dưỡng máy được Đăng kiểm duyệt, thì Đăng kiểm cho phép chủ tàu tiến hành kiểm
tra, sửa chữa, bảo dưỡng theo kế hoạch thay cho việc mở máy kiểm tra như qui
định.Trong trường hợp này các biên bản kiểm tra, sửa chữa máy và các trang thiết bị
liên quan phải được trình cho Đăng kiểm càng sớm càng tốt.
2.2.7. Kiểm tra nồi hơi và các thiết bị hâm dầu.
Kiểm tra nồi hơi được thực hiện cùng lúc với kiểm tra định kỳ và trong vòng 36 tháng
kể từ ngày kết thúc kiểm tra phân cấp hoặc kết thúc kiểm tra nồi hơi trước đó. Tuy
nhiên đối với tàu chỉ được trang bị một nồi hơi chính thì 8 năm sau khi tàu được đóng
phải kiểm tra nồi hơi vào các đợt kiểm tra hàng năm, trung gian hoặc định kỳ của tàu.
Vào đợt kiểm tra nồi hơi phải kiểm tra nồi hơi, thiết bị sinh hơi, bình chịu áp lực hơi
nước và thiết bị hâm dầu như qui định.
2.2.8. Kiểm tra trục chân vịt.
17
Kiểm tra thông thường trục chân vịt loại 1 phải được tiến hành trong khoảng thời gian
5 năm tính từ ngày hoàn thành kiểm tra phân cấp hoặc kiểm tra thông thường trục
chân vịt lần trước.
Kiểm tra thông thường trục chân vịt loại 2 phải được tiến hành trong vòng 36 tháng
tính từ ngày hoàn thành kiểm tra phân cấp hoặc kiểm tra thông thường hệ trục trước
đó. Vào đợt kiểm tra thông thường trục chân vịt, phải rút trục kiểm tra như qui định.
CÂU HỎI ÔN TẬP
Câu 1: Trình bày về khái niệm và độ tin cậy của tàu.
Câu 2: Trình bày các công việc cần thực hiện khi lập kế hoạch sửa chữa.
Câu 3: Nội dung công tác đưa tàu vào sửa chữa?
Câu 4: Mục đích, ý nghĩa của việc tổ chức sửa chữa trong điều kiện khai thác?
Câu 5: Trình bày nội dung định nghạch sửa chữa động cơ Diesel tàu thủy.
Câu 6: Trình bày nội dung kiểm tra hệ thống máy tàu của Đăng kiểm Việt nam.
18
CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP GIA CÔNG CẮT GỌT KIM LOẠI
Mã chương: MH.6840111.16.02
Giới thiệu:
Chương này đề cập tới các phương pháp gia công cắt gọt kim loại, tuy nhiên do người
học sẽ được học đầy đủ các phương pháp này ở một môđun khác trong chương trình
học. Vì vậy, các nội dung trong chương này chủ yếu mang tính giới thiệuđể người học
làm quen với các phương pháp gia công cắt gọt.
Mục tiêu:
- Về kiến thức:Trình bày được các khái niệm về các phương pháp gia công cắt gọt
kim loại.
- Về kỹ năng: Phân biệt được các phương pháp gia công cắt gọt kim loại
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Làm việc có kỷ luật, cẩn thận, nghiêm túc, đảm
bảo an toàn lao động và vệ sinh môi trường.
Nội dung chính:
Gia công kim loại bằng cắt gọt là quá trình dùng dụng cụ cắt để hớt bỏ phần kim loại
thừa ra khỏi phôi biến phôi thành sản phẩm. Nó có những đặc điểm sau:
- Gia công được chi tiết từ những vật liệu khác nhau như kim loại, hợp kim, phi kim.
- Cho ta sản phẩm có độ chính xác, độ bóng rất cao, cao nhất trong tất cả các phương
pháp gia công khác.
- Lượng dư gia công lớn, lãng phí kim loại.
- Yêu cầu thiết bị, dụng cụ gia công có độ chính xác, độ cững vững cao.
- Yêu cầu công nhân có trình độ nghề nghiệp cao cả về tay nghề lẫn kiến thức nhất là
khi gia công những chi tiết quan trọng. Chất lượng của sản phẩm phụ thuộc chủ yếu
vào trình độ nghề nghiệp của công nhân.
- Thời gian gia công lâu, năng suất thấp, khấu hao thiết bị dụng cụ lớn nên giá thành
sản phẩm cao.
Gia công cắt gọt (GCCG) bao gồm các phương pháp sau: tiện, phay, bào, xọc, khoan,
khoét, doa, chuốt, cưa, đục, giũa đánh bóng...
1. Tiện kim loại.
1.1. Khái niệm
Tiện là một phương pháp GCCGnhờ thực hiện chuyển động chính do phôi quay tròn,
kết hợp với chuyển động tiến dao là tổng hợp của chuyển động tiến dao dọc (Sd) và
tiến dao ngang (Sng). Tiện kim loại được thực hiện trên các máy tiện vạn năng (Hình
2.1).
19
Hình 2.1. Máy tiện vạn năng
1- Ụ trước, 2- Tay gạt. 3- Hộp xe dao, 4- Ụ sau, 5- Bàn xe dao, 6-Thân máy,
7- Bàn gá dao, 8- Công tắc điện, 9- Hộp động cơ, 10 - Chân máy
1.2 Ứng dụng
Trong thực tế phương pháp tiện được áp dụng để gia công nhiều loại bề mặt khác
nhau như các mặt xoay tròn trong và ngoài, các loại ren, các bề mặt côn, các mặt định
hình…
Độ chính xác của phương pháp tiện phụ thuộc vào chất lượng máy tiện, tình trạng
dụng cụ cắt, tay nghề của công nhân. Độ bóng bề mặt sau khi tiện không cao lắm, chỉ
đạt từ cấp 3÷7.
2. Bào và phay kim loại
2.1. Bào và xọc
Bào và xọc là phương pháp GCCGđược dùng rộng rãi trong sản xuất đơn chiếc, loạt
nhỏ và hàng loạt. Ít phải dùng đồ gá và đạo cụ phức tạp.Người ta có thể thực hiện
theo phương pháp bào ngang hoặc bào dọc
- Khi bào ngang, dao bào chuyển động tịnh tiến theo bề mặt gia công. Khi chạy tiến,
dao hớt đi một lượng kim loại đều nhau dọc theo bề mặt gia công. Khi chạy lùi, dao
được nâng lên để tránh hư hỏng dao và bề mặt chi tiết.
- Bào dọc tương tự bào ngang, nhưng dao được gắn bất động, sự cắt được thực hiện
nhờ sự chuyển động của phôi.
- Xọc chủ yếu để gia công các rãnh then trong lỗ hoặc dọc răng.
2.2 Phay
Phay là phương pháp GCCG, trong đó phôi cố định hoặc dịch chuyển còn dụng cụ cắt
quay tròn tạo ra tác dụng cắt. Chuyển động tiến dao thông thường do máy, cũng có
khi do dao hoặc cảdao và máy cùng thực hiện theo hai hướng khác nhau.
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Tổ chức và công nghệ sửa chữa - Nghề: Khai thác máy tàu thủy", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_to_chuc_va_cong_nghe_sua_chua_nghe_khai_thac_may.pdf

