Giáo trình mô đun Bảo dưỡng và sửa chữa hệ thống bôi trơn và hệ thống làm mát - Nghề: Công nghệ ô tô

BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI  
TỔNG CỤC DẠY NGHỀ  
GIÁO TRÌNH  
Mô đun: Bảo dưỡng và sửa chữa hệ  
thống bôi trơn và hệ thống làm mát  
NGHỀ: CÔNG NGHỆ Ô TÔ  
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG  
(Ban hành kèm theo Quyết định số:...)  
1
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN:  
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được  
phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo.  
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh  
doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.  
MÃ TÀI LIỆU: MĐ 24  
LỜI GIỚI THIỆU  
Trong nhiều năm gần đây tốc độ gia tăng số lượng và chủng loại ô tô ở  
nước ta khá nhanh. Nhiều kết cấu hiện đại đã trang bị cho ô tô nhằm thỏa mãn  
càng nhiều nhu cầu của giao thông vận tải. Trong quá trình sử dụng, trạng thái  
kỹ thuật của hệ thống bôi trơn và hệ thống làm mát động cơ dần thay đổi theo  
hướng xấu đi, dẫn tới hư hỏng và giảm độ tin cậy. Qúa trình thay đổi có thể  
kéo dài theo thời gian (Km vận hành của ô tô) và phụ thuộc vào nhiều nguyên  
nhân như: chất lượng vật liệu, công nghệ chế tạo và lắp ghép, điều kiên và  
môi trường sử dụng...Làm cho các chi tiết, bộ phận mài mòn và hư hỏng theo  
thời gian, cần phải được kiểm tra, chẩn đoán để bảo dưỡng và sửa chữa kịp  
thời. Nhằm duy trì tình trạng kỹ thuật của hệ thống bôi trơn và hệ thống làm  
mát ở trạng thái làm việc với độ tin cậy và an toàn cao nhất.  
Để phục vụ cho học viên học nghề và thợ sửa chữa ô tô những kiến thức cơ  
bản cả về lý thuyết và thực hành bảo dưỡng, sửa chữa hệ thống Bôi trơn và Làm  
mát. Với mong muốn đó giáo trình được biên soạn, nội dung giáo trình bao gồm  
sáu bài:  
Bài 1. Tháo lắp, nhận dạng hệ thống bôi trơn  
Bài 2. Bảo dưỡng hệ thống bôi trơn  
Bài 3. Sửa chữa hệ thống bôi trơn  
Bài 4. Tháo lắp, nhận dạng hệ thống làm mát  
Bài 5. Bảo dưỡng hệ thống làm mát  
Bài 6. Sửa chữa hệ thống làm mát  
Kiến thức trong giáo trình được biên soạn theo chương trình Tổng cục Dạy  
nghề, sắp xếp logic từ nhiệm vụ, cấu tạo, nguyên lý hoạt động của hệ thống Bôi  
trơn và Làm mát đến cách phân tích các hư hỏng, phương pháp kiểm tra và quy  
trình thực hành sửa chữa. Do đó người đọc có thể hiểu một cách dễ dàng.  
Xin chân trọng cảm ơn Tổng cục Dạy nghề, Khoa Động lực trường Cao  
đẳng nghề Cơ khí Nông nghiệp cũng như sự giúp đỡ quý báu của đồng nghiệp đã  
giúp tác giả hoàn thành giáo trình này.  
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng không tránh khỏi sai sót, tác giả rất mong  
nhận được ý kiến đóng góp của người đọc để lần xuất bản sau giáo trình được  
hoàn thiện hơn.  
2
Hà Nội, ngày…..tháng…. năm 2012  
Tham gia biên soạn  
1. Chủ biên: Dương Mạnh Hà  
3
MỤC LỤC  
ĐỀ MỤC  
1 Lời giới thiệu  
2 Mục lục  
TRANG  
2
4
3 Bài 1. Tháo lắp, nhận dạng hệ thống bôi trơn  
4 Bài 2. Bảo dưỡng hệ thống bôi trơn  
7
35  
5 Bài 3. Sửa chữa hệ thống bôi trơn  
6 Bài 4. Tháo lắp, nhận dạng hệ thống làm mát  
7 Bài 5. Bảo dưỡng hệ thống làm mát  
8 Bài 6. Sửa chữa hệ thống làm mát  
53  
61  
86  
98  
9 Tài liệu tham khảo  
123  
4
BẢO DƯỠNG VÀ SỬA CHỮA HỆ THỐNG BÔI TRƠN VÀ  
HỆ THỐNG LÀM MÁT  
Mã mô đun: MĐ 24  
I. Vị trí, ý nghĩa, vai trò môn học/mô đun:  
- Mô đun được bố trí dạy sau các môn học/ mô đun sau: MH 07, MH 08, MH 09,  
MH 10, MH 11, MH 12, MH13, MH 14, MH 15, MH 16, MH 17, MĐ 18, MĐ  
19, MĐ 20, MĐ 21, MĐ 22, MĐ 24.  
- Là mô đun chuyên môn nghề.  
II. Mục tiêu của môn học/mô đun:  
- Trình bày được nhiệm vụ, phân loại, cấu tạo, nguyên lý làm việc của hệ thống  
bôi trơn và hệ thống làm mát  
- Tháo lắp, kiểm tra, bảo dưỡng, sửa chữa được hệ thống bôi trơn và hệ thống làm  
mát đúng quy trình, quy phạm, đúng phương pháp và đạt tiêu chuẩn kỹ thuật do  
nhà chế tạo quy định  
- Giải thích được sơ đồ cấu tạo và nguyên lý làm việc chung của hệ thống bôi trơn  
và hệ thống làm mát  
- Phân tích được những hiện tượng, nguyên nhân sai hỏng trong hệ thống bôi trơn  
và hệ thống làm mát  
- Trình bày được phương pháp kiểm tra, bảo dưỡng và sửa chữa những sai hỏng  
các chi tiết, bộ phận của hệ thống bôi trơn và hệ thống làm mát  
- Sử dụng đúng, hợp lý các dụng cụ kiểm tra, bảo dưỡng và sửa chữa đảm bảo  
chính xác và an toàn  
- Chấp hành đúng quy trình, quy phạm trong nghề công nghệ ô tô  
- Rèn luyện tính kỷ luật, cẩn thận, tỉ mỉ của học viên  
III. Nội dung chính của môn học /mô đun:  
BÀI 1: THÁO LẮP, NHẬN DẠNG HỆ THỐNG BÔI TRƠN  
Tháo lắp, nhận dạng hệ thống bôi trơn  
Giới thiệu chung về bài:  
Mã bài: MĐ 24 - 01  
Hệ thống bôi trơn được sử dụng rộng rãi bởi chúng có nhiều tính năng ưu  
việt: độ bền tốt và có kích thước nhỏ gọn, tiết kiệm nhiên liệu và được trang bị rất  
hiện đại. Việc tháo lắp, bảo dưỡng sửa chữa là rất quan trọng nó làm tăng tuổi thọ  
của ô tô. Với mục tiêu nghiên cứu quá trình sửa chữa và bảo dưỡng là một trong  
mục tiêu rất quan trọng .  
Mục tiêu:  
- Trình bày được nhiệm vụ, yêu cầu, phân loại, cấu tạo và nguyên lý làm  
việc của hệ thống bôi trơn dùng trong động cơ  
- Tháo, lắp, nhận dạng, bảo dưỡng và sửa chữa được hệ thống bôi trơn,  
đúng quy trình đảm bảo kỹ thuật và an toàn  
- Chấp hành đúng quy trình, quy phạm trong nghề công nghệ ô tô  
5
- Rèn luyện tính kỷ luật, cẩn thận, tỉ mỉ của học viên.  
Nội dung chính:  
1.1. NHIỆM VỤ, YÊU CẦU VÀ PHÂN LOẠI CỦA HỆ THỐNG BÔI TRƠN  
1.1.1 Nhiệm vụ của hệ thống và dầu bôi trơn  
Hệ thống bôi trơn có nhiệm vụ: Liên tục cung cấp dầu bôi trơn đến bề mặt  
ma sát của các chi tiết để giảm tiêu hao năng lượng do ma sát, chống mài mò do  
cơ học và mài mòn do hoá học, rửa sạch các bề mặt do mài mòn gây ra, làm  
nguội bề mặt ma sát, tăng cường sự kín khít của khe hở.  
Dầu bôi trơn có nhiệm vụ: Bôi trơn, làm mát, tẩy rửa, bảo vệ các bề mặt ma  
sát và làm kín một số khe hở lắp ghép.  
Bôi trơn: Dầu đến các bề mặt ma sát, làm giảm tổn thất ma sát: Dầu bôi  
trơn đống vai trò làm đệm ngăn cách và làm giảm ma sát giữa các bề mặt ma sát.  
Làm mát các ổ trục: Do ma sát làm cho các bề mặt ma sát bị nóng lên, khi dầu lưu  
thông qua sẽ hấp thụ và vận chuyển một phần nhiệt lượng đó đi làm mát.  
Tẩy rửa các bề mặt ma sát: Do ma sát giữa các bề mặt làm phát sinh những  
mạt kim loại, khi dầu lưu thông qua sẽ tẩy rửa các tạp chất làm sạch các bề mặt  
ma sát.  
Làm kín: Tại các bề mặt tiếp xúc dầu sẽ điền lấp đi những khe hở nhỏ.  
Bảo vệ bề mặt các chi: Dầu bôi trơn phủ trên bề mặt các chi tiết máy sẽ  
ngăn không cho không khí tiếp xúc với các bề mặt kim loại, hạn chế được hiện  
tượng ô xy hoá.  
Bề mặt các chi tiết dù được gia công chính xác với độ bóng đến đâu song  
vẫn tồn tại những nhấp nhô bề mặt (nhấp nhô tế vi) do mũi dao khi gia công tạo  
ra, nếu nhìn bằng kính phóng đại nhiều lần ta thấy những nhấp nhô tế vi có dạng  
răng cưa. Khi hai chi tiết tiếp xúc với nhau, nhất là khi chúng chuyển động tương  
đối trên bề mặt của nhau sẽ sinh ra một lực cản rất lớn (lực ma sát). Lực ma sát  
là nguyên nhân gây ra sự cản trở chuyển động bề mặt các chi tiết sinh nhiệt, là  
nguyên nhân của sự mài mòn và biến chất bề mặt. Do đó bằng một cách nào đó  
ta chống lại lực ma sát này. Để giảm lực ma sát ta tạo ra một lớp dầu ngăn giữa  
hai bề mặt ngăn cách, ma sát kiểu này gọi là ma sát ướt. Trong thực tế rất khó  
tạo được một lớp dầu ngăn cách hoàn chỉnh do nhiều yếu tố tạo nên (do độ nhớt  
dầu, sự biến chất phá huỷ dầu do khe hở giữa hai bề mặt ma sát …), những vị trí  
hai bề mặt ma sát trực tiếp, tiếp xúc với nhau, ma sát kiểu này là ma sát nửa ướt.  
Một số cặp chi tiết lớp dầu bôi trơn chỉ được tạo một màng rất mỏng dễ phá huỷ  
(sụt áp,…) đó là ma sát giới hạn.  
1.1.2 Yêu cầu của hệ thống và dầu bôi trơn  
Dầu nhờn phải được đưa đi đến tất cả các vị trí cần bôi trơn, lưu lượng và  
áp suất dầu bôi trơn phải phù hợp với từng vị trí bôi trơn.  
6
Hệ thống dầu nhờn phải đơn giản, làm việc tin cậy đảm bảo suất tiêu hao  
dầu nhờn là nhỏ nhất.  
Chất bôi trơn phải phù hợp với từng loại động cơ (2 kỳ hay 4 kỳ, tăng áp  
hay không tăng áp, tốc độ cao hay thấp,…), phù hợp với chế độ, điều kiện, nhiệm  
vụ của cơ cấu, hệ thống mối ghép,… , và nó phải bôi trơn. Phải dễ kiếm có lượng  
đủ dùng, giá thành có thể chấp nhận được, lại không độc hại. Bền vững về tính  
chất bôi trơn, không hoặc ít tạo cấn, tạo bột: không hoặc ít bị phân giải không gây  
cháy, nổ,…  
Chất bôi trơn phải phải được đưa tới chỗ cần bôi trơn một cách liên tục, đều  
đặn với lưu lượng, trạng thái (áp suất, nhiệt độ) tính chính xác và có thể kiểm tra,  
điều chỉnh và điều khiển được.  
Các thiết bị, bộ phận,… của HTBT phải đơn giản dễ sử dụng, tháo lắp,  
kiểm tra, điều chỉnh,… có khả năng tự động hoá cao, nhưng giá thành vừa phải.  
1.1.3 Phân loại các phương pháp bôi trơn  
Theo đặc điểm phụ tải ở các ổ trục, công suất, tốc độ của động cơ và vị trí  
cần bôi trơn mà sử dụng các phương pháp bôi trơn cho phù hợp.  
1.1.3.1 Bôi trơn định kỳ (bôi trơn thủ công)  
Là phương pháp bôi trơn theo định kỳ quy định, được thực hiện bằng các  
dụng cụ đơn giản để bôi trơn cho các chi tiết chiụ lực nhỏ, ở xa trung tâm đáy dầu  
và khó sử dụng các phương pháp bôi trơn khá.  
1.1.3.2 Bôi trơn đơn giản (pha dầu trong nhiên liệu)  
Bằng cách pha dầu bôi trơn trong nhiên liệu (hình 1.1) lợi dụng nạp nhiên  
liệu vào động cơ, do dầu bôi trơn có khả năng dính bám cao và không bị phân  
huỷ ở nhiệt độ cao nên có những hạt dầu bôi trơn được giữ lại trên các bề mặt  
ma sát.  
- Cách thứ nhất: xăng và dầu được hoà trộn trước.  
- Cách thứ hai: dầu và xăng chứa ở hai thùng riêng rẽ trên động cơ. Trong  
quá trình làm việc, dầu và xăng được hòa trộn song song, tức là dầu và xăng  
được trộn theo định lượng khi ra khỏi thùng chứa.  
Hình 1.1 Bôi trơn đơn giản  
7
Một cách hoà trộn khác là dùng bơm phun dầu trực tiếp vào họng khuếch  
tán hay vị trí bướm ga. Bơm được điều chỉnh theo tốc độ số vòng quay của động  
và vị trí bướm ga nên định lượng dầu hoà trộn rất chính xác và có thể tối ưu hoá  
ở các chế độ tốc độ và tải trọng khác nhau.  
Kiểu bôi trơn này đơn giản, không có hệ thống bôi trơn riêng, do đó phù  
hợp hay được sử dụng bôi trơn cho những động cơ xăng hai kỳ công suất nhỏ.  
1.1.3.3 Bôi trơn vung té  
Lợi dụng tính dính bám của dầu bôi trơn, sự làm việc của các chi tiết chuyển động  
với tốc độ cao, do đó hay sử dụng để bôi trơn cho xy lanh của động cơ, con đội …  
nhờ sự quay của má khuỷu.  
Hình 1.2 Bôi trơn vung té  
1.1.3.4 Bôi trơn cưỡng bức  
Là phương pháp bôi trơn các bề mặt ma sát được thực hiện bằng dầu có áp  
suất theo quy định.  
Hệ thống bôi trơn cưỡng bức trong động cơ ô tô thường sử dụng hai loại:  
Hệ thống bôi trơn cưỡng bức đáy dầu ướt và hệ thống bôi trơn cưỡng bức đáy dầu  
khô.  
Hệ thống bôi trơn cưỡng bức đáy dầu ướt là loại được sử dụng trong động  
cơ ô tô hiện nay.  
Kiểu này có ưu điểm là đưa dầu bôi trơn đến mọi vị trí cần thiết nên được  
sử dụng nhiều.  
Trong các phương pháp bôi trơn, phương pháp bôi trơn cưỡng bức được sử  
dụng chủ yếu trong các động cơ ô tô.  
1.1.4 Một số thông số sử dụng của dầu bôi trơn  
Tính chất quan trọng nhất liên quan đến chất lượng dầu bôi trơn là độ nhớt  
của dầu bôi trơn. Mỗi loại động cơ yêu cầu dầu bôi trơn có một độ nhớt nhất định  
phù hợp với điều kiện làm việc của động cơ. Dầu có độ nhớt quá lớn (dầu quá  
đặc) thường khó lưu động nên trong giai đoạn khởi động động cơ dầu khó đén  
được tất cả các bề mặt ma sát, đặc biệt là các bề mặt ma sát ở xa bơm dầu. Do đó,  
8
một số bề mặt ma sát có thiếu dầu khi khởi động lạnh nên bị mòn nhanh. Ngược  
lại, dầu có độ nhớt quá nhỏ (dầu quá loãng) thường dễ bị chèn ép ra khỏi các bề  
mặt ma sát khi chịu tải lớn nên bề mặt chi tiết dễ bị ma sát khô và bị mòn nhanh.  
Các loại dầu bôi trơn thường có ký hiệu chỉ số trên bao bì thể hiện tính  
năng và phạm vi sử dụng của chúng.  
1.1.4.1 Chỉ số SAE  
Đây là chỉ số phân loại dầu theo độ nhớt ở 1000 C và -180 C của Hiệp hội kỹ  
sư ô tô Hoa Kỳ. Chỉ số SAE cho biết cấp độ nhớt chia thành hai loại:  
- Loại đơn cấp là loại chỉ có một chỉ số độ nhớt. Ví dụ: SAE- 40, SAE- 50,  
SAE- 20W. Cấp độ nhớt có chữ W (Winter: mùa đông) dựa trên cơ sở độ nhớt ở  
nhiệt độ thấp tối đa, còn cấp độ nhớt không có chữ W chỉ dựa trên cơ sở độ nhớt ở  
1000C.  
Hình 1.3. Chọn chỉ số độ nhớt và phạm vi nhiết độ áp dụng theo phân loại SAE  
- Loại đa cấp là loại có hai chỉ số độ nhớt như SAE- 20W/50, ở nhiệt độ  
thấp có cấp độ nhớt giống như loại đơn cấp SAE- 20W, còn ở nhiệt độ cao có cấp  
độ nhớt cùng với loại đơn cấp SAE- 50. Dầu có chỉ số độ nhớt đa cấp có phạm vi  
nhiệt độ môi trường sử dụng rộng hơn so với loại đơn cấp.  
1.1.4.2 Chỉ số API  
API là chỉ số đánh giá chất lượng dầu nhớt của Viện hoá dầu Hoa Kỳ. Chỉ  
số API cho biết chất lượng dầu nhớt khác nhau theo chủng loại động cơ, chia làm  
hai loại:  
- Dầu chuyên dụng là laọi dầu chỉ dùng cho một trong hai loại động cơ  
xăng hoặc Diesel.  
Ví dụ, hai loại dầu API - SH và API - CE, chữ số thứ nhất sau dấu ‘-‘ chỉ  
loại động cơ: S- cho động cơ xăng, C- động cơ Diesel, chữ số thứ hai chỉ cấp chất  
lượng dầu tăng dần theo thứ tự chữ cái.  
9
- Dầu đa dụng là loại dầu bôi trơn có thể dùng cho tất cả các loại động cơ.  
Ví dụ, dầu có chỉ số API - SG/CD có nghĩa dùng cho động cơ xăng với cấp chất  
lượng G, còn dùng cho động cơ Diesel với cấp chất lượng D. Chỉ số cho động cơ  
nào (S hay C) viết trước dấu ‘/’ có nghĩa ưu tiên dùng cho động cơ đó.  
1.2 CẤU TẠO NGUYÊN LÝ LÀM VIỆC CỦA HỆ THỐNG BÔI TRƠN  
1.2.1 Hệ thống bôi trơn cưỡng bức  
1.2.1.1 Sơ đồ cấu tạo hệ thống bôi trơn cưỡng bức các te ướt (Hình 1.4)  
Hình 1.4. Sơ đồ hoạt động của hệ thống bôi trơn  
1. Các te; 2. Lưới lọc sơ; 3. Bơm dầu; 4. Van an toàn bơm dầu; 5. Bầu lọc thô;  
6. Van an toàn; 7. Đồng hồ chỉ áp suất dầu; 8. Đường dầu chính; 9, 10. Đường dầu  
bôi trơn trục khuỷu, trục cam; 11. Bầu lọc tinh; 12. Két làm mát dầu; 13. Van an toàn;  
14. Đồng hồ báo nhiệt độ dầu; 15. Nắp rót dầu ; 16. Que thăm dầu.  
Toàn bộ lượng dầu của hệ thống bôi trơn được chứa trong các te của động  
cơ.  
Van an toàn 4 là van tràn có tác dụng khống chế áp suất dầu sau bơm.  
Khi bầu lọc bị tắc, van an toàn 6 của bầu lọc thô sẽ mở, phần lớn dầu sẽ  
không qua lọc thô lên thẳng đường dầu chính đi bôi trơn, tránh hiện tượng thiếu  
dầu cung cấp đến các bề mặt cần bôi trơn.  
Khi nhiệt độ dầu lên cao quá, do độ nhớt giảm, van khống chế lưu lượng 13  
sẽ đóng hoàn toàn để dầu qua két làm mát rồi lại trở về các te.  
1.2.1.2 Hoạt động hệ thống bôi trơn cưỡng bức các te ướt  
Dầu bôi trơn được hút từ các te qua lưới lọc sơ đẩy lên bình lọc nhờ bơm  
dầu qua bình lọc, dầu được làm mát nhờ két làm mát dầu và đi vào đường dẫn  
dầu chính, từ đây dầu được dẫn đi đến bôi trơn các cổ chính của trục khuỷu, cổ  
10  
chính trục cam, dầu từ cổ trục chính trục khuỷu được dẫn tới bôi trơn cổ khuỷu  
nhờ rãnh khoan xiên, cũng từ đường dầu chính có đường dẫn dầu đi bôi trơn cho  
trục đòn gánh trích dầu bôi trơn cho hộp bánh răng phân phối. Bôi trơn cho  
piston, xi lanh, vòng găng bôi trơn và làm mát piston nhờ sự vung té của dầu má  
khuỷu hoặc dùng vòi phun dầu (ở một số động cơ), bôi trơn giàn đũa đẩy, supáp,  
con đội nhờ dầu thừa từ trục đòn gánh đưa xuống.  
1.2.2 Sơ đồ bố trí HTBT động cơ (Dùng bầu lọc ly tâm hoàn toàn)  
1.2.2.1 Sơ đồ cấu tạo (Hình 1.5)  
1.2.2.2 Nguyên lý hoạt động  
Dầu được chứa trong đáy dầu, khi động cơ làm việc, bơm hút dầu đến hai  
khoang (tầng) của bơm: Khoang trên đưa dầu đến bầu lọc tinh để lọc sạch  
(khoảng 15% dầu sau khi lọc sơ bộ trở về đáy dầu) và cung cấp cho đường dầu  
chính, khoang dưới dầu cung cấp dầu cho két làm mát.  
Hình 1.5. Hệ thống bôi trơn  
1. Phao hút dầu; 2. Van đường dầu ra két mát; 3. Bơm dầu; 4. Đường dầu lên  
bầu lọc tinh; 5. Hộp phân phối dầu; 6. Bầu lọc tinh; 7. Bầu lọc không khí; 8. Dầu bôi  
trơn trong máy nén khí; 9. Đường dầu bôi trơn cặp bánh răng phối khí; 10. Đường  
dầu lên máy nén khí; 11. Đường dầu từ máy nén khí về đáy dầu; 12. Đường dầu từ  
két mát về đáy dầu; 13. Đường dầu bôi trơn cổ trục, cổ khuỷu; 14. Đường dầu bôi  
trơn trục cam; 15. Đáy dầu.  
11  
Từ đường dầu chính, đến hộp chia dầu chia thành ba nhánh đi bôi trơn cho  
các cổ trục, cổ khuỷu, chốt piston; các cổ trục cam, trục đòn bẩy (cò mổ), đòn bẩy,  
đuôi xu páp và thanh đẩy, con đội, bề mặt cam và máy nén khí.  
Trường hợp bầu lọc có cản trở lớn, van an toàn bầu lọc mở, dầu sẽ qua van  
bổ xung vào đường dầu chính đi bôi trơn cho động cơ.  
Ngoài các chi tiết được bôi trơn cưỡng bức, một số chi tiết như: Xy lanh,  
piston ... được bôi trơn nhờ vung té khi trục khuỷu động cơ quay.  
Khi nhiệt độ dầu trong hệ thống khoảng (75 - 80)0C, van dầu ra két làm mát  
mở, dầu qua van đến két mát. Khi qua két mát nhiệt độ dầu giảm và trở về đáy dầu  
để giữ cho nhiệt độ dầu trong hệ thống không vượt quá nhiệt độ quy định.  
Từ tầng dưới, dầu được đẩy đến két làm mát, Khi qua két mát nhiệt độ dầu giảm  
để ổn định nhiệt độ dầu trong hệ thống không vượt quá nhiệt độ quy định.  
1.2.3 Sơ đồ hệ thống bôi trơn động cơ ZMZ 53 (Dùng bầu lọc ly tâm không hoàn  
toàn)  
1.2.3.1 Sơ đồ cấu tạo (Hình 1.6)  
1.2.3.2 Nguyên lý hoạt động  
10 9  
8
7
6
5
4
3
2
1
Hình 1.6. Hệ thống bôi trơn ZMZ 53  
1. Phao hút dầu; 2. Van an toàn bơm; 3. Khoang dưới của bơm dầu; 4.  
Khoang trên của bơm dầu; 5. Cảm biến áp suất dầu; 6. Bầu lọc ly tâm; 7. Trục dàn  
đòn bẩy; 8. Van dầu ra két mát; 9. Khoá tay; 10. Két mát dầu.  
12  
Dầu được chứa trong đáy dầu, khi động cơ làm việc, bơm hút dầu đến hai  
khoang (tầng) của bơm: Khoang trên cung cấp cho đường dầu chính, khoang dưới  
cung cấp dầu cho bầu lọc ly tâm và két làm mát.  
Từ đường dầu chính, dầu chia thành hai nhánh đi bôi trơn cho các cổ trục,  
cổ khuỷu, chốt piston; các cổ trục cam, trục đòn bẩy (cò mổ), đòn bẩy, đuôi xu  
páp và thanh đẩy, con đội, bề mặt cam.  
Ngoài các chi tiết được bôi trơn cưỡng bức, một số chi tiết như: Xy lanh,  
piston ... được bôi trơn nhờ vung té khi trục khuỷu động cơ quay.  
Khi nhiệt độ dầu trong hệ thống khoảng 600C, van dầu ra két làm mát mở,  
dầu qua van đến két mát. Khi qua két mát nhiệt độ dầu giảm và trở về đáy dầu để  
giữ cho nhiệt độ dầu trong hệ thống không vượt quá nhiệt độ quy định.  
Từ tầng dưới, dầu được cung cấp cho bầu lọc ly tâm và két làm mát. Tại  
bầu lọc ly tâm sau khi lọc sạch dầu được bổ xung về đáy dầu, khi qua két mát  
nhiệt độ dầu giảm để ổn định nhiệt độ dầu trong hệ thống không vượt quá nhiệt độ  
quy định.  
1.2.4 Hệ thống bôi trơn cưỡng bức các te khô  
Hệ thống bôi trơn các te khô khác cơ bản với hệ thống bôi trơn các te ướt ở  
chỗ nó có thêm một đến hai bơm làm nhiệm vụ chuyển dầu từ các te (sau khi dầu  
bôi trơn rơi xuống các te) qua két làm mát 13 ra thùng chứa 3 bên ngoài các te  
động cơ. Từ đây, dầu được bơm lấy đi bôi trơn giống như ở hệ thống bôi trơn các  
te ướt.  
Hình 1.7. Hệ thống bôi trơn các te khô  
1. Các te; 2. Bơm dầu; 3. Thùng dầu; 4. Lưới lọc; 5. Bơm dầu đi bôi trơn; 6. Bầu  
lọc thô; 7. Đồng hồ báo áp suất dầu; 8. Đường dầu chính; 9,10. Đường dầu đi bôi trơn  
trục khuỷu, trục cam; 11. Bầu lọc tinh; 12. Đồng hồ báo nhiệt độ dầu; 13. Két làm mát  
dầu  
13  
Hệ thống bôi trơn các te khô cấu tạo phức tạp hơn hệ thống bôi trơn các e  
ướt vì có thêm bơm chuyển, nên thường được sử dụng cho động cơ Diesel lắp trên  
máy ủi, máy kéo,...  
1.3 CÁC BỘ PHẬN CỦA HỆ THỐNG BÔI TRƠN  
1.3.1 Bơm dầu  
1.3.1.1 Nhiệm vụ  
Tạo áp suất cho dầu bôi trơn để đưa dầu bôi trơn từ các te lên bình lọc một  
cách tuần hoàn và liên tục.  
1.3.1.2 Phân loại  
- Bơm dầu kiểu bánh răng (bánh răng ăn khớp trong và bánh răng ăn khớp  
ngoài)  
- Bơm dầu kiểu cánh gạt  
1.3.1.3 Bơm dầu kiểu bánh răng  
a. Bơm dầu kiểu bánh răng khớp ngoài.  
- Cấu tạo:  
Hình 1.8 là bơm dầu bánh răng ăn khớp ngoài gồm có cặp bánh răng ăn  
khớp 3; 4 đặt trong thân 8 và nắp 2, bánh răng chủ động 4 gắn chặt trên trục  
quay 5.  
Trục quay 5 quay trên bạc đồng ép trên thân và nắp, một đầu trục 5 thò ra  
ngoài để lắp bánh răng dẫn động 1.  
Bánh răng bị động 3 quay tròn trên trục 6 lắp cố định với thân. Trên thân  
có đường ống hút 8 và đường ống đẩy 11 thân bơm có mặt bích để bắt bơm vào  
thân động cơ. Chốt 13 dùng để định vị chính xác vị trí lắp bánh răng 1 với bánh  
răng của trục khuỷu.  
Hình 1.8. Bơm dầu bánh răng ăn khớp ngoài  
1. Bánh răng nhận truyền động; 2. Nắp bơm; 3. Bánh răng bị động; 4. Bánh  
răng chủ động; 5. Trục chủ động; 6. Trục bị động; 7,9. Chốt định vị; 8. Ống hút;  
10. Bộ phận thu dầu; 11. Ống đẩy; 12. Then; 13. Chốt.  
14  
Đa số các bơm dầu có cấu tạo tương tự như nhau chỉ khác nhau ở hình dáng,  
kích thước, cách bố trí nhận truyền động và áp suất, lưu lượng bơm.  
- Hoạt động:  
Hình 1.9. Sơ đồ làm việc của  
bơm dầu kiểu bánh răng ăn khớp  
ngoài  
1. Bánh răng chủ động; 2. Đường dầu  
ra;  
3. Bánh răng bị động; 4. Lưới lọc;  
5. Đường dầu vào; 6. Thân bơm;  
7. Van xả; 8. Ốc điều chỉnh van;  
A. Khoang hút; B. Khoang đẩy.  
Khi trục khuỷu quay qua bộ phận truyền động (cặp bánh răng, trục truyền,  
bánh răng chủ động quay kéo bánh răng bị động quay theo (như hình vẽ ) ở vùng  
A do các răng ra khớp tạo nên khoảng trống dầu được hút từ đáy vào bơm, đồng  
thời dầu trong các khe răng được chuyển sang vùng B. Ở vùng B các răng vào  
khớp ép dầu lên ống đẩy các quá trình hút- chuyển đẩy dầu liên tục xảy ra.  
Khi cặp răng thứ nhất còn chưa hết ăn khớp thì cặp thứ hai đã vào khớp  
tạo ra khoảng kín chứa đầy dầu. Khi áp suất trong mạch dầu lớn hơn qui định thì  
van xả mở giảm tải cho bơm.  
b. Bơm dầu kiểu bánh răng khớp trong  
- Cấu tạo:  
Hình 1.10. Bơm dầu bánh răng ăn khớp trong  
1. Ốc điều chỉnh van; 2. Lò xo van; 3. Piston van; 4. Thân bơm; 5. Vỏ bơm;  
6. Bánh răng chủ động; 7. Bánh răng bị động; 8. Lưới lọc dầu; 9. Ống hút  
15  
Hình 1.10 là sơ đồ cấu tạo của bơm dầu bánh răng ăn khớp trong, cấu tạo  
gồm có bánh răng chủ động gắn chặt với trục phía đầu trục gắn bánh răng truyền  
động, hoặc bên trong bánh răng chủ động có dạng hình vuông ăn khớp với trục  
khuỷu (một số động cơ), còn bánh răng bị động quay trơn trong vỏ bơm, cặp  
bánh răng này lắp bên trong thân bơm, trên thân bơm chế tạo rãnh dẫn dầu vào  
dẫn dầu ra, tại đường dẫn dầu vào có lắp ống hút và lưới lọc dầu, ở đường dầu ra  
lắp bình lọc, trên thân có bố trí van xả dầu.  
- Hoạt động.  
Hình 1.11. Sơ đồ làm việc của bơm dầu kiểu bánh răng ăn khớp trong  
Khi trục khuỷu quay qua bộ phận truyền động bánh răng chủ động quay  
kéo bánh răng bị động quay theo (như hình vẽ) ở phía đường hút khe hở răng  
giữa bánh răng chủ động và bánh răng bị động luôn có xu hướng mở rộng nên  
dầu được hút vào bơm, đồng thời dầu trong các khe răng được chuyển sang  
đường đẩy ở đường đẩy khe hở giữa hai bánh răng thu hẹp dần nên đẩy dầu đi  
bôi trơn  
1.3.1.4 Bơm cánh gạt  
Hình 1.12. Bơm dầu kiểu cánh gạt  
1. Thân bơm; 2. Đường dầu vào; 3. Cánh gạt; 4. Đường dầu ra;  
5. Rotor; 6. Trục dẫn động; 7. Lò xo  
16  
Rotor 5 lắp lệch tâm với thân bơm 1, có các rãnh lắp các phiến trượt 3. Khi  
rotor quay, do lực li tâm và lực ép của lò xo 7, phiến trượt 3 luôn tỳ sát bề mặt vỏ  
bơm 1 tạo thành các không gian kín và do đó guồng dầu từ đường dầu áp suất  
thấp 2 sang đường dầu áp suất cao 4. Bơm cánh gạt có ưu điểm rất đơn giản, nhỏ  
gọn nhưng đồng thời cũng có nhược điểm là mài mòn tiếp xúc giữa cánh gạt và  
thân bơm rất nhanh.  
1.3.2 Két làm mát dầu  
1.3.2.1 Nhiệm vụ  
Hạ thấp nhiệt độ của dầu tới mức quy định định khi động cơ làm việc (75 -  
80)0C để đảm bảo tính chất lý hoá của dầu bôi trơn, vị trí của két làm mát dầu  
thường trước két làm mát nước của hệ thống làm mát.  
1.3.2.2 Cấu tạo  
Két mát dầu được làm bằng các ống thép hoặc đồng hình ô van ngoài có  
cánh tản nhiệt. Két mát dầu được lắp phía trước động cơ, quạt thông gió dùng  
chung với quạt gió của hệ thống làm mát động cơ. Đường dầu vào két có van một  
chiều (bi và lò xo), các đoạn đường ống và két mát được nối nới nhau qua các ống  
cao su và kẹp chặt bằng đai sắt.  
Hình 1.13. Két mát dầu động cơ  
1. Két làm mát; 2. Đai kẹp; 3. Ống nối băng cao su; 4; 6. Giá lắp két mát; 5; 8.  
Ống dẫn dầu; 7; 9. Giá đỡ; 10. Đầu ren; 11. Đáy dầu; 12. Khoá (van) dầu ra két mát;  
13. Đường dầu vào; 14. Đường dầu ra.  
1.3.2.3 Hoạt động  
Dầu nóng được đưa  
đến khoang vào từ đó nhờ áp  
suất đẩy dầu đến khoang ra  
dầu qua các ống dẫn được thu  
mất nhiệt nhờ các cánh tản  
nhiệt.  
Hình 1.14. Két làm mát dầu của động cơ  
17  
1.3.3 Bộ làm mát dầu  
Hình 1.15. Bộ làm mát dầu  
Ngày nay, ở một số động cơ hiện đại, thay két làm mát dầu bằng trang bị  
bộ làm mát dầu để duy trì đặc tính bôi trơn. Thông thường, toàn bộ dầu đều chảy  
qua bộ làm mát rồi sau đó đi đến các bộ phận của động cơ. ở nhiệt độ thấp, dầu có  
độ nhớt cao hơn và có khuynh hướng tạo ra áp suất cao hơn. Khi chênh lệch áp  
suất giữa đầu vào và đầu ra của bộ làm mát vượt quá một trị số xác định, van an  
toàn sẽ mở, và dầu từ máy bơm sẽ bỏ qua bộ làm mát và đi tới các bộ phận khác  
của động cơ, nhờ thế mà tránh được sự cố.  
1.3.4 Các van  
1.3.4.1 Cấu tạo  
Các van có cấu tạo tương tự như nhau, nó gồm 3 phần chính là đế van,  
viên bi hoặc piston van, lò xo van.  
Đến mạch dầu chính  
Từ bơm đến  
Bình lọc  
Về các te  
Ra két mát  
a
b
c
Hình 1.16. Sơ đồ nguyên lý của các loại van  
a. Sơ đồ nguyên lý của van xả dầu, van điều hoà áp suất  
b. Sơ đồ nguyên lý van nhiệt; c. Sơ đồ nguyên lý van an toàn  
1.3.4.2 Hoạt động  
Nếu áp suất dầu bôi trơn lớn quá dễ gây phá hỏng hệ thống bôi trơn (nứt  
vỡ đường ống dẫn…), rất dễ gây phá hỏng màng dầu bôi trơn, nếu áp suất nhỏ  
quá sẽ không đủ lượng dầu đưa đến khe hẹp cũng khó hình thành màng dầu bôi  
trơn do đó cần giữ cho áp suất của hệ thống bôi trơn tương đối ổn định, áp suất  
dầu bôi trơn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như số vòng quay của động cơ, hao mòn  
18  
bơm, độ thông của bình lọc, nhiệt độ của dầu,…Trong hệ thống bôi trơn, để duy  
trì áp suất dầu bôi trơn đúng quy định, người ta thường dùng các van sau:  
- Van xả về: có tác dụng bảo vệ cho bơm dầu và đảm bảo an toàn cho  
đường ống, bình lọc. Van xả về đặt ở đường ống đẩy của bơm và được ăn thông  
với đường ống hút của bơm khi van mở.  
- Van điều hoà áp suất: giữ ổn định áp suất đường dầu chính không cho  
vượt quá giới hạn bảo vệ hệ thống bôi trơn. Nếu áp suất trên đường dầu chính  
mà vượt quá giới hạn van điều hoà áp suất sẽ mở thông đường dầu chính với  
thùng và đưa dầu từ đường dầu chính trở về thùng.  
- Van nhiệt: đặt song song với két làm mát. Khi động cơ làm việc lúc  
nhiệt độ còn thấp, do độ nhớt của dầu cao làm lực cản của két làm mát tăng lên.  
Khi lực cản vượt quá độ chênh lệch áp suất đã được điều chỉnh bởi lò xo- van sẽ  
mở. Dầu không qua két làm mát mà vào luôn mạch dầu chính.  
- Van an toàn: có tác dụng tăng sự an toàn cho hệ thống bôi trơn khi các  
bình lọc bị tắc, van an toàn mở cho dầu bôi trơn đi trực tiếp từ đường vào và  
đường ra của bình lọc. Van an toàn được lắp song song với bình lọc giữa đường  
vào và đường ra.  
1.3.5 Lọc dầu  
1.3.5.1 Nhiệm vụ  
Lọc những tạp chất cơ học khỏi dầu bôi trơn.  
1.3.5.2 Phân loại lọc dầu  
* Theo mức độ lọc: có lọc thô (sơ), tinh.  
* Theo phương pháp tách cặn: có lọc lắng, lọc thấm và lọc ly tâm.  
- Lọc lắng: đưa dầu vào cốc lọc những cặn bẩn có trọng lượng lớn được  
giữ ở đáy, còn dầu sạch thì nổi lên trên, phương pháp này lọc những cặn bẩn có  
khối lượng nhẹ sẽ khó khăn.  
- Lọc thấm: đưa dầu thấm qua một lõi lọc có thể bằng giấy, da nhựa xốp, tấm  
đồng xen kẽ,…những cặn bẩn có kích thước lớn hơn khe hở của lõi lọc sẽ được giữ  
lại. Phương pháp này lọc những cặn bẩn có kích thước nhỏ sẽ khó khăn.  
- Lọc ly tâm: dựa theo nguyên lý ly tâm làm văng những cặn bẩn có trọng  
lượng lớn ra xa còn dầu sạch sẽ được lấy ở gần tâm quay. Tuỳ theo cách lắp bầu  
lọc ly tâm trong hệ thống bôi trơn, người ta phân biệt bầu lọc ly tâm toàn phần  
và bầu lọc ly tâm bán phần.  
+ Bầu lọc ly tâm toàn phần được lắp nối tiếp trên mạch dầu. Toàn bộ  
lượng dầu do bơm cung cấp dều đi qua lọc. Một phần dầu (khoảng 15 – 20)%  
qua các lỗ phun ở rotor rồi quay trở về các te. Bầu lọc ly tâm trong trường hợp  
này đóng vai trò bầu lọc thô.  
19  
Hình 1.17. Bình lọc dầu kiểu  
Hình 1.18. Bình lọc dầu bôi trơn kiểu lọc thấm  
có lõi lọc giấy  
ly tâm  
+ Bầu lọc ly tâm bán phần không có đường dầu đi bôi trơn. Dầu đi bôi  
trơn trong hệ thống do bầu lọc riêng cung cấp. Chỉ có khoảng (10 – 15)% lưu  
lượng do bơm cung cấp đi qua bầu lọc ly tâm bán phần, được lọc sạch rồi trở về  
các te. Bầu lọc ly tâm bán phần đóng vai trò lọc tinh trong hệ thống bôi trơn.  
Hiện nay, bầu lọc ly tâm được sử dụng rộng rãi vì có ưu điểm: Không  
phải thay các phần tử lọc vì không dùng lõi lọc; khả năng lọc tốt hơn so với lọc  
thấm dùng lõi lọc và ít phụ thuộc vào mức độ cặn bẩn đọng bám trong bầu lọc.  
- Hình 1.17 là sơ đồ cấu tạo và nguyên lý hoạt động của bình lọc ly tâm.  
Bình lọc ly tâm gồm 3 phần chính: Đế, trục quay (trục rô to) và bộ phận  
quay (Rô to). Trục rô to là một ống thép được vặn chặt vào đế, rô to quay tự do  
trên trục rô to gồm thân 8 gắn chặt với lõi 3, trên lõi 3 có lỗ phun, các lỗ phun bố  
trí hướng ngược nhau để khi phun sẽ tạo ngẫu lực, phản lực làm quay rô to.  
Nguyên tắc hoạt động của bình lọc: Bơm đẩy dầu qua lỗ dọc hình vành  
khăn tới các lỗ ngang 4 để vào bên trong rotor 8. Một phần dầu sạch trong rotor  
(khoảng 20%) được phun qua các jiclơ 2 với một tốc độ lớn (chênh áp phía trước  
và sau lỗ jiclơ vào khoảng (0,4 – 0,5) Mpa. Phản lực của các tia dầu này tạo ra  
ngẫu lực làm cho rotor quay ngược chiều so với chiều của các tia dầu.  
Hoạt động của bình lọc ly tâm: dầu được bơm đưa vào trong lõi rô to qua  
rãnh 9, 4. Khi động cơ hoạt động rô to quay do một phần nhỏ dầu phun qua hai  
bộ phun rồi trở về thùng hướng quay của rô to ngược với hướng phun của dầu.  
Rô to quay nhanh hay chậm phụ thuộc vào tốc độ phun, khi rô to quay dầu bôi  
trơn còn laị ở trong sẽ quay theo, do quán tính ly tâm những cặn bẩn được văng  
ra xa và bám vào thành rô to phần dầu sạch ở giữa sẽ theo 5 và 7 đến đường ra  
của bình lọc và đi bôi trơn cho các bộ phận của động cơ.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 122 trang yennguyen 24182 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình mô đun Bảo dưỡng và sửa chữa hệ thống bôi trơn và hệ thống làm mát - Nghề: Công nghệ ô tô", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_mo_dun_bao_duong_va_sua_chua_he_thong_boi_tron_va.pdf