Đồ án Khảo sát đột biến gen RET trên ca lâm sàng u sắc bào tuyến thượng thận mang tính gia đình

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH  
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
KHẢO SÁT ĐỘT BIẾN GEN RET TRÊN CA LÂM SÀNG  
U SẮC BÀO TUYẾN THƯỢNG THẬN  
MANG TÍNH GIA ĐÌNH  
Ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC  
Giảng viên hướng dẫn: TS.BS Đỗ Đức Minh  
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mỹ Hiền  
MSSV: 1515100017 Lớp: 15HSH01  
TP. Hồ Chí Minh, 2017  
LỜI CAM ĐOAN  
Em xin cam đoan nội dung trình bày trong đồ án tốt nghiệp với đề tài “Khảo sát  
đột biến gen RET trên ca lâm sàng u sắc bào tuyến thượng thận mang tính gia  
đình” là thành quả nghiên cứu trên cơ sở số liệu thực tế và được thực hiện dưới sự  
hướng dẫn trực tiếp của giáo viên hướng dẫn.  
Mọi tham khảo trong đồ án này đều được trích dẫn rõ ràng nguồn gốc.  
Mọi sao chép vi phạm quy chế của nhà trường em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.  
Tp.Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 07 năm 2017  
Sinh viên  
Nguyễn Thị Mỹ Hiền  
LỜI CẢM ƠN  
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Công nghệ Sinh học – Thực phẩm  
– Môi trường, Trường Đại học Công nghệ Tp.HCM đã tận tình giảng dạy và truyền  
đạt những kiến thức, lòng nhiệt huyết cũng như niềm đam mê nghiên cứu cho em  
trong suốt thời gian học tập tại trường.  
Em xin gửi lời cảm ơn đến TS.BS. Đỗ Đức Minh, người thầy, người anh đã tận  
tình hướng dẫn em các thông tin về lâm sàng, về kiến thức sinh học phân tử trong  
suốt thời gian làm đồ án.  
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các anh chị ở Trung tâm Y sinh  
học phân tử - Đại học Y Dược Tp. HCM đã luôn quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận  
lợi để em hoàn thành khóa luận này. Thời gian học hỏi và làm việc trong môi trường  
thân thiện, luôn nhận được sự giúp đỡ cũng như góp ý nhiệt tình của anh chị ở Trung  
tâm là khoảng thời gian quý báu, mang lại cho em thêm nhiều kiến thức và kinh  
nghiệm trong quá trình làm việc.  
Và trên hết, con xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc tới gia đình. Cảm ơn  
cha, mẹ đã sinh thành, nuôi dưỡng con khôn lớn, luôn bên cạnh động viên, ủng hộ,  
dõi theo bước đường con đi.  
Tp.Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 07 năm 2017  
Sinh viên  
Nguyễn Thị Mỹ Hiền  
Đồ án tốt nghiệp  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
Viết đầy đủ  
Viết tắt  
Aa  
Amino acid  
Base pair  
Bp  
CATE  
CT  
Catecholamines  
Computed tomography  
DNA  
dNTPs  
ddNTP  
GDNF  
GFLs  
MEN2  
MRI  
Deoxyribonucleic acid  
Deoxynucleotide triphosphate  
Dideoxynucleotide triphosphate  
Glial cell line Derived Neurotrophic Factor  
Family Ligands  
Đa u tuyến nội tiết loại 2  
Chụp cộng hưởng từ (Magnetic resonance imaging)  
National Center For Biotechnology Information  
Neurofibromatosis loại 1  
NCBI  
NF1  
PCCs  
PCR  
Pheochromocytomas  
Polymerase Chain Reaction (Phản ứng khuếch đại chuỗi gen invitro)  
Paragangliomas  
PGLs  
PPGLs  
RNA  
SNP  
Pheochromocytomas và Paragangliomas  
Ribonucleic acid  
Điểm đa hình nucleotide đơn (Single Nucleotide Polymorphisms)  
Hội chứng Von Hippel-Lindau  
VHL  
iv  
 
Đồ án tốt nghiệp  
DANH MỤC CÁC HÌNH  
vi  
Đồ án tốt nghiệp  
MỞ ĐẦU  
U sắc bào tuyến thượng thận (PPGLs) là bệnh nội tiết hiếm tại Việt Nam. Tìm  
hiểu về căn bệnh này giúp chúng ta có những biện pháp phòng ngừa, giảm nguy cơ  
mắc bệnh cũng như kịp thời thăm khám nếu gặp các triệu chứng bất thường.  
Paragangliomas (PGLs) là khối u có nguồn gốc từ mào thần kinh nằm ở các hạch  
thần kinh giao cảm hoặc phó giao cảm khắp cơ thể, khi khối u nằm ở tủy thượng  
thận thì gọi là pheochromocytomas (PCCs), với các triệu chứng lâm sàng là đánh  
trống ngực, nhức đầu và ra nhiều mồ hôi, kèm theo tăng huyết áp, tiết các chất  
catecholamines (CATE) [9]. Theo dõi lâm sàng là điều cần thiết để chẩn đoán và  
điều trị PPGLs, hầu hết các khối u tiết CATE nếu không được điều trị thì tỷ lệ tử  
vong do tim mạch cũng như di căn sang các mô, cơ quan lân cận rất cao. Việc xác  
định bất thường di truyền là quan trọng vì ít nhất 1/3 bệnh nhân bị PPGLs có đột  
biến dòng mầm gây bệnh ở 1 trong số 14 gen gây bệnh gồm: NF1, RET, VHL,  
SDHD, SDHC, SDHB, EGLN1/PHD2, KIF1B, SDH5/SDHAF2, IDH1, TMEM127,  
SDHA, MAX và HIF2A [5,9,11]. Theo hướng dẫn thực hành của Hội Nội tiết lâm  
sàng, bệnh nhân PPGLs cần được thăm khám và kiểm tra di truyền cho người thân  
để sàng lọc di truyền gây bệnh. Xuất phát từ thực tiễn trên nhóm tiến hành đề tài  
“Khảo sát đột biến gen RET trên ca lâm sàng u sắc bào tuyến thượng thận  
mang tính gia đình” bằng cách sử dụng phương pháp mô tả hàng loạt ca, với mục  
tiêu cụ thể:  
-
-
Giải trình tự 6 exon gen RET (exon 10,11,13,14,15,16)  
Phân tích kết quả giải trình tự gen dựa trên dữ liệu ngân hàng gen National  
Center For Biotechnology Information (NCBI)  
Đồ án tốt nghiệp gồm có 4 chương:  
Chương 1: Tổng quan tài liệu  
Chương 2: Đối tượng – Vật liệu – Phương pháp  
Chương 3: Kết quả – Bàn luận  
Chương 4: Kết luận – Kiến nghị  
1
 
Đồ án tốt nghiệp  
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
 
Đồ án tốt nghiệp  
1.1.  
U sắc bào tuyến thượng thận  
1.1.1. Giới thiệu  
Paragangliomas (PGLs) là khối u có nguồn gốc từ mào thần kinh nằm ở các  
hạch thần kinh giao cảm hoặc phó giao cảm khắp cơ thể, khi khối u nằm ở tủy  
thượng thận thì gọi là pheochromocytomas (PCCs) và thường tiết các chất  
catecholamines (CATE): epinephrine, norepinephrine, dopamine. Khoảng 80-85%  
các khối u là PCCs và 15-20% là PGLs [9].  
Tủy thượng thận nằm ở trung tâm của mỗi tuyến thượng thận bao gồm các tế bào  
thần kinh nội tiết (chromaffin) sản xuất và giải phóng epinephrine (adrenaline) vào  
máu để đáp ứng với kích hoạt của hệ thống thần kinh giao cảm. Neuroblastoma (u  
nguyên bào thần kinh) và pheochromocytomas (PCCs) là hai loại u quan trọng nhất  
phát sinh từ tủy thượng thận. Cả hai loại u này cũng có thể phát sinh từ các vị trí  
ngoài tuyến thượng thận, cụ thể trong vùng cận hạch của chuỗi giao cảm [17].  
U sắc bào tuyến thượng thận bao gồm u lành tính hoặc ác tính của thượng thận.  
Một trong số đó được chú ý đến do sản xuất thừa hormones nội tiết. Ung thư thượng  
thận là sự hiện diện của các khối u ác tính ở tuyến thượng thận, bao gồm u nguyên  
bào thần kinh, ung thư biểu mô vỏ thượng thận (adrenocortical carcinoma) và một  
số u tế bào ưa crôm thượng thận (PGLs) [1]. Hầu hết u tế bào ưa crôm và tất cả các  
u tuyến thượng thận là những khối u lành tính, không di căn hoặc xâm lấn các mô  
lân cận, nhưng có thể gây ra vấn đề sức khỏe đáng kể bởi sự mất cân bằng  
hormones.  
Sự phổ biến của PPGLs ở bệnh nhân tăng huyết áp trong phòng khám ngoại trú  
nói chung dao động từ 0,2 - 0,6%. Ở trẻ em bị tăng huyết áp, sự phổ biến của  
PPGLs là khoảng 1,7%. Gần 5% bệnh nhân PCCs có khối u thượng thận tình cờ  
được phát hiện trên hình ảnh giải phẫu. Nghiên cứu khám nghiệm tử thi cho thấy  
khối u không được chẩn đoán trong 0,05 - 0,1% bệnh nhân [9].  
PCCs sản xuất, tích trữ và tiết CATE. Hầu hết PCCs tiết cả epinephrine và  
norepinephrine và sự tiết này không liên quan đến kích thích thần kinh. Ngoài ra,  
PCCs còn tiết các hormones khác như adrenocorticotropic hormone, somatostatin,  
2
   
Đồ án tốt nghiệp  
calcitonin, oxytocin và vasopressin. Nhiều công trình nghiên cứu về PPGLs đã đúc  
kết quy luật số 10 của bệnh lý này, đó là: 10% xảy ra ở trẻ em, 10% ác tính, 10%  
ngoài thượng thận và 10% không chức năng [11].  
PCCs có ở mọi lứa tuổi, có thể độc lập hoặc liên kết với một hội chứng ung thư  
di truyền, chẳng hạn như đa u thần kinh nội tiết (Multiple endocrine neoplasma-  
MEN) loại 2A và 2B, u xơ thần kinh (neurofibromatosis) loại 1 (NF1), hoặc hội  
chứng Von Hippel-Lindau (VHL). Chỉ có 10% PCCs thượng thận ác tính, phần còn  
lại là lành tính [21]. Chẩn đoán xác định bằng đo nồng độ của các chất chuyển hóa  
CATE trong nước tiểu. Hầu hết PCCs được điều trị ban đầu với các thuốc kháng  
adrenergic, phẫu thuật được sử dụng để loại bỏ khối u khi bệnh nhân ổn định.  
1.1.2. Nguyên nhân  
U sắc bào tuyến thượng thận có thể xuất hiện đơn lẻ (các khối u đặc, một bên và  
u ở trong vùng thượng thận) hoặc có tính chất gia đình (điển hình cũng ở tủy thượng  
thận nhưng thường nhiều ổ và ở cả 2 bên), ở hai nghiên cứu lớn, tần suất u tủy  
thượng thận có tính chất gia đình chiếm khoảng 30% và thường nằm trong bệnh  
cảnh của hội chứng di truyền trội nhiễm sắc thể thường. Những bất thường di truyền  
phối hợp với u tủy thượng thận có thể là nguyên nhân do đột biến gen sinh ung thư  
như RET hoặc gen ức chế u như VHL hoặc NF1. Khuyến cáo sàng lọc di truyền cho  
những bệnh nhân được chẩn đoán u tủy thượng thận trước 20 tuổi, u thượng thận 2  
bên, đa u cận hạch, hay cho những bệnh nhân có tiền sử gia đình có người mắc u  
tủy thượng thận hay u cận hạch [22].  
Vì PCCs xuất phát từ vùng tủy thượng thận, các khối u này giải phóng không liên  
tục một lượng các CATE có tác dụng sinh học gây ra các triệu chứng co mạch với  
tăng cả huyết áp tâm thu, tâm trương và tăng nhịp tim. Trong tế bào ưa crôm,  
norepinephrine và epinephrine được chuyển hóa bởi enzyme O-methyl transferase  
thành các dẫn xuất O-methyl tương ứng lần lượt là normetanephrine và  
metanephrine. Vì chuyển hóa CATE trong khối u độc lập với sự tình trạng giải  
phóng CATE (CATE có thể được giải phóng từng lúc hoặc với tỷ lệ thấp), định  
lượng các chất chuyển hóa của CATE ở huyết tương và ở nước tiểu có độ nhạy cao  
3
 
Đồ án tốt nghiệp  
hơn và đóng vai trò căn bản trong chẩn đoán u tủy thượng thận [22].  
Ngoài ra, môi trường ô nhiễm, chế độ ăn uống không khoa học, hút thuốc lá, sử dụng  
rượu bia trong thời gian dài,… cũng làm tăng nguy cơ ung thư tuyến thượng thận.  
1.1.3. Biểu hiện  
- Triệu chứng lâm sàng thường có: đánh trống ngực, nhức đầu, ra nhiều mồ hôi,  
kèm theo tăng huyết áp (lúc này triệu chứng trên sẽ có độ nhạy 91%, độ đặc hiệu  
94%).  
- Tiết nhiều CATE có thể dẫn đến suy tim, phù phổi, loạn nhịp và xuất huyết nội sọ.  
Tuy nhiên triệu chứng nổi trội nhất vẫn là tăng huyết áp. Tăng tiết CATE làm  
cho bệnh nhân loạn nhịp tim. Các cơn kịch phát thường kéo dài dưới 1 giờ và có thể  
bị thúc đẩy bởi phẫu thuật, thay đổi tư thế, tập thể dục, mang thai [22].  
1.1.4. Xét nghiệm chẩn đoán  
Theo hướng dẫn thực hành của Hội Nội tiết lâm sàng khuyến cáo:  
- Xét nghiệm sinh hóa ban đầu: đo huyết tương metanephrines tự do hoặc  
metanephrines phân đoạn niệu, lấy mẫu máu bệnh nhân theo hướng dẫn của tài liệu  
tham khảo, sử dụng phương pháp sắc ký lỏng: phổ khối lượng hoặc phát hiện điện  
hóa. Đề nghị những bệnh nhân có kết quả xét nghiệm là dương tính cần được theo  
dõi mức độ tăng giá trị và biểu hiện lâm sàng [9].  
- Hình ảnh học: chụp cắt lớp vi tính (CT), chụp MRI ở bệnh nhân có di căn, sử  
dụng 123 I-metaiodobenzylguanidine (MIBG) ghi xạ hình, sử dụng 18 F-  
fluorodeoxyglucose (18 FFDG) chụp cắt lớp phát xạ [9].  
- Kiểm tra di truyền: thử nghiệm di truyền tại các phòng thí nghiệm uy tín với  
những bệnh nhân nghi ngờ đột biến dòng mầm và được tư vấn sau khi có kết quả  
[9].  
1.1.5. Điều trị  
- Cắt bỏ hoàn toàn khối u.  
- Điều chỉnh chế độ ăn uống có nhiều natri và chất lỏng để điều hòa việc tiết  
CATE gây ra co huyết khối để ngăn chặn hạ huyết áp nghiêm trọng sau khi loại bỏ  
khối u.  
4
     
Đồ án tốt nghiệp  
1.2.  
Bất thường di truyền  
Cứ 3 ca PPGLs thì có 1 ca là do nguyên nhân di truyền và chủ yếu là do đột biến  
dòng mầm tại 1 trong số 14 gen gồm: NF1, RET, VHL, SDHD, SDHC, SDHB,  
EGLN1/PHD2, KIF1B, SDH5/SDHAF2, IDH1, TMEM127, SDHA, MAX và HIF2A [9]  
Hình 1.1: Mô tả cách tiếp cận xét nghiệm gen theo hướng dẫn của Hội Nội tiết  
Có thể nghi ngờ 6 bệnh khác nhau về gia đình có biểu hiện lâm sàng: bệnh NF1,  
MEN2, VHL, ung thư biểu mô tế bào thận với đột biến SDHB [13], khối u car-ney  
(u tuyến thượng thận, khối u hạch dạ dày, chondroma phổi) và hội chứng Carney-  
Stratakis (u tuyến tụy và sarcomas dạ dày) [14].  
Các hội chứng MEN2 và VHL thường được đặc trưng bởi các dấu hiệu lâm sàng  
riêng biệt hướng tới việc kiểm tra các gen RET và VHL. Phát hiện đột biến gen NF1 rất  
phức tạp mặc dù xét nghiệm có sẵn trong các phòng xét nghiệm trực tuyến, việc chẩn  
đoán xác định hội chứng chủ yếu dựa vào các triệu chứng lâm sàng [12].  
Tuy nhiên, một số bệnh nhân có đột biến gen NF1 và một số báo cáo về PPGLs đều  
có đặc điểm tương đồng [4, 6]. Những phát hiện này cho thấy tầm quan trọng của việc  
5
   
Đồ án tốt nghiệp  
điều tra về dấu hiệu lâm sàng có thể xảy ra của một đột biến cơ bản ở tất cả các bệnh  
nhân PPGL.  
Với bệnh gia đình (di truyền) việc phát hiện nguyên nhân gây bệnh giúp tư vấn di  
truyền chẩn đoán, điều trị sớm các thành viên khác trong gia đình.  
*Theo tờ báo của Hiệp hội Mỹ về việc quản lý bệnh Ung thư tuyến giáp dạng tuỷ  
Nhóm bệnh MEN2A có đến 95% bệnh nhân đột biến gen RET ở codon 609, 611,  
618 và 620 ở vị trí exon 10 hoặc codon 630, 634 của exon 11.  
Hầu như tất cả bệnh nhân có biểu hiện u tuyến giáp dạng tuỷ và một số ít bệnh  
nhân mắc bệnh PCCs hoặc u tuyến cận giáp, thường phụ thuộc vào đột biến đặc  
trưng của RET.  
Ví dụ như đột biến RET ở codon 634 khiến nguy cơ mắc PCCs cao và tăng theo  
độ tuổi.  
· 30 tuổi – 25%.  
· 50 tuổi – 52%.  
· 77 tuổi – 82%.  
Song, bệnh nhân mắc bệnh PCCs lại chiểm tỷ lệ thấp hơn khi bị đột biến exon  
10. Tỷ lệ như sau:  
· Codon 609 – 4 → 26%.  
· Codon 611 – 10 → 25%.  
· Codon 618 – 12 → 23%.  
· Codon 620 – 13 → 24%.  
Nhóm bệnh MEN2B  
Khoảng 75% trường hợp MEN2B riêng lẻ và bệnh nhân bị ảnh hưởng bởi đột  
biến ở gen RET, 25% trường hợp xảy ra có liên quan đến di truyền trong gia đình.  
Với những bệnh nhân đột biến ở gen RET, có đến 95% bệnh nhân bị đột biến ở  
exon 16 (codon M918T) và 5% ở exon 15 (codon A883F).  
Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh MEN2B phổ biến ở độ tuổi 20 cho đến 30.  
Tại Bệnh viện Chợ Rẫy (2005 – 2010), theo khảo sát ở 74 bệnh nhân về đặc điểm  
6
Đồ án tốt nghiệp  
lâm sàng và cận lâm sàng các trường hợp u sắc bào tuỷ thượng thận, chúng tôi nhận  
thấy rằng độ tuổi mắc bệnh trung bình từ 40 – 49 tuổi (chiếm 39,2%). Đặc điểm  
thường gặp ở các khối u được thống kê như sau:  
· U có ở 2 tuyến: 4,1%  
· U ở 1 tuyến phải: 70,3%  
· U ở 1 tuyến trái: 25,6%  
Kích thước trung bình của khối u: 5,86 ± 4,14 cm  
· Kích thước thường gặp: 3 → 5 cm (37,3%)  
· U bên trái: 7,79 → 5,11 cm  
· U bên phải: thường nhỏ hơn u bên trái và có kích thước khoảng 5,38 ± 3,65 cm  
· U ở cả 2 bên: 3 ± 0,82 cm và nhỏ hơn so với những trường hợp chỉ có 1 u (6,02  
± 4,19 cm)  
Một công trình khảo sát các yếu tố di truyền liên quan PCCs cho thấy:  
- Khảo sát trên 2499 đối tượng trong khoảng thời gian 10 năm (2001 – 2010), có  
1620 trường hợp riêng lẻ và 879 trường hợp liên quan đến di truyền gia đình [5].  
- Trong 363 trường hợp riêng lẻ (22,4%) có 269 đột biến ở hệ gen SDHx (137 –  
SHDB, 100 – SDHD, 30 – SHDC, 2 – SHDA), 64 đột biến xảy ra ở gen VHL, 23 –  
RET và 7 – TMEM127 [5].  
- Xét theo tỷ lệ 363/1620 trường hợp đột biến riêng lẻ (22,4%; 23,5% là các bệnh  
nhận bị hội chứng NF1). Các gen SDHB, SDHD và gen VHL là những gen đột biến  
xảy ra ở phần lớn các bệnh nhân, mà trong đó đột biến SDHB chiếm 37,7%; 27,5%  
ở SDHD; 17,6% ở VHL; 8,26% ở SDHC; 6,3% ở RET; 1,93% ở TMEM127 và  
0,55% ở SDHA. Không phát hiện đột biến ở gen SDHAF2 [5].  
- 137 bệnh nhân đột biến gen SDHB (119 đột biến điểm, bao gồm: đột biến thay  
thế, nhân đôi, cắt hoặc chèn 1 điểm nhỏ và 18 trường hợp đột biến vùng) [5].  
- Ở gen VHL có 64 bệnh nhân (63 trường hợp đột biến điểm và 1 đột biến vùng).  
- Bệnh nhân mang gen đột biến SDHD có 100 người (95 trường hợp đột biến  
điểm và 5 trường hợp đột biến vùng).  
- Đột biến SDHC có 30 bệnh nhân (25 trường hợp đột biến điểm và 5 trường hợp  
7
Đồ án tốt nghiệp  
đột biến vùng) [5].  
- Theo tỷ lệ đột biến gen riêng lẻ  
· Đột biến gen SDHB – 8,46%  
· Đột biến gen SDHD – 6,2%  
· Đột biến gen VHL – 3,95%  
· Đột biến gen SDHC – 1,85%  
· Đột biến gen RET – 1,42%  
· Đột biến gen TMEM127 – 0,43%  
· Đột biến gen SDHA – 0,12%  
1.3.  
Các bệnh và hội chứng liên quan  
1.3.1.  
Hội chứng NF1  
NF1 là một rối loạn di truyền đa chức năng được đặc trưng bởi các phát hiện về  
da, đặc biệt là các điểm hạt cà phê và tàn nhang, do loạn sản xương và do sự phát  
triển của hệ thống khối u thần kinh lành tính và ác tính, đáng chú ý nhất là các mô  
thần kinh lành tính [17].  
Hình 1.2: Bé trai 4 tuổi có biểu hiện điểm hạt cà phê và tàn nhang  
1.3.2.  
Hội chứng VHL  
Hội chứng VHL có liên quan đến PCCs. PCCs thường không gây ung thư, chúng  
có thể không gây triệu chứng, nhưng trong một số trường hợp, chúng có liên quan  
đến nhức đầu, các cơn hoảng loạn, đổ mồ hôi quá nhiều hoặc huyết áp cao nguy  
8
       
Đồ án tốt nghiệp  
hiểm và có thể không đáp ứng với thuốc. PCCs đặc biệt nguy hiểm nếu chúng phát  
triển trong thai kỳ [18].  
1.3.3.  
Hội chứng MEN  
Đa u tuyến nội tiết là một nhóm rối loạn ảnh hưởng đến mạng lưới sản sinh  
hormones của cơ thể được gọi là hệ thống nội tiết. Hormones là những chất hoá học  
được phóng thích vào máu, điều chỉnh chức năng của tế bào và các mô khắp cơ thể.  
Đa u tuyến nội tiết thường liên quan đến khối u ở ít nhất hai tuyến nội tiết, khối u  
cũng có thể phát triển ở các cơ quan và mô khác. Những sự tăng trưởng này có thể  
không ung thư (lành tính) hoặc ung thư (ác tính). Nếu khối u trở thành ung thư, tình  
trạng có thể đe dọa tính mạng [19].  
Các đột biến gen MEN1 gây ra nhiều loại đa u tuyến nội tiết loại 1. Gen này mã  
hóa cho việc sản xuất một protein gọi là menin. Menin hoạt động như một chất ức  
chế khối u, có nghĩa là nó giữ cho tế bào không tăng trưởng và phân chia quá nhanh  
hoặc phân chia không kiểm soát được. Mặc dù chức năng của menin không rõ ràng,  
nhưng nó có thể tham gia vào chức năng khác của tế bào như sao chép và sửa chữa  
DNA và điều chỉnh hoạt động của các gen khác. Khi đột biến làm vô hiệu hóa cả  
hai bản sao của gen MEN1, menin không còn khả dụng để kiểm soát sự tăng trưởng  
và phân chia tế bào, sự mất mát của protein này làm cho các tế bào phân chia quá  
nhiều, dẫn đến sự hình thành các khối u đặc trưng của đa u tuyến nội tiết loại 1 [19,  
23].  
Dấu hiệu phổ biến nhất của đa u tuyến nội tiết loại 2 là một dạng ung thư tuyến  
giáp được gọi là ung thư tuyến giáp dạng tủy. Một số người bị rối loạn này cũng  
đồng mắc PCCs dẫn đến cao huyết áp. Đa u tuyến nội tiết loại 2 được chia thành ba  
phân típ: loại 2A, loại 2B và ung thư tuyến giáp dạng tủy mang tính gia đình  
(FMTC). Những phân nhóm này khác nhau về dấu hiệu, triệu chứng đặc trưng và  
nguy cơ của các khối u cụ thể. Ví dụ, cường giáp xảy ra chỉ ở loại 2A và ung thư  
tuyến giáp là đặc điểm duy nhất của FMTC. Các dấu hiệu và triệu chứng của đa u  
tuyến nội tiết loại 2 là tương đối phù hợp trong bất kỳ một gia đình nào [19, 23].  
Các đột biến trong gen RET gây ra đa u tuyến nội tiết loại 2. Gen này mã hóa cho  
9
 
Đồ án tốt nghiệp  
việc sản xuất một protein liên quan đến tín hiệu trong tế bào. Protein RET kích hoạt  
các phản ứng hóa học hướng dẫn tế bào phản ứng với môi trường của chúng, ví dụ  
bằng cách phân chia hoặc sinh trưởng. Các đột biến trong gen RET kích hoạt chức  
năng báo hiệu của protein, có thể kích hoạt sự tăng trưởng và phân chia tế bào khi  
không có các tín hiệu từ bên ngoài tế bào. Sự phân chia tế bào không kiểm soát này  
có thể dẫn đến sự hình thành các khối u ở các tuyến nội tiết và các mô khác [19, 23].  
1.4.  
Cấu trúc, đột biến, chức năng của gen RET  
Gen RET được tìm thấy sau khi gây nhiễm dòng tế bào nguyên bào sợi 3T3 với  
DNA lấy từ các tế bào lymphoma của người. Gen RET nằm trên nhiễm sắc thể số  
10, nhánh dài, vùng 1, băng 1, băng phụ 2 (10q11.2) và gồm 20 exon [10, 20].  
Hình 1.3: Vị trí gen RET trên nhiễm sắc thể số 10  
Sự nối ghép tự nhiên của gen RET tạo ra 3 dạng đồng phân khác nhau của  
protein RET: RET51, RET43 và RET9 chứa 51, 43 và 9 Aa trong đuôi C cuối  
cùng của chúng [10].  
RET là protein xuyên màng. Mỗi protein được chia thành ba miền: một miền ngoại  
bào N với bốn lần lặp đi lặp lại giống như cadherin (là một protein 2 thành phần,  
phần bên trong tế bào gắn với khung xương của tế bào và phần bên ngoài tế bào là  
polypeptide có 5 đồng phân gắn kết với nhau) và một vùng giàu Cystein, một miền  
màng xốp kẽm và một miền tyrosine kinase nội bào, được chia ra bởi sự chèn thêm  
27 Aa. Trong miền tyrosine kinase nội bào, có 16 Tyrosines (Tyrs) trong RET9 và 18  
trong RET51. Tyr1090 và Tyr1096 chỉ có ở dạng đồng vị RET51 [10, 15].  
Miền ngoại bào của RET chứa chín vị trí N-glycosyl hóa. Protein RET được  
10  
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 62 trang yennguyen 18240 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đồ án Khảo sát đột biến gen RET trên ca lâm sàng u sắc bào tuyến thượng thận mang tính gia đình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdo_an_khao_sat_dot_bien_gen_ret_tren_ca_lam_sang_u_sac_bao_t.pdf