Đánh giá kỹ năng thuyết trình của sinh viên – Đâu là tiền đề?

ĐÁNH GIÁ KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH CỦA SINH VIÊN –  
ĐÂU LÀ TIỀN ĐỀ?  
TS. Hà Sơn Tùng  
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân  
Tóm tắt  
Thuyết trình không còn xa lạ với sinh viên. Để thuyết trình tốt, sinh viên cần  
trang bị kỹ năng. Điều đó đòi hỏi sinh viên (và giảng viên) cần xác định rõ, đầy đủ  
những nội dung, tiêu chí cần quan tâm khi thuyết trình. Nói cách khác, giảng viên và  
sinh viên cần có chung “hệ quy chiếu” trong việc đánh giá kỹ năng thuyết trình. Về  
điều này, đã có nhiều nghiên cứu khác nhau đề cập tới nội dung, tiêu chí đánh giá kỹ  
năng thuyết trình của sinh viên. Bài viết sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về các nội  
dung, tiêu chí cần được sử dụng trong đánh giá kỹ năng thuyết trình, làm tiền đề  
đánh giá chính xác hơn kỹ năng này của sinh viên.  
Từ khóa: Kỹ năng thuyết trình, nội dung kỹ năng thuyết trình của sinh viên  
1. Đặt vấn đề  
Dưới góc độ cá nhân, kỹ năng thuyết trình giúp tăng sự tự tin, tăng khả năng  
nói trước đám đông, truyền tải được tư duy, suy nghĩ của bản thân, kiểm soát được  
lời nói, hành động, nhận biết được cảm xúc, mong muốn của người nghe. Dưới góc  
độ doanh nghiệp, kỹ năng thuyết trình giúp nhà quản trị truyền tải thông điệp, khích  
lệ nhân viên, thuyết phục khách hàng, nhà đầu tư, cộng đồng. Trong bài thuyết trình  
của mình với sinh viên, Warren Buffett, một trong những tỷ phú, doanh nhân thành  
công nhất thế giới đã từng nói, kỹ năng thuyết trình là rất cần thiết, sinh viên cần  
được học, rèn luyện kỹ năng này trong thời gian học đại học chứ không phải sau khi  
ra trường. Điều này càng khẳng định, sinh viên trong trường đại học cần được đào  
tạo, rèn luyện kỹ năng thuyết trình bên cạnh các kiến thức chuyên môn. Thực tế đáng  
buồn, theo một khảo sát của Học viện Giáo dục Việt Nam năm 2009, 83% sinh viên  
ra trường không có các kỹ năng mềm. Trong đó bao gồm cả kỹ năng thuyết trình. Đa  
số các trường đại học ở Việt Nam chưa có sự quan tâm đúng mực trong việc đào tạo  
kỹ năng thuyết trình cho sinh viên; hoặc có yêu cầu sinh viên thực hiện thuyết trình  
nhưng chỉ mang tính tự phát. Việc đánh giá kỹ năng thuyết trình cũng chưa được dựa  
trên các tiêu chí rõ ràng. Bài viết sẽ tổng quan các nghiên cứu về nội dung, tiêu chí  
đánh giá kỹ năng thuyết trình, tạo tiền đề cho việc đánh giá chính xác hơn kỹ năng  
thuyết trình của sinh viên.  
323  
2. Thuyết trình và tiêu chí đánh giá kỹ năng thuyết trình  
Nhiều nghiên cứu đã minh chứng và khẳng định, kỹ năng thuyết trình đóng vai  
trò quan trọng trong đào tạo (Langan và cộng sự, 2005; De Grez, Valcke và Roozen,  
2012) cũng như thực tiễn kinh doanh (Campbell và cộng sự, 2001). Nhiều trường đại  
học trên thế giới đã rất chú trọng việc phát triển kỹ năng thuyết trình của sinh viên.  
Campbell và cộng sự cũng khẳng định tầm quan trọng của kỹ năng thuyết trình trong  
đào tạo và thực tiễn doanh nghiệp. Trong đào tạo, các sinh viên thường xuyên được  
yêu cầu thực hiện các bài thuyết trình hay tham gia hội thảo, trao đổi để trình bày về  
các kết quả nghiên cứu. Việc sử dụng thành thạo kỹ năng thuyết trình giúp sinh viên  
thể hiện được tư duy, quan điểm ở mức độ cao hơn (Maes, Weldy & Icenogle, 1997).  
Sundrarajun và Kiely (2010) thì cho rằng năng lực, tính cách của sinh viên sẽ được bộc  
lộ, phát huy thông qua kỹ năng thuyết trình. Để hiểu về kỹ năng thuyết trình, cần hiểu  
rõ về bản chất thuyết trình và kỹ năng cần thiết khi thuyết trình.  
Vậy, thuyết trình là gì? Burns, Joyce và Gollin (1996) cho rằng thuyết trình là  
một hình thức của giao tiếp và có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác  
nhau. Levin & Topping (2006) thì cho rằng thuyết trình là bài diễn thuyết được lập  
kế hoạch và tập luyện để truyền đạt thông tin chứ không phải thông qua đọc các ghi  
chú. Với Nguyễn Đông Triều (2015), thuyết trình là trình bày bằng lời nói trước  
nhiều người nghe về một vấn đề nào đó nhằm cung cấp thông tin hoặc thuyết phục,  
gây ảnh hưởng đến người nghe. Để phân loại thuyết trình, tác giả này cho rằng cần  
dựa trên mục tiêu. Theo đó, bao gồm 3 loại thuyết trình: (1) thuyết trình để cung cấp  
thông tin; (2) thuyết trình để thuyết phục; và (3) thuyết trình để gây cảm hứng.  
Thuyết trình có thể thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, từ bài thuyết trình  
được chuẩn bị “cẩn thận” với thời lượng cả giờ đồng hồ cho tới các bài thuyết trình  
mang tính “tự phát” chỉ vài phút.  
Để thuyết trình tốt, sinh viên cần có kỹ năng. Theo từ điển kinh doanh, kỹ năng  
là năng lực (khả năng) của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành  
động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong  
đợi. Theo đó, kỹ năng thuyết trình được hiểu là các kỹ năng cần thiết để truyền tải  
hiệu quả nội dung tới nhóm đối tượng người nghe. Việc đánh giá kỹ năng thuyết  
trình của sinh viên cũng cần được dựa trên các tiêu chí nhất định. Nhiều nghiên cứu  
đã chỉ ra các tiêu chí khác nhau cần sử dụng trong đánh giá kỹ năng thuyết trình.  
Joughin (2007) cho rằng cần đánh giá kỹ năng thuyết trình dựa trên 3 tiêu chí chính:  
truyền tải ý tưởng, truyền tải nội dung và sự thuyết phục đối với người nghe.  
Sundrarajun và Kiely (2010) cho rằng kỹ năng thuyết trình cần được tích hợp giữa  
ngôn ngữ (giọng nói, nhịp độ...) và phi ngôn ngữ (tiếp xúc mắt, cử chỉ, ngôn ngữ cơ  
324  
thể, biểu lộ khuôn mặt...). Theo Shyam S.Bhati (2012), kỹ năng thuyết trình được  
đánh giá dựa trên nội dung, cấu trúc bài thuyết trình, việc sử dụng các phương tiện  
hỗ trợ, thời gian, cách truyền đạt (giọng nói, cử chỉ, giao tiếp mắt), phối hợp nhóm,  
kiểm soát tình huống. Với Freeman và Lewis (1998), đánh giá kỹ năng thuyết trình  
của sinh viên có thể dựa trên 2 nhóm tiêu chí chính: nội dung và trình bày. Kovač và  
Sirković (2012) thì cho rằng ý tưởng, cấu trúc và trả lời câu hỏi được coi là “nội  
dung”. Còn với phần “trình bày”, Pearce và Lee (2009) cho rằng sự tự tin, cô đọng,  
sự phản hồi với người nghe, giao tiếp, ngôn ngữ cơ thể là những yếu tố cần được  
quan tâm.  
Đánh giá thuyết trình thông qua ngôn ngữ  
Sử dụng hiệu quả ngôn ngữ là chìa khóa quan trọng trong kỹ năng thuyết trình  
(Gelula, 1997; Cheng và Warren, 2005). Nghiên cứu của Christ (1994) cho rằng  
những người có vốn từ phong phú luôn được đánh giá cao trong các phần thuyết  
trình. Việc sở hữu vốn từ phong phú giúp người thuyết trình dễ dàng thể hiện ý nghĩ,  
dễ dàng thuyết phục người nghe. Người có vốn từ phong phú cũng dễ dàng trong  
việc kiểm soát cách trình bày, kiểm soát lời nói của mình. Cùng việc đồng tình với  
Christ khi cho rằng vốn từ là quan trọng, Luoma (2004) và Cheng, Warren (2005)  
còn cho rằng ngữ pháp cũng là tiêu chí đánh giá kỹ năng thuyết trình. Ngữ pháp tốt  
giúp người thuyết trình truyền tải các suy nghĩ thành những cụm từ, câu có ý nghĩa  
(Fender, 2001, Luoma, 2004). Ngoài ra, giọng nói cũng là một tiêu chí đánh giá kỹ  
năng thuyết trình (Hincks, 2005; Pickering, 2004). Hincks (2005) nói thêm, một  
giọng nói đều đều, không có điểm nhấn sẽ ảnh hưởng đến chất lượng thuyết trình.  
Không chỉ vậy, kỹ năng thuyết trình cần được đánh giá dựa trên việc tổ chức  
nội dung thuyết trình, trong đó việc sử dụng từ ngữ/cụm từ hay cách diễn đạt đóng  
vai trò quan trọng (Hansen, 1994; Bloomfield và cộng sự, 2011). Các nội dung thuyết  
trình được sắp xếp cẩn thận, rõ ràng và có chuyển tiếp giữa các đoạn cũng sẽ làm bài  
thuyết trình thuyết phục hơn (Brindley và Slatyer, 2002). Đồng thuận với quan điểm  
này, Hansen và Jensen(1994) và Aryadoust (2013), cho rằng các mốc chuyển tiếp rất  
quan trọng trong việc thể hiện logic bài thuyết trình cũng như sự tiếp nối giữa các  
đoạn, phần. Thiếu những mốc chuyển này, bài thuyết trình sẽ thiếu đi sự dẫn dắt đối  
với người nghe (Chiang & Dunkel, 1992; Goh, 2002). Bởi trong nhiều trường hợp,  
người nghe có thể không nhận ra sự tách biệt giữa các phần, nội dung, dẫn tới việc  
hiểu nhầm hoặc không hiểu ý của người thuyết trình (Chiang & Dunkel, 1992).  
Đánh giá thuyết trình thông qua phi ngôn ngữ  
Thuyết trình sử dụng phi ngôn ngữ được thể hiện thông qua ngôn ngữ cơ thể  
(Ekman & Friesen, 2003; Padula, 2009), vẻ bề ngoài (Berkun, 2010), giao tiếp mắt  
325  
với người nghe hay quản lý thời gian (Palmer, 2011). Thông qua phi ngôn ngữ của  
người trình bày, người nghe có thể nhận thức, ghi nhận và lĩnh hội các nội dung. Phi  
ngôn ngữ cần được lồng ghép phù hợp với bài thuyết trình để minh họa, dẫn chứng  
cho các nội dung trình bày (Comfort và Utley, 1996). Nói đến phi ngôn ngữ trong  
thuyết trình, Padula (2009) cho rằng biểu lộ gương mặt và giao tiếp bằng mắt là  
những tiêu chí rất quan trọng để kết nối giữa người trình bày và người nghe.  
Sweeney (1997) cũng nhấn mạnh, giao tiếp bằng mắt không có nghĩa là nhìn chằm  
chằm vào người nghe. Ngoài ra, tác giả Berkun (2010) cũng cho rằng vẻ bề ngoài,  
trang phục và quản lý thời gian trong thuyết trình cũng là những tiêu chí cần được sử  
dụng để đánh giá kỹ năng thuyết trình.  
Đánh giá thuyết trình thông qua sử dụng công cụ hỗ trợ  
Một số nhà nghiên cứu cho rằng, kích thích thị giác trong thuyết trình có thể  
được xếp vào nhóm giao tiếp phi ngôn ngữ (Ginther, 2002; Marcovitz, 2004; Berkun,  
2010). Một số khác lại không cho rằng như vậy. Nhưng dù thế nào, việc sử dụng các  
công cụ hỗ trợ trong thuyết trình để kích thích thị giác sẽ giúp người nghe ghi nhớ  
hơn nội dung bài thuyết trình (Ginther, 2002). Bên cạnh đó, Schmidt-Weigand,  
Kohnert và Glowalla (2010a, 2010b) bổ sung rằng, để bài thuyết trình thu hút hơn,  
người thuyết trình cần kích thích cả thị giác và thính giác. Điều đó có nghĩa, trong  
thuyết trình cần có sự phối hợp cả hình ảnh và âm thanh. Tuy vậy, cần lưu ý rằng  
việc sử dụng kết hợp hình ảnh và âm thanh cần đảm bảo người nghe không bị phân  
tâm mà bỏ lỡ các nội dung quan trọng (Tabbers, Martens và Van Merriënboer, 2004;  
Ayers và Sweller, 2005). Do vậy, một trong những nội dung đánh giá kỹ năng thuyết  
trình là việc sử dụng các công cụ hỗ trợ để kích thích thị giác và thính giác có phù  
hợp hay không. Một trong số các công cụ hỗ trợ thuyết trình phổ biến nhất là được sử  
dụng trong thuyết trình là phần mềm PowerPoint. Mặc dù vẫn còn nhiều tranh luận  
xoay quanh các lợi ích, bất lợi của phần mềm này nhưng PowerPoint vẫn nổi lên như  
một công cụ hỗ trợ tích cực cho người thuyết trình trong việc thu hút sự quan tâm của  
người nghe, giúp diễn giải nội dung một cách rõ ràng (Mayer và Johnson, 2008). Tuy  
vậy, cũng có ý kiến cho rằng PowerPoint hạn chế sự tương tác của người thuyết trình  
và người nghe (Kalyuga, 2011; Kirschner, Kester, & Corbalan, 2011; Mayer, 2009).  
Từ những nghiên cứu được thực hiện liên quan đến tiêu chí tiêu chí cần  
được sử dụng trong đánh giá thuyết trình, tác giả đưa ra tổng hợp trong Bảng 1  
dưới đây.  
326  
3. Kết luận  
Có không ít các nghiên cứu được thực hiện về các tiêu chí đánh giá kỹ năng  
thuyết trình của sinh viên. Điều đó khẳng định tầm quan trọng của kỹ năng thuyết  
trình trong đào tạo và thực tiễn doanh nghiệp. Từ những nghiên cứu trên, có thể thấy  
kỹ năng thuyết trình cần được đánh giá trên những tiêu chí chính như ngôn ngữ, phi  
ngôn ngữ hay việc sử dụng các công cụ hỗ trợ. Với mục đích tổng hợp các tiêu chí  
đánh giá kỹ năng thuyết trình đã được nghiên cứu, bài viết mong muốn cung cấp tiền  
đề để đánh giá chính xác hơn kỹ năng này của sinh viên.  
327  
Bảng 1. Tổng hợp các tiêu chí sử dụng trong đánh giá kỹ năng thuyết trình của sinh viên  
Vai trò của kỹ năng thuyết trình  
Đối với đào tạo  
X
X
X
Đối với doanh nghiệp  
Đánh giá kỹ năng thuyết  
trình qua ngôn ngữ  
Nội dung, cấu trúc thuyết  
trình  
X
X
X
X
Vốn từ  
Ngữ pháp  
X
X
X
X
X
X
Âm lượng giọng nói  
Nhịp độ giọng nói  
Cách diễn đạt, chuyển đoạn  
Đánh giá kỹ năng thuyết  
trình qua phi ngôn ngữ  
Ngôn ngữ cơ thể  
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
Ý tưởng  
X
Vẻ bề ngoài  
Giao tiếp bằng mắt  
Nét mặt  
Quản lý thời gian  
Đánh giá kỹ năng thuyết  
trình qua việc sử dụng  
công cụ hỗ trợ  
X
X
X
X
X
X
X
X
X
Hỗ trợ hình ảnh  
X
X
Hỗ trợ âm thanh  
Khôngphụthuộc vào ghichú  
Sử dụng PowerPoint  
X
X
X
** Ghi chú: Dấu (X) thể hiện các tiêu chí mà tác giả đề cập trong đánh giá kỹ năng thuyết trình  
Nguồn: Tác giả tổng hợp  
328  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1
2
Behnke, R. R., & Sawyer, C. R. (2000). Anticipatory anxiety patterns for male and  
female public speakers. Communication Education, 49, 187–195.  
Bloomfield, A., Wayland, S. C., Rhoades, E., Blodgett, A., Linck, J., & Ross, S.  
(2011). What makes listening difficult? Factors affecting second language  
listening comprehension. College Park: The University of Maryland Center for  
Advanced Study of Language.  
3
4
5
6
7
Brindley, G., & Slatyer, H. (2002). Exploring task difficulty in ESL listening  
assessment. Language Testing, 19, 369–394.  
Brown, H. (2000). Personality Factors. Principles of Language Learning and  
Teaching. New York: Pearson education.  
Cheng, W., & Warren, M. (2005). Peer assessment of language proficiency.  
Language Testing, 22, 93–121.  
Christ, W. G. (Ed.). (1994). Assessing communication education: A handbook for  
media, speech, and theatre educators. Hillsdale, NJ: Erlbaum.  
De Grez, L., Valcke, M., & Roozen, I. (2009). The impact of an innovative  
instructional intervention on the acquisition of oral presentation skills in higher  
education. Computers & Education, 53, 112–120.  
8
9
Hincks, R. (2005). Measures and perceptions of liveliness in student oral  
presentation speech: A proposal for an automatic feedback mechanism. System,  
33, 575–591.  
Kirschner, F., Kester, L., & Corbalan, G. (2011). Cognitive load theory and  
Multimedia learning, task characteristics and learning engagement: The current state  
of the art. Computers in Human Behavior, 27(1), 1-4. doi:10.1016/j. chb.2010.05.003  
10 Luoma, S. (2004). Assessing speaking. Cambridge, UK: Cambridge University  
Press.  
11 Shyam S.Bhati (2012). The effectiveness of oral presentation assessment in a  
Finance subject: An empirical examination, Journal of University Teaching &  
Learning Practice.  
12 Quynh Hoa (2009), Graduates need more ‘soft skills’, truy cập ngày 1 tháng 9 năm  
2017, từ  
13 Nguyễn Đông Triều (2015), Kỹ năng thuyết trình, truy cập ngày 3 tháng 9 năm  
2017, từ  
http://viendoanhtri.vhu.edu.vn/Resources/Docs/SubDomain/viendoanhtri/KN  
%20THUYET%20TRINH.pdf  
330  
pdf 7 trang yennguyen 18800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kỹ năng thuyết trình của sinh viên – Đâu là tiền đề?", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ky_nang_thuyet_trinh_cua_sinh_vien_dau_la_tien_de.pdf